Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro

(TBTCO) - Thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, từ năm 2022 đến nay, đã có 3.280 hộ nông dân và tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm nông nghiệp, với tổng phí bảo hiểm 2,38 tỷ đồng, phần lớn do ngân sách nhà nước hỗ trợ. Việc lấy ý kiến sửa đổi Nghị định 58/2018/NĐ-CP được kỳ vọng nâng hiệu quả chính sách và nhân rộng việc triển khai.
aa
Bảo hiểm nông nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Đề xuất nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp “Miếng bánh” bảo hiểm phi nhân thọ lớn dần, cuộc đua giành thị phần thêm gay gắt

Hơn 3.000 hộ nông dân, tổ chức tham gia, tăng chống chịu rủi ro

Ngày 9/3, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) tổ chức Hội thảo lấy ý kiến về hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp (Nghị định 58).

Phát biểu tại hội thảo, ông Phạm Văn Đức - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, theo chương trình công tác của Chính phủ, Bộ Tài chính đã xây dựng hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58 và lấy ý kiến rộng rãi các bộ, ngành có liên quan, ủy ban nhân dân 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đối tượng chịu tác động... và đề nghị gửi ý kiến về Bộ Tài chính trước ngày 6/3.

Trên cơ sở ý kiến của các bên liên quan, Bộ Tài chính sẽ tổng hợp, hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị định trước khi gửi Bộ Tư pháp để lấy ý kiến thẩm định và trình Chính phủ ban hành.

Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro
Hội thảo lấy ý kiến về hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP. Ảnh: Ánh Tuyết.
Số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cũng cho thấy, việc triển khai Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg giai đoạn từ năm 2022 đến nay cũng ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Theo đó, tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm đạt 3.280; trong đó, có 3.267 hộ nghèo và 13 hộ thường. Tổng giá trị bảo hiểm: 65 tỷ đồng; tổng phí bảo hiểm: 2,38 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 2,14 tỷ đồng.

Đánh giá kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp thời gian qua, ông Bùi Thanh Hải - Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Quản lý, giám sát bảo hiểm phi nhân thọ cho rằng, chính sách bước đầu tạo lập được khuôn khổ pháp lý dài hạn, minh bạch với những quy định đặc thù cho hoạt động bảo hiểm nông nghiệp và hoạt động sản xuất nông nghiệp.

"Trên cơ sở đó, xây dựng được cơ chế bảo vệ tài chính chủ động cho người nông dân trước các rủi ro về thiên tai, dịch bệnh trong hoạt động sản xuất nông nghiệp" - ông Hải nhấn mạnh.

Các địa phương thuộc địa bàn được hỗ trợ ngày càng mở rộng, từ 22 tỉnh theo Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg lên 42 tỉnh theo Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg; cũng như tăng số lượng đối tượng được hỗ trợ.

Triển khai bảo hiểm nông nghiệp của các doanh nghiệp cũng góp phần tăng cường việc triển khai áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.

"Doanh nghiệp bảo hiểm đã xây dựng, phát triển được các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp cho cây trồng, vật nuôi và thủy sản, bảo đảm tuân thủ pháp luật, trên cơ sở cân nhắc với khả năng chi trả của nông dân và khả năng cân đối ngân sách nhà nước" - ông Hải nêu rõ.

Mô hình mới, nhiều rào cản khi triển khai

Đánh giá sơ lược về kết quả triển khai thí điểm sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp tại 4 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thông qua dự án do Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) thực hiện, TS. Hoàng Mỹ Lan cho biết, GIZ đã hợp tác với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang và Sóc Trăng; đồng thời, hợp tác với Bảo hiểm Quân đội MIC, PVI, ABIC và MSIG, để đồng hành đưa các sản phẩm bảo hiểm đến người nông dân.

Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro
Kết quả chi trả bảo hiểm nông nghiệp theo báo cáo của GIZ. Nguồn: GIZ.

