Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, từ năm 2022 đến nay, đã có 3.280 hộ nông dân và tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm nông nghiệp, với tổng phí bảo hiểm 2,38 tỷ đồng, phần lớn do ngân sách nhà nước hỗ trợ. Việc lấy ý kiến sửa đổi Nghị định 58/2018/NĐ-CP được kỳ vọng nâng hiệu quả chính sách và nhân rộng việc triển khai.
aa
Bảo hiểm nông nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Đề xuất nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp “Miếng bánh” bảo hiểm phi nhân thọ lớn dần, cuộc đua giành thị phần thêm gay gắt

Hơn 3.000 hộ nông dân, tổ chức tham gia, tăng chống chịu rủi ro

Ngày 9/3, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) tổ chức Hội thảo lấy ý kiến về hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp (Nghị định 58).

Phát biểu tại hội thảo, ông Phạm Văn Đức - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, theo chương trình công tác của Chính phủ, Bộ Tài chính đã xây dựng hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58 và lấy ý kiến rộng rãi các bộ, ngành có liên quan, ủy ban nhân dân 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đối tượng chịu tác động... và đề nghị gửi ý kiến về Bộ Tài chính trước ngày 6/3.

Trên cơ sở ý kiến của các bên liên quan, Bộ Tài chính sẽ tổng hợp, hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị định trước khi gửi Bộ Tư pháp để lấy ý kiến thẩm định và trình Chính phủ ban hành.

Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro
Hội thảo lấy ý kiến về hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP. Ảnh: Ánh Tuyết.
Số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cũng cho thấy, việc triển khai Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg giai đoạn từ năm 2022 đến nay cũng ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Theo đó, tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm đạt 3.280; trong đó, có 3.267 hộ nghèo và 13 hộ thường. Tổng giá trị bảo hiểm: 65 tỷ đồng; tổng phí bảo hiểm: 2,38 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 2,14 tỷ đồng.

Đánh giá kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp thời gian qua, ông Bùi Thanh Hải - Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Quản lý, giám sát bảo hiểm phi nhân thọ cho rằng, chính sách bước đầu tạo lập được khuôn khổ pháp lý dài hạn, minh bạch với những quy định đặc thù cho hoạt động bảo hiểm nông nghiệp và hoạt động sản xuất nông nghiệp.

"Trên cơ sở đó, xây dựng được cơ chế bảo vệ tài chính chủ động cho người nông dân trước các rủi ro về thiên tai, dịch bệnh trong hoạt động sản xuất nông nghiệp" - ông Hải nhấn mạnh.

Các địa phương thuộc địa bàn được hỗ trợ ngày càng mở rộng, từ 22 tỉnh theo Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg lên 42 tỉnh theo Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg; cũng như tăng số lượng đối tượng được hỗ trợ.

Triển khai bảo hiểm nông nghiệp của các doanh nghiệp cũng góp phần tăng cường việc triển khai áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.

"Doanh nghiệp bảo hiểm đã xây dựng, phát triển được các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp cho cây trồng, vật nuôi và thủy sản, bảo đảm tuân thủ pháp luật, trên cơ sở cân nhắc với khả năng chi trả của nông dân và khả năng cân đối ngân sách nhà nước" - ông Hải nêu rõ.

Mô hình mới, nhiều rào cản khi triển khai

Đánh giá sơ lược về kết quả triển khai thí điểm sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp tại 4 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thông qua dự án do Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) thực hiện, TS. Hoàng Mỹ Lan cho biết, GIZ đã hợp tác với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang và Sóc Trăng; đồng thời, hợp tác với Bảo hiểm Quân đội MIC, PVI, ABIC và MSIG, để đồng hành đưa các sản phẩm bảo hiểm đến người nông dân.

Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro
Kết quả chi trả bảo hiểm nông nghiệp theo báo cáo của GIZ. Nguồn: GIZ.

Theo bà Lan, sản phẩm bảo hiểm có hai loại sản phẩm chính. Theo đó, ABIC triển khai sản phẩm thiệt hại cây lúa; các rủi ro được bảo hiểm bao gồm: mưa lớn, lũ lụt, sạt lở đất... Đồng thời, số tiền bảo hiểm được bảo hiểm khá lớn 15 - 25 triệu đồng, phí bảo hiểm linh hoạt theo nhóm rủi ro người nông dân họ lựa chọn. Việc tổn thất bồi thường theo thiệt hại, tỷ lệ diện tích thiệt hại. Đây sản phẩm khác biệt so với ba công ty bảo hiểm còn lại.

