Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, từ năm 2022 đến nay, đã có 3.280 hộ nông dân và tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm nông nghiệp, với tổng phí bảo hiểm 2,38 tỷ đồng, phần lớn do ngân sách nhà nước hỗ trợ. Việc lấy ý kiến sửa đổi Nghị định 58/2018/NĐ-CP được kỳ vọng nâng hiệu quả chính sách và nhân rộng việc triển khai.
aa
Bảo hiểm nông nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Đề xuất nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp “Miếng bánh” bảo hiểm phi nhân thọ lớn dần, cuộc đua giành thị phần thêm gay gắt

Hơn 3.000 hộ nông dân, tổ chức tham gia, tăng chống chịu rủi ro

Ngày 9/3, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) tổ chức Hội thảo lấy ý kiến về hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp (Nghị định 58).

Phát biểu tại hội thảo, ông Phạm Văn Đức - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, theo chương trình công tác của Chính phủ, Bộ Tài chính đã xây dựng hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58 và lấy ý kiến rộng rãi các bộ, ngành có liên quan, ủy ban nhân dân 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đối tượng chịu tác động... và đề nghị gửi ý kiến về Bộ Tài chính trước ngày 6/3.

Trên cơ sở ý kiến của các bên liên quan, Bộ Tài chính sẽ tổng hợp, hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị định trước khi gửi Bộ Tư pháp để lấy ý kiến thẩm định và trình Chính phủ ban hành.

Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro
Hội thảo lấy ý kiến về hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP. Ảnh: Ánh Tuyết.
Số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cũng cho thấy, việc triển khai Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg giai đoạn từ năm 2022 đến nay cũng ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Theo đó, tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm đạt 3.280; trong đó, có 3.267 hộ nghèo và 13 hộ thường. Tổng giá trị bảo hiểm: 65 tỷ đồng; tổng phí bảo hiểm: 2,38 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 2,14 tỷ đồng.

Đánh giá kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp thời gian qua, ông Bùi Thanh Hải - Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Quản lý, giám sát bảo hiểm phi nhân thọ cho rằng, chính sách bước đầu tạo lập được khuôn khổ pháp lý dài hạn, minh bạch với những quy định đặc thù cho hoạt động bảo hiểm nông nghiệp và hoạt động sản xuất nông nghiệp.

"Trên cơ sở đó, xây dựng được cơ chế bảo vệ tài chính chủ động cho người nông dân trước các rủi ro về thiên tai, dịch bệnh trong hoạt động sản xuất nông nghiệp" - ông Hải nhấn mạnh.

Các địa phương thuộc địa bàn được hỗ trợ ngày càng mở rộng, từ 22 tỉnh theo Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg lên 42 tỉnh theo Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg; cũng như tăng số lượng đối tượng được hỗ trợ.

Triển khai bảo hiểm nông nghiệp của các doanh nghiệp cũng góp phần tăng cường việc triển khai áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.

"Doanh nghiệp bảo hiểm đã xây dựng, phát triển được các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp cho cây trồng, vật nuôi và thủy sản, bảo đảm tuân thủ pháp luật, trên cơ sở cân nhắc với khả năng chi trả của nông dân và khả năng cân đối ngân sách nhà nước" - ông Hải nêu rõ.

Mô hình mới, nhiều rào cản khi triển khai

Đánh giá sơ lược về kết quả triển khai thí điểm sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp tại 4 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thông qua dự án do Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) thực hiện, TS. Hoàng Mỹ Lan cho biết, GIZ đã hợp tác với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang và Sóc Trăng; đồng thời, hợp tác với Bảo hiểm Quân đội MIC, PVI, ABIC và MSIG, để đồng hành đưa các sản phẩm bảo hiểm đến người nông dân.

Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro
Kết quả chi trả bảo hiểm nông nghiệp theo báo cáo của GIZ. Nguồn: GIZ.