Theo bà Lan, sản phẩm bảo hiểm có hai loại sản phẩm chính. Theo đó, ABIC triển khai sản phẩm thiệt hại cây lúa; các rủi ro được bảo hiểm bao gồm: mưa lớn, lũ lụt, sạt lở đất... Đồng thời, số tiền bảo hiểm được bảo hiểm khá lớn 15 - 25 triệu đồng, phí bảo hiểm linh hoạt theo nhóm rủi ro người nông dân họ lựa chọn. Việc tổn thất bồi thường theo thiệt hại, tỷ lệ diện tích thiệt hại. Đây sản phẩm khác biệt so với ba công ty bảo hiểm còn lại.

Còn MIC, MSIG và PVI triển khai sản phẩm bảo hiểm chỉ số thời tiết, chủ yếu tập trung vào bảo hiểm thừa mưa, hạn hán. Đáng chú ý, theo TS. Hoàng Mỹ Lan, đặc tính của sản phẩm này người nông dân không cần phải chứng minh thiệt hại, tiến hành việc chi trả tự động. Theo đó, số liệu về lượng mưa này do một bên thứ ba cung cấp độc lập.

Tuy nhiên, theo bà Lan, mỗi sản phẩm doanh nghiệp thiết kế về ngưỡng kích hoạt rất khác nhau như: lượng mưa trong 5 ngày, 7 ngày hay cả tháng... tỷ lệ bồi thường khác nhau.

Qua tổng kết, đánh giá triển khai Nghị định 58, Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm Phạm Văn Đức cho rằng, kết quả thực hiện Nghị định 58 vẫn còn các khó khăn, vướng mắc xuất phát từ nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan.

Về mặt khách quan, bảo hiểm nông nghiệp là nghiệp vụ bảo hiểm phức tạp, rủi ro cao xuất phát từ thực tế biến động khó lường của thiên tai, dịch bệnh. Đây là thực tế không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với tất cả các nước trên thế giới.

"Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, việc triển khai đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm phải có năng lực tài chính lớn, đội ngũ cán bộ có năng lực, kinh nghiệm và mạng lưới phân phối sản phẩm đủ rộng, đảm bảo khả năng tiếp cận đến cơ sở: cấp thôn, xóm, hợp tác xã, Do đó, để triển khai được, doanh nghiệp bảo hiểm phải phụ thuộc rất lớn vào sự hỗ trợ về mặt tài chính, kỹ thuật của các nhà tái bảo hiểm quốc tế" - ông Đức nêu rõ.

Tuy nhiên, thực tế gần đây, không có nhiều nhà tái bảo hiểm khai thác bảo hiểm nông nghiệp và rất thận trọng khi xây dựng và định phí bảo hiểm tại Việt Nam.

Trong khi đó, đối với người nông dân, việc nghiên cứu, tìm hiểu và tham gia bảo hiểm nông nghiệp của một số bộ phận người nông dân và thậm chí các tổ chức sản xuất nông nghiệp vẫn còn hạn chế.

Đồng thời, công tác quản trị, đề phòng hạn chế rủi ro của người sản xuất nông nghiệp cá thể, bao gồm việc tuân thủ, đáp ứng chặt chẽ các quy trình, quy chuẩn sản xuất, bảo đảm công tác quản trị rủi ro... vẫn cần phải được tiếp tục cải thiện.

Về mặt chủ quan, theo lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, hình thức hỗ trợ chưa đa dạng, chỉ mới tập trung thiết lập khuôn khổ pháp lý rõ ràng, minh bạch, vào hỗ trợ phí bảo hiểm mà chưa có các hình thức hỗ trợ cho công tác tuyên truyền, tổ chức triển khai.

Đối với địa phương, mặc dù một số địa phương có kinh nghiệm sau giai đoạn thực hiện thí điểm 2011 - 2013, bảo hiểm nông nghiệp về cơ bản vẫn là sản phẩm mới, phức tạp; việc tổ chức thực hiện tại một số địa phương, cơ sở vẫn còn lúng túng./.