Còn MIC, MSIG và PVI triển khai sản phẩm bảo hiểm chỉ số thời tiết, chủ yếu tập trung vào bảo hiểm thừa mưa, hạn hán. Đáng chú ý, theo TS. Hoàng Mỹ Lan, đặc tính của sản phẩm này người nông dân không cần phải chứng minh thiệt hại, tiến hành việc chi trả tự động. Theo đó, số liệu về lượng mưa này do một bên thứ ba cung cấp độc lập.

Tuy nhiên, theo bà Lan, mỗi sản phẩm doanh nghiệp thiết kế về ngưỡng kích hoạt rất khác nhau như: lượng mưa trong 5 ngày, 7 ngày hay cả tháng... tỷ lệ bồi thường khác nhau.

Qua tổng kết, đánh giá triển khai Nghị định 58, Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm Phạm Văn Đức cho rằng, kết quả thực hiện Nghị định 58 vẫn còn các khó khăn, vướng mắc xuất phát từ nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan.

Về mặt khách quan, bảo hiểm nông nghiệp là nghiệp vụ bảo hiểm phức tạp, rủi ro cao xuất phát từ thực tế biến động khó lường của thiên tai, dịch bệnh. Đây là thực tế không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với tất cả các nước trên thế giới.

"Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, việc triển khai đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm phải có năng lực tài chính lớn, đội ngũ cán bộ có năng lực, kinh nghiệm và mạng lưới phân phối sản phẩm đủ rộng, đảm bảo khả năng tiếp cận đến cơ sở: cấp thôn, xóm, hợp tác xã, Do đó, để triển khai được, doanh nghiệp bảo hiểm phải phụ thuộc rất lớn vào sự hỗ trợ về mặt tài chính, kỹ thuật của các nhà tái bảo hiểm quốc tế" - ông Đức nêu rõ.

Tuy nhiên, thực tế gần đây, không có nhiều nhà tái bảo hiểm khai thác bảo hiểm nông nghiệp và rất thận trọng khi xây dựng và định phí bảo hiểm tại Việt Nam.

Trong khi đó, đối với người nông dân, việc nghiên cứu, tìm hiểu và tham gia bảo hiểm nông nghiệp của một số bộ phận người nông dân và thậm chí các tổ chức sản xuất nông nghiệp vẫn còn hạn chế.

Đồng thời, công tác quản trị, đề phòng hạn chế rủi ro của người sản xuất nông nghiệp cá thể, bao gồm việc tuân thủ, đáp ứng chặt chẽ các quy trình, quy chuẩn sản xuất, bảo đảm công tác quản trị rủi ro... vẫn cần phải được tiếp tục cải thiện.

Về mặt chủ quan, theo lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, hình thức hỗ trợ chưa đa dạng, chỉ mới tập trung thiết lập khuôn khổ pháp lý rõ ràng, minh bạch, vào hỗ trợ phí bảo hiểm mà chưa có các hình thức hỗ trợ cho công tác tuyên truyền, tổ chức triển khai.

Đối với địa phương, mặc dù một số địa phương có kinh nghiệm sau giai đoạn thực hiện thí điểm 2011 - 2013, bảo hiểm nông nghiệp về cơ bản vẫn là sản phẩm mới, phức tạp; việc tổ chức thực hiện tại một số địa phương, cơ sở vẫn còn lúng túng./.

Ông Phạm Văn Đức - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nhấn mạnh, các ý kiến của các đại biểu tham dự giúp góp phần xây dựng, hoàn thiện hơn nữa dự thảo Nghị định, bảo đảm các mục tiêu chính của chính sách bảo hiểm nông nghiệp là thúc đẩy triển khai bảo hiểm nông nghiệp theo nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận, không giới hạn tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm và phạm vi địa bàn.