Theo bà Lan, sản phẩm bảo hiểm có hai loại sản phẩm chính. Theo đó, ABIC triển khai sản phẩm thiệt hại cây lúa; các rủi ro được bảo hiểm bao gồm: mưa lớn, lũ lụt, sạt lở đất... Đồng thời, số tiền bảo hiểm được bảo hiểm khá lớn 15 - 25 triệu đồng, phí bảo hiểm linh hoạt theo nhóm rủi ro người nông dân họ lựa chọn. Việc tổn thất bồi thường theo thiệt hại, tỷ lệ diện tích thiệt hại. Đây sản phẩm khác biệt so với ba công ty bảo hiểm còn lại.

Còn MIC, MSIG và PVI triển khai sản phẩm bảo hiểm chỉ số thời tiết, chủ yếu tập trung vào bảo hiểm thừa mưa, hạn hán. Đáng chú ý, theo TS. Hoàng Mỹ Lan, đặc tính của sản phẩm này người nông dân không cần phải chứng minh thiệt hại, tiến hành việc chi trả tự động. Theo đó, số liệu về lượng mưa này do một bên thứ ba cung cấp độc lập.

Tuy nhiên, theo bà Lan, mỗi sản phẩm doanh nghiệp thiết kế về ngưỡng kích hoạt rất khác nhau như: lượng mưa trong 5 ngày, 7 ngày hay cả tháng... tỷ lệ bồi thường khác nhau.

Qua tổng kết, đánh giá triển khai Nghị định 58, Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm Phạm Văn Đức cho rằng, kết quả thực hiện Nghị định 58 vẫn còn các khó khăn, vướng mắc xuất phát từ nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan.

Về mặt khách quan, bảo hiểm nông nghiệp là nghiệp vụ bảo hiểm phức tạp, rủi ro cao xuất phát từ thực tế biến động khó lường của thiên tai, dịch bệnh. Đây là thực tế không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với tất cả các nước trên thế giới.

"Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, việc triển khai đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm phải có năng lực tài chính lớn, đội ngũ cán bộ có năng lực, kinh nghiệm và mạng lưới phân phối sản phẩm đủ rộng, đảm bảo khả năng tiếp cận đến cơ sở: cấp thôn, xóm, hợp tác xã, Do đó, để triển khai được, doanh nghiệp bảo hiểm phải phụ thuộc rất lớn vào sự hỗ trợ về mặt tài chính, kỹ thuật của các nhà tái bảo hiểm quốc tế" - ông Đức nêu rõ.

Tuy nhiên, thực tế gần đây, không có nhiều nhà tái bảo hiểm khai thác bảo hiểm nông nghiệp và rất thận trọng khi xây dựng và định phí bảo hiểm tại Việt Nam.

Trong khi đó, đối với người nông dân, việc nghiên cứu, tìm hiểu và tham gia bảo hiểm nông nghiệp của một số bộ phận người nông dân và thậm chí các tổ chức sản xuất nông nghiệp vẫn còn hạn chế.

Đồng thời, công tác quản trị, đề phòng hạn chế rủi ro của người sản xuất nông nghiệp cá thể, bao gồm việc tuân thủ, đáp ứng chặt chẽ các quy trình, quy chuẩn sản xuất, bảo đảm công tác quản trị rủi ro... vẫn cần phải được tiếp tục cải thiện.

Về mặt chủ quan, theo lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, hình thức hỗ trợ chưa đa dạng, chỉ mới tập trung thiết lập khuôn khổ pháp lý rõ ràng, minh bạch, vào hỗ trợ phí bảo hiểm mà chưa có các hình thức hỗ trợ cho công tác tuyên truyền, tổ chức triển khai.

Đối với địa phương, mặc dù một số địa phương có kinh nghiệm sau giai đoạn thực hiện thí điểm 2011 - 2013, bảo hiểm nông nghiệp về cơ bản vẫn là sản phẩm mới, phức tạp; việc tổ chức thực hiện tại một số địa phương, cơ sở vẫn còn lúng túng./.

Ông Phạm Văn Đức - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nhấn mạnh, các ý kiến của các đại biểu tham dự giúp góp phần xây dựng, hoàn thiện hơn nữa dự thảo Nghị định, bảo đảm các mục tiêu chính của chính sách bảo hiểm nông nghiệp là thúc đẩy triển khai bảo hiểm nông nghiệp theo nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận, không giới hạn tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm và phạm vi địa bàn.