Ông Phạm Văn Đức - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nhấn mạnh, các ý kiến của các đại biểu tham dự giúp góp phần xây dựng, hoàn thiện hơn nữa dự thảo Nghị định, bảo đảm các mục tiêu chính của chính sách bảo hiểm nông nghiệp là thúc đẩy triển khai bảo hiểm nông nghiệp theo nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận, không giới hạn tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm và phạm vi địa bàn.

Cùng với đó, chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện phù hợp với khả năng cân đối ngân sách trong từng thời kỳ, thông qua việc hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội và các chương trình mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp của Chính phủ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, ngân hàng MB báo lãi trước thuế đạt 30.518,4 tỷ đồng, tăng 31,9% cùng kỳ, với động lực từ thu nhập lãi thuần. Đáng chú ý, thu nhập lãi và các khoản tương tự lần đầu vượt 100.000 tỷ đồng, cao hơn cả năm 2025, trong bối cảnh tổng tín dụng đạt hơn 1,31 triệu tỷ đồng, tăng 18,9% so với đầu năm.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, MSB lãi trước thuế đạt 5.439,8 tỷ đồng, tăng 14,3%, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 21,7%, chi phí dự phòng giảm. Tổng tài sản ngân hàng tiến sát 440.000 tỷ đồng, để tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, MSB đang triển khai kế hoạch chào bán cổ phiếu và lên kế hoạch mở rộng hệ sinh thái tài chính.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 137,600
Hà Nội - PNJ 133,600 137,600
Đà Nẵng - PNJ 133,600 137,600
Miền Tây - PNJ 133,600 137,600
Tây Nguyên - PNJ 133,600 137,600
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 137,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 13,900
Miếng SJC Nghệ An 13,600 13,900
Miếng SJC Thái Bình 13,600 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 13,800
Trang sức 99.9 13,080 13,680
Trang sức 99.99 13,090 13,690
Vàng 99.9 12,550
Vàng 99.99 12,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 13,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 13,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 1,358
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 1,359
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 1,348
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 133,465
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 10,126
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 91,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 82,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 78,746
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 56,367
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cập nhật: 02/11/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17606 17879 18468
CAD 17934 18209 18825
CHF 30632 31008 31646
CNY 0 3835 3931
EUR 28164 28379 29467
GBP 33752 34141 35078
HKD 0 3158 3361
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14212 14810
SGD 19642 19923 20507
THB 680 743 796
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,600 25,600 25,980
USD(1-2-5) 24,576 - -
USD(10-20) 24,576 - -
EUR 28,265 28,288 29,635
JPY 159.23 159.52 169.21
GBP 33,914 34,006 35,181
AUD 17,787 17,851 18,530
CAD 18,105 18,163 18,837
CHF 30,955 31,051 31,974
SGD 19,762 19,823 20,602
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.82 18.58 20.22
THB 729.58 738.59 790.91
NZD 14,209 14,341 14,769
SEK - 2,578 2,670
DKK - 3,792 3,927
NOK - 2,744 2,843
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,942.82 - 6,708.6
TWD 713.71 - 864.77
SAR - 6,753.85 7,115.12
KWD - 81,408 86,635
AED - 6,767 7,292
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,275 28,417 29,646
GBP 33,899 34,069 35,104
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,825 30,980 31,925
JPY 159.11 160.72 168.70
AUD 17,784 17,909 18,507
SGD 19,739 19,918 20,516
THB 734 749 786
CAD 18,077 18,204 18,802
NZD 14,304 14,859
KRW 18.62 20.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25600 26000
AUD 17782 17882 18812
CAD 18132 18232 19245
CHF 31001 31031 32620
CNY 3817.4 3842.4 3977.6
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28447 28477 30200
GBP 34145 34195 35953
HKD 0 3300 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14351 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19820 19950 20671
THB 0 710.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13840000 13840000 14140000
SBJ 12500000 12500000 14140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/11/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30