Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro

(TBTCO) - Thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, từ năm 2022 đến nay, đã có 3.280 hộ nông dân và tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm nông nghiệp, với tổng phí bảo hiểm 2,38 tỷ đồng, phần lớn do ngân sách nhà nước hỗ trợ. Việc lấy ý kiến sửa đổi Nghị định 58/2018/NĐ-CP được kỳ vọng nâng hiệu quả chính sách và nhân rộng việc triển khai.
aa
Bảo hiểm nông nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Đề xuất nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp “Miếng bánh” bảo hiểm phi nhân thọ lớn dần, cuộc đua giành thị phần thêm gay gắt

Hơn 3.000 hộ nông dân, tổ chức tham gia, tăng chống chịu rủi ro

Ngày 9/3, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) tổ chức Hội thảo lấy ý kiến về hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp (Nghị định 58).

Phát biểu tại hội thảo, ông Phạm Văn Đức - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, theo chương trình công tác của Chính phủ, Bộ Tài chính đã xây dựng hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 58 và lấy ý kiến rộng rãi các bộ, ngành có liên quan, ủy ban nhân dân 34 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, đối tượng chịu tác động... và đề nghị gửi ý kiến về Bộ Tài chính trước ngày 6/3.

Trên cơ sở ý kiến của các bên liên quan, Bộ Tài chính sẽ tổng hợp, hoàn thiện hồ sơ dự thảo Nghị định trước khi gửi Bộ Tư pháp để lấy ý kiến thẩm định và trình Chính phủ ban hành.

Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro
Hội thảo lấy ý kiến về hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP. Ảnh: Ánh Tuyết.
Số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cũng cho thấy, việc triển khai Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg giai đoạn từ năm 2022 đến nay cũng ghi nhận nhiều kết quả tích cực. Theo đó, tổng số hộ nông dân/tổ chức sản xuất tham gia bảo hiểm đạt 3.280; trong đó, có 3.267 hộ nghèo và 13 hộ thường. Tổng giá trị bảo hiểm: 65 tỷ đồng; tổng phí bảo hiểm: 2,38 tỷ đồng, trong đó ngân sách nhà nước hỗ trợ 2,14 tỷ đồng.

Đánh giá kết quả thực hiện chính sách bảo hiểm nông nghiệp thời gian qua, ông Bùi Thanh Hải - Phó Trưởng phòng phụ trách Phòng Quản lý, giám sát bảo hiểm phi nhân thọ cho rằng, chính sách bước đầu tạo lập được khuôn khổ pháp lý dài hạn, minh bạch với những quy định đặc thù cho hoạt động bảo hiểm nông nghiệp và hoạt động sản xuất nông nghiệp.

"Trên cơ sở đó, xây dựng được cơ chế bảo vệ tài chính chủ động cho người nông dân trước các rủi ro về thiên tai, dịch bệnh trong hoạt động sản xuất nông nghiệp" - ông Hải nhấn mạnh.

Các địa phương thuộc địa bàn được hỗ trợ ngày càng mở rộng, từ 22 tỉnh theo Quyết định số 22/2019/QĐ-TTg lên 42 tỉnh theo Quyết định số 13/2022/QĐ-TTg; cũng như tăng số lượng đối tượng được hỗ trợ.

Triển khai bảo hiểm nông nghiệp của các doanh nghiệp cũng góp phần tăng cường việc triển khai áp dụng các quy chuẩn, tiêu chuẩn trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.

"Doanh nghiệp bảo hiểm đã xây dựng, phát triển được các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp cho cây trồng, vật nuôi và thủy sản, bảo đảm tuân thủ pháp luật, trên cơ sở cân nhắc với khả năng chi trả của nông dân và khả năng cân đối ngân sách nhà nước" - ông Hải nêu rõ.

Mô hình mới, nhiều rào cản khi triển khai

Đánh giá sơ lược về kết quả triển khai thí điểm sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp tại 4 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thông qua dự án do Tổ chức Hợp tác Quốc tế Đức (GIZ) thực hiện, TS. Hoàng Mỹ Lan cho biết, GIZ đã hợp tác với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, các tỉnh: An Giang, Đồng Tháp, Kiên Giang và Sóc Trăng; đồng thời, hợp tác với Bảo hiểm Quân đội MIC, PVI, ABIC và MSIG, để đồng hành đưa các sản phẩm bảo hiểm đến người nông dân.

Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro
Kết quả chi trả bảo hiểm nông nghiệp theo báo cáo của GIZ. Nguồn: GIZ.

Theo bà Lan, sản phẩm bảo hiểm có hai loại sản phẩm chính. Theo đó, ABIC triển khai sản phẩm thiệt hại cây lúa; các rủi ro được bảo hiểm bao gồm: mưa lớn, lũ lụt, sạt lở đất... Đồng thời, số tiền bảo hiểm được bảo hiểm khá lớn 15 - 25 triệu đồng, phí bảo hiểm linh hoạt theo nhóm rủi ro người nông dân họ lựa chọn. Việc tổn thất bồi thường theo thiệt hại, tỷ lệ diện tích thiệt hại. Đây sản phẩm khác biệt so với ba công ty bảo hiểm còn lại.

