Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
aa

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

Phấn đấu lãi 350 tỷ đồng, doanh thu bảo hiểm tăng hai chữ số

Ngày 25/6 tại Hà Nội, Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp (ABIC - mã Ck: ABI) tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 và thông qua nhiều tờ trình quan trọng.

Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 ABIC
Đoàn chủ tịch điều hành Đại hội đồng cổ đông Bảo hiểm ABIC. Ảnh tư liệu.

Trên cơ sở những kết quả đã đạt được, Đại hội đồng cổ đông đã thông qua các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh năm 2026 với mục tiêu tăng trưởng tích cực.

Theo đó, năm 2026, ABIC đặt mục tiêu doanh thu kinh doanh bảo hiểm 3.100 tỷ đồng; tăng 11%; doanh thu đầu tư tài chính 180 tỷ đồng, tăng 17,4%. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) tối thiểu 15%; cổ tức tối thiểu 15%. Lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng, tăng 9,8% cùng kỳ.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Tại Đại hội, ông Đỗ Minh Hoàng - Thành viên Hội đồng quản trị ABIC khẳng định, công ty đã hoàn thành toàn bộ các chỉ tiêu kinh doanh năm 2025. Doanh nghiệp tiếp tục giữ vững vị thế dẫn đầu thị trường bảo hiểm khu vực “tam nông”: nông nghiệp, nông dân và nông thôn.

Năm 2025, kênh phân phối bancassurance do Agribank trực tiếp bán bảo hiểm đóng góp gần 70% tổng doanh thu của ABIC. Nếu tính cả phần doanh thu từ các hợp đồng mà Agribank là bên mua bảo hiểm, tỷ trọng đóng góp của Agribank vào kết quả kinh doanh của ABIC lên tới 90%. Điều này cho thấy vai trò trụ cột của Agribank và mô hình liên kết chuỗi chặt chẽ.

Dù vậy, trong giai đoạn 2021 - 2025 có ba mục tiêu chưa hoàn thành đúng tiến độ và được chuyển tiếp sang giai đoạn sau.

Trong đó, chỉ tiêu doanh thu chưa đạt kỳ vọng do chịu tác động của thiên tai, dịch bệnh, xung đột địa chính trị và biến động kinh tế. Tuy nhiên, sau khi Đại hội đồng cổ đông điều chỉnh kế hoạch, ABIC vẫn hoàn thành mục tiêu theo kế hoạch đã điều chỉnh.

Bên cạnh đó, hai nhiệm vụ nâng cấp mô hình hoạt động lên Tổng công ty và niêm yết cổ phiếu ABI trên sàn giao dịch chính thức sẽ tiếp tục triển khai trong giai đoạn 2026 - 2030.

Lãnh đạo ABIC nhiều lần khẳng định, năm 2026 là năm đặc biệt quan trọng, là năm bản lề mở ra giai đoạn phát triển 5 năm tiếp theo. Doanh nghiệp đặt mục tiêu tăng trưởng kinh doanh ở mức hai con số, duy trì đà tăng lợi nhuận và bảo đảm tỷ suất sinh lời.

Tuy nhiên, theo lãnh đạo ABIC, kinh doanh bảo hiểm có đặc thù là "chu trình sản xuất kinh doanh ngược”, khi giá bán được xác định trước, còn giá vốn chỉ được xác định sau. Vì vậy, nếu doanh thu tăng cao, nhưng không kiểm soát tốt giá vốn và chi phí, lợi nhuận có thể sụt giảm, thậm chí thua lỗ. Điều này đòi hỏi bộ máy điều hành phải linh hoạt, chủ động; đồng thời, cần có sự phân quyền mạnh mẽ hơn từ Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị để nâng cao hiệu quả điều hành.

Tại Đại hội, cổ đông tập trung chất vấn về chiến lược tăng trưởng và định hướng phát triển của ABIC về mục tiêu mở rộng doanh thu, thị phần, phát triển kênh bancassurance, sản phẩm mới và khai thác sâu hơn hệ sinh thái Agribank.

Nhiều ý kiến cũng quan tâm đến mục tiêu nâng tỷ lệ dư nợ Agribank được bảo hiểm từ 15% lên trên 41,4% vào năm 2030, kế hoạch triển khai bảo hiểm tử kỳ dưới 1 năm, giải pháp nâng cao chất lượng tư vấn và minh bạch hoạt động bancassurance. Cổ đông đồng thời đề nghị làm rõ chính sách cổ tức, lộ trình niêm yết cổ phiếu ABI và các giải pháp kiểm soát tỷ lệ bồi thường, tỷ lệ kết hợp trước áp lực thiên tai, biến đổi khí hậu và cạnh tranh về giá.

Nhiều khả năng chia cổ tức bằng tiền mặt, hé lộ kế hoạch phát hành riêng lẻ

Giải đáp các ý kiến của cổ đông về kế hoạch kinh doanh năm 2026, ông Đỗ Minh Hoàng - Thành viên Hội đồng quản trị ABIC nêu rõ, thứ nhất, củng cố và phát triển mạnh kênh phân phối bán lẻ, đặc biệt là kênh bancassurance qua Agribank là chủ đạo. Kênh này đến tận các thôn, xóm, bản, làng, để phân phối sản phẩm cho các hộ nông dân và khách hàng vay vốn tín chấp.

Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 ABIC
Cổ đông ABIC biểu quyết thông qua các nội dung tại Đại hội. Ảnh tư liệu.

Cùng với đó, đa dạng hóa các gói sản phẩm, các chương trình bảo hiểm, xoay quanh động lực là “Bảo an tín dụng”, kết hợp bảo hiểm bảo vệ sức khỏe, tính mạng người vay vốn, hạ tầng, tài sản bảo đảm và tài sản hình thành trong tương lai từ vốn vay.

“Bảo hiểm xuất hiện với vai trò là công cụ quản trị rủi ro, đảm bảo cho chuỗi cung ứng tín dụng không bị đứt gãy và để cho người nông dân được an tâm đầu tư sản xuất trước các hiểm họa của thiên tai như Yagi, các cơn bão trùng bão” - ông Hoàng nhấn mạnh.

Giữ lại lợi nhuận để phòng “mùa giáp hạt”

Trước đề xuất nâng tỷ lệ chia cổ tức và băn khoăn về việc giữ lại hơn 136 tỷ đồng lợi nhuận, ông Đỗ Minh Hoàng - Thành viên Hội đồng quản trị ABIC cho biết nếu năm sau xảy ra thiên tai, bão bùng như bão Yagi thì doanh nghiệp sẽ cần nguồn lực tài chính để ứng phó. Vì vậy, khoản lợi nhuận hơn 136 tỷ đồng được giữ lại nhằm đề phòng “mùa giáp hạt”, bảo đảm an toàn tài chính và chi trả cho cổ đông.

Vấn đề chi trả cổ tức cũng được nhiều cổ đông quan tâm chất vấn ban điều hành tại Đại hội. Về phương án chia cổ tức, ABIC dự kiến trả cổ tức tỷ lệ 15%, ưu tiên hình thức chi trả bằng cổ phiếu trong trường hợp đáp ứng được quy định của pháp luật; trường hợp không đáp ứng quy định của pháp luật, thì chi trả bằng tiền mặt, tương ứng hơn 152 tỷ đồng.

Về vấn đề này, ông Đỗ Minh Hoàng cho biết, theo Luật Kinh doanh bảo hiểm, doanh nghiệp muốn tăng vốn phải có tối thiểu hai cổ đông tổ chức sở hữu trên 10% vốn điều lệ và sử dụng vốn tự có, không phải vốn ủy thác. Hiện ABIC mới có một cổ đông đáp ứng điều kiện là Agribank, do đó, cần sớm hoàn thiện cơ cấu cổ đông trước khi có thể thực hiện tăng vốn.

Vì chưa kịp tìm được cổ đông tổ chức thứ hai đáp ứng quy định, khả năng rất cao trong năm nay doanh nghiệp sẽ chi trả cổ tức bằng tiền mặt.

Theo phương án được thông qua, Hội đồng quản trị ABIC được Đại hội đồng cổ đông ủy quyền chủ động quyết định thời điểm và phương thức chi trả phù hợp nhất, trên cơ sở bảo đảm tối đa quyền lợi của cổ đông.

Để đáp ứng các điều kiện pháp lý phục vụ kế hoạch tăng vốn trong thời gian tới, ông Nguyễn Hồng Thái - Tổng Giám đốc ABIC bật mí thêm, công ty dự kiến phát hành riêng lẻ cổ phiếu cho một cổ đông lớn, nhằm đáp ứng quy định pháp luật. Việc phát hành sẽ được thực hiện theo giá thị trường và gắn với thỏa thuận hợp tác giữa hai bên.

Tính đến cuối năm 2025, cơ cấu cổ đông của ABIC gồm Agribank nắm giữ 52,08% vốn điều lệ, Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE) sở hữu 8,55% và Quỹ AFC Vietnam Fund nắm giữ 6,69%. Như vậy, ABIC hiện mới chỉ có 1 cổ đông tổ chức đáp ứng điều kiện sở hữu từ 10% vốn điều lệ trở lên theo quy định.

Còn việc niêm yết cổ phiếu ABI trên sàn chính thức chưa thể thực hiện do doanh nghiệp vẫn còn thiếu điều kiện tiên quyết là thành viên Hội đồng quản trị độc lập./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17605 17878 18457
CAD 17946 18221 18839
CHF 31737 32118 32766
CNY 0 3830 3923
EUR 29226 29446 30527
GBP 33851 34241 35178
HKD 0 3226 3428
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14531 15118
SGD 19743 20025 20594
THB 704 767 820
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26456
AUD 17812 17912 18837
CAD 18140 18240 19255
CHF 32047 32077 33651
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29460 29490 31213
GBP 34208 34258 36013
HKD 0 3355 0
JPY 159.14 159.64 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14662 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19916 20046 20774
THB 0 733.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80