Cùng với đó, chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện phù hợp với khả năng cân đối ngân sách trong từng thời kỳ, thông qua việc hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội và các chương trình mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp của Chính phủ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

70% người Việt dự kiến tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu

70% người Việt dự kiến tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu

(TBTCO) - Mặc dù kỳ vọng có cuộc sống ý nghĩa sau khi về hưu đang ngày càng tăng cao, song phần lớn người Việt vẫn thiếu các kế hoạch tài chính sẵn sàng để chuẩn bị cho giai đoạn nghỉ hưu.
Tỷ giá USD hôm nay (16/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.102 đồng, USD mất đà khi căng thẳng dịu đi

Tỷ giá USD hôm nay (16/4): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.102 đồng, USD mất đà khi căng thẳng dịu đi

(TBTCO) - Sáng ngày 16/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.102 VND/USD, trong khi tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động từ 23.847 - 26.357 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY lùi về 98,02 điểm, cho thấy USD suy yếu nhẹ khi dòng tiền dịch chuyển sang tài sản rủi ro nhờ kỳ vọng căng thẳng địa chính trị hạ nhiệt tiếp tục cải thiện tâm lý nhà đầu tư.
Giá vàng hôm nay ngày 16/4: Giá vàng điều chỉnh trái chiều quanh vùng 169 - 173 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 16/4: Giá vàng điều chỉnh trái chiều quanh vùng 169 - 173 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 16/4, giá vàng trong nước điều chỉnh trái chiều tại nhiều doanh nghiệp, dao động quanh vùng 169 - 173 triệu đồng/lượng.
Khối ngân hàng tư nhân tăng tốc về trải nghiệm và hình ảnh

Khối ngân hàng tư nhân tăng tốc về trải nghiệm và hình ảnh

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa chính thức công bố Bảng xếp hạng "Sức khỏe thương hiệu ngân hàng Việt Nam 2025". Brand Beat Score (BBS) là báo cáo thường niên do Mibrand thực hiện và duy trì công bố từ năm 2017 đến nay, nhằm theo dõi diễn biến sức khỏe thương hiệu trong ngành ngân hàng.
Cục Thuế ký kết hợp tác cùng Sacombank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh kê khai, nộp thuế

Cục Thuế ký kết hợp tác cùng Sacombank đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh kê khai, nộp thuế

(TBTCO) - Chiều 15/4/2026, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) ký kết hợp tác cùng Cục Thuế (Bộ Tài chính) và cơ quan thuế tại 14 tỉnh, thành phố nhằm triển khai các giải pháp hỗ trợ hộ kinh doanh trong quản lý doanh thu, xuất hóa đơn điện tử, kê khai và nộp thuế.
Đại hội đồng cổ đông OCB: Hướng mốc lãi 7.000 tỷ đồng, đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi tăng 80% quý I/2026

Đại hội đồng cổ đông OCB: Hướng mốc lãi 7.000 tỷ đồng, đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi tăng 80% quý I/2026

(TBTCO) - OCB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 6.960 tỷ đồng, tăng 39%, trong bối cảnh tín dụng bị kiểm soát và kinh tế còn nhiều biến động. Ngân hàng tiếp tục coi tín dụng là trụ cột, tiếp tục mở rộng các lĩnh vực mới; đồng thời, đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi, tăng trên 80% ngay quý I/2026. Nhiều giải pháp được triển khai, đưa cổ phiếu OCB định giá về mức hợp lý, phản ánh đúng giá trị.
Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

Nhiều ngân hàng chủ lực “giữ mạch” dòng vốn, đưa tín dụng vượt 19 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Nhiều ngân hàng chủ lực trong nhóm “big 4” đồng loạt giảm lãi suất, chủ động định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, động lực tăng trưởng của nền kinh tế, qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân mở rộng hoạt động và góp phần thúc đẩy dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Mastercard thúc đẩy thương mại ứng dụng AI với các giao dịch qua tác nhân AI có xác thực đầu tiên tại Việt Nam

Mastercard thúc đẩy thương mại ứng dụng AI với các giao dịch qua tác nhân AI có xác thực đầu tiên tại Việt Nam