Cùng với đó, chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện phù hợp với khả năng cân đối ngân sách trong từng thời kỳ, thông qua việc hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội và các chương trình mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp của Chính phủ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

MB lãi hơn 20.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 13,2% tiếp sức đà tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng MB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 20.188,3 tỷ đồng sau 6 tháng đầu năm 2026, tăng 27,1% so với cùng kỳ, chủ yếu nhờ thu nhập lãi thuần tăng hơn 32%, bù đắp sự phân hóa của các nguồn thu ngoài lãi. Tín dụng tiếp tục mở rộng 13,2%, đạt 1,256 triệu tỷ đồng, tạo nền tảng giúp MB hoàn thành hơn 51% kế hoạch lợi nhuận cả năm.
Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

Thu nhập hoạt động lập đỉnh gần 10.000 tỷ đồng, SACOMBANK lùi lợi nhuận để gia cố "lá chắn" rủi ro

(TBTCO) - SACOMBANK ghi nhận tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt kỷ lục 9.950 tỷ đồng, tăng 28,1% so với cùng kỳ. Dù vậy, lợi nhuận trước thuế 6 tháng của SACOMBANK đạt 4.136 tỷ đồng, giảm 43,6% do chủ động tăng trích lập dự phòng lên hơn 7.000 tỷ đồng, nhằm củng cố chất lượng tài sản và bộ đệm rủi ro.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 1/8: Thế giới lùi về 4.043 USD/ounce, trong nước giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về 4.043 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giảm nhẹ so với phiên trước, đưa giá vàng miếng xuống mức 137 - 141 triệu đồng/lượng.
Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

Thông báo thay đổi địa điểm đặt trụ sở chi nhánh Thái Bình và Nghệ An của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với các chi nhánh và phòng giao dịch tại tỉnh Hưng Yên và tỉnh Nghệ An.
Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

Thứ trưởng Lê Tấn Cận: Thị trường bảo hiểm Việt Nam cần chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu

(TBTCO) - Trong giai đoạn tới, thị trường bảo hiểm không chỉ cần tập trung mở rộng quy mô, gia tăng doanh thu, mà còn phải chuyển mạnh sang phát triển theo chiều sâu; lấy chất lượng, hiệu quả, tính minh bạch, năng lực quản trị và niềm tin của khách hàng làm nền tảng.
SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

SHB báo lãi hơn 9.000 tỷ đồng nhờ thu ngoài lãi bứt tốc, tổng tài sản tiến sát 1 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - SHB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 9.092 tỷ đồng, tăng 1,6% so với cùng kỳ, động lực tăng trưởng đến từ các nguồn thu ngoài lãi tăng gần gấp 3 lần. SHB tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động gắn với kiểm soát chất lượng tài sản, dư nợ cấp tín dụng SHB đạt 664.280 tỷ đồng, tăng 7,22% so với cuối năm 2025, tỷ lệ nợ xấu duy trì 1,76%.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,000 141,000
Hà Nội - PNJ 136,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 136,000 141,000
Miền Tây - PNJ 136,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 136,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 136,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,700 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 14,100
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,290 13,990
Trang sức 99.99 13,300 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 141
Cập nhật: 02/08/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17929 18203 18788
CAD 18223 18499 19121
CHF 31912 32293 32942
CNY 0 3854 3947
EUR 29680 29902 30985
GBP 34645 35037 35975
HKD 0 3222 3425
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15135 15730
SGD 19962 20244 20827
THB 702 765 819
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26110 26480
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,090 26,110 26,490
EUR 29,718 29,837 31,033
GBP 34,746 34,886 35,919
HKD 3,286 3,299 3,416
CHF 32,030 32,159 33,092
JPY 159.70 160.34 168.30
AUD 18,143 18,216 18,814
SGD 20,143 20,224 20,818
THB 768 771 807
CAD 18,424 18,498 19,082
NZD 15,184 15,731
KRW 17.55 19.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26485
AUD 18139 18239 19164
CAD 18404 18504 19519
CHF 32123 32153 33731
CNY 3833.1 3858.1 3993.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29799 29829 31551
GBP 34853 34903 36664
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15242 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20106 20236 20962
THB 0 732 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13790000 13790000 14190000
SBJ 12500000 12500000 14190000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,500
USD20 26,063 26,163 26,500
USD1 24,072 26,163 26,604
AUD 18,187 18,287 19,395
EUR 29,602 29,702 31,360
CAD 18,353 18,453 19,757
SGD 20,190 20,340 20,894
JPY 161.46 162.96 168.52
GBP 34,766 34,916 35,978
XAU 13,788,000 0 14,192,000
CNY 0 3,743 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/08/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80