(TBTCO) - Mastercard vừa công bố hoàn tất thành công chương trình thí điểm triển khai các giao dịch qua tác nhân AI (agentic transaction) có xác thực đầu tiên tại Việt Nam. Đây là một bước tiến quan trọng cho hệ sinh thái kỹ thuật số của quốc gia.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼130K 17,200 ▼80K
Kim TT/AVPL 16,850 ▼130K 17,200 ▼80K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼130K 17,180 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 15,550 ▲20K 15,750 ▲20K
Nguyên Liệu 99.9 15,500 ▲20K 15,700 ▲20K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,410 ▼30K 16,810 ▼30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,360 ▼30K 16,760 ▼30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,290 ▼30K 16,740 ▼30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼1500K 171,800 ▼1200K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼1500K 171,800 ▼1200K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼1500K 171,800 ▼1200K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼1500K 171,800 ▼1200K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼1500K 171,800 ▼1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼1500K 171,800 ▼1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼150K 17,200 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼150K 17,200 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼150K 17,200 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼200K 17,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼200K 17,150 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼200K 17,150 ▼150K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,340 ▼150K 17,040 ▼150K
Trang sức 99.99 16,350 ▼150K 17,050 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1515K 172 ▼1563K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▲1515K 17,202 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▲1515K 17,203 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 168 ▼1529K 1,715 ▼17K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 168 ▼1529K 1,716 ▼17K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 166 ▼1511K 170 ▼1547K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,817 ▲160182K 168,317 ▲168147K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,763 ▼1275K 127,663 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,862 ▼1156K 115,762 ▼1156K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 9,496 ▼86501K 10,386 ▼94511K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,037 ▼82324K 9,927 ▼90334K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,147 ▼709K 71,047 ▼709K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1515K 172 ▼1563K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1515K 172 ▼1563K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1515K 172 ▼1563K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1515K 172 ▼1563K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1515K 172 ▼1563K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1515K 172 ▼1563K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1515K 172 ▼1563K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1515K 172 ▼1563K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1515K 172 ▼1563K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1515K 172 ▼1563K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▲1515K 172 ▼1563K
Cập nhật: 16/04/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18391 18667 19248
CAD 18660 18938 19555
CHF 33068 33454 34098
CNY 0 3800 3870
EUR 30442 30717 31744
GBP 34949 35342 36267
HKD 0 3232 3434
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15258 15840
SGD 20187 20470 20996
THB 740 803 856
USD (1,2) 26062 0 0
USD (5,10,20) 26103 0 0
USD (50,100) 26132 26151 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,621 30,646 31,925
JPY 161.7 161.99 170.77
GBP 35,192 35,287 36,293
AUD 18,622 18,689 19,284
CAD 18,883 18,944 19,528
CHF 33,384 33,488 34,273
SGD 20,350 20,413 21,100
CNY - 3,798 3,921
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.52 17.23 18.63
THB 787.87 797.6 849.56
NZD 15,260 15,402 15,766
SEK - 2,835 2,919
DKK - 4,097 4,218
NOK - 2,766 2,847
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,239.76 - 7,001.87
TWD 755.7 - 910.2
SAR - 6,916.81 7,244
KWD - 83,892 88,745
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,517 30,640 31,826
GBP 35,109 35,250 36,261
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,120 33,253 34,197
JPY 162.01 162.66 170
AUD 18,536 18,610 19,205
SGD 20,371 20,453 21,039
THB 803 806 842
CAD 18,830 18,906 19,479
NZD 15,318 15,852
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26357
AUD 18505 18605 19536
CAD 18816 18916 19931
CHF 33275 33305 34892
CNY 3800.3 3825.3 3960.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30608 30638 32363
GBP 35205 35255 37007
HKD 0 3355 0
JPY 162.26 162.76 173.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15341 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20332 20462 21193
THB 0 767.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16850000 16850000 17250000
SBJ 15000000 15000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,357
USD20 26,155 26,205 26,357
USD1 26,150 26,205 26,357
AUD 18,578 18,678 19,794
EUR 30,777 30,777 32,202
CAD 18,772 18,872 20,188
SGD 20,422 20,572 21,780
JPY 162.85 164.35 168.99
GBP 35,128 35,478 36,560
XAU 17,048,000 0 17,402,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 805 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/04/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80