Còn MIC, MSIG và PVI triển khai sản phẩm bảo hiểm chỉ số thời tiết, chủ yếu tập trung vào bảo hiểm thừa mưa, hạn hán. Đáng chú ý, theo TS. Hoàng Mỹ Lan, đặc tính của sản phẩm này người nông dân không cần phải chứng minh thiệt hại, tiến hành việc chi trả tự động. Theo đó, số liệu về lượng mưa này do một bên thứ ba cung cấp độc lập.

Tuy nhiên, theo bà Lan, mỗi sản phẩm doanh nghiệp thiết kế về ngưỡng kích hoạt rất khác nhau như: lượng mưa trong 5 ngày, 7 ngày hay cả tháng... tỷ lệ bồi thường khác nhau.

Qua tổng kết, đánh giá triển khai Nghị định 58, Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm Phạm Văn Đức cho rằng, kết quả thực hiện Nghị định 58 vẫn còn các khó khăn, vướng mắc xuất phát từ nhiều nguyên nhân cả khách quan và chủ quan.

Về mặt khách quan, bảo hiểm nông nghiệp là nghiệp vụ bảo hiểm phức tạp, rủi ro cao xuất phát từ thực tế biến động khó lường của thiên tai, dịch bệnh. Đây là thực tế không chỉ đối với Việt Nam, mà còn đối với tất cả các nước trên thế giới.

"Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, việc triển khai đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm phải có năng lực tài chính lớn, đội ngũ cán bộ có năng lực, kinh nghiệm và mạng lưới phân phối sản phẩm đủ rộng, đảm bảo khả năng tiếp cận đến cơ sở: cấp thôn, xóm, hợp tác xã, Do đó, để triển khai được, doanh nghiệp bảo hiểm phải phụ thuộc rất lớn vào sự hỗ trợ về mặt tài chính, kỹ thuật của các nhà tái bảo hiểm quốc tế" - ông Đức nêu rõ.

Tuy nhiên, thực tế gần đây, không có nhiều nhà tái bảo hiểm khai thác bảo hiểm nông nghiệp và rất thận trọng khi xây dựng và định phí bảo hiểm tại Việt Nam.

Trong khi đó, đối với người nông dân, việc nghiên cứu, tìm hiểu và tham gia bảo hiểm nông nghiệp của một số bộ phận người nông dân và thậm chí các tổ chức sản xuất nông nghiệp vẫn còn hạn chế.

Đồng thời, công tác quản trị, đề phòng hạn chế rủi ro của người sản xuất nông nghiệp cá thể, bao gồm việc tuân thủ, đáp ứng chặt chẽ các quy trình, quy chuẩn sản xuất, bảo đảm công tác quản trị rủi ro... vẫn cần phải được tiếp tục cải thiện.

Về mặt chủ quan, theo lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, hình thức hỗ trợ chưa đa dạng, chỉ mới tập trung thiết lập khuôn khổ pháp lý rõ ràng, minh bạch, vào hỗ trợ phí bảo hiểm mà chưa có các hình thức hỗ trợ cho công tác tuyên truyền, tổ chức triển khai.

Đối với địa phương, mặc dù một số địa phương có kinh nghiệm sau giai đoạn thực hiện thí điểm 2011 - 2013, bảo hiểm nông nghiệp về cơ bản vẫn là sản phẩm mới, phức tạp; việc tổ chức thực hiện tại một số địa phương, cơ sở vẫn còn lúng túng./.

Ông Phạm Văn Đức - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nhấn mạnh, các ý kiến của các đại biểu tham dự giúp góp phần xây dựng, hoàn thiện hơn nữa dự thảo Nghị định, bảo đảm các mục tiêu chính của chính sách bảo hiểm nông nghiệp là thúc đẩy triển khai bảo hiểm nông nghiệp theo nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận, không giới hạn tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm và phạm vi địa bàn.

Cùng với đó, chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện phù hợp với khả năng cân đối ngân sách trong từng thời kỳ, thông qua việc hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội và các chương trình mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp của Chính phủ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

Prudential tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá”

(TBTCO) - Prudential Việt Nam vừa tổ chức ngày hội “Cùng con gìn giữ điều quý giá” tại Lotte Mall Tây Hồ, Hà Nội. Thông qua các hoạt động trải nghiệm, chương trình giúp cha mẹ và trẻ nhận diện những giá trị cần gìn giữ, từ đó chủ động chuẩn bị cho tương lai.
Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

Đừng để hợp đồng bảo hiểm bị “bỏ quên” sau khi ký

(TBTCO) - Chất lượng tư vấn ban đầu có vai trò quan trọng, nhưng nhu cầu bảo vệ và khả năng tài chính của khách hàng có thể thay đổi trong thời gian tham gia bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, rà soát hợp đồng định kỳ cần được chú trọng trong dịch vụ sau bán hàng, giúp người tham gia hiểu rõ quyền lợi và cân nhắc những điều chỉnh phù hợp.
Bảo Việt -  Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

Bảo Việt - Doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt (BVH) vừa được vinh danh trong Top 100 doanh nghiệp nhà nước nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam năm 2026 (STATE 100), xếp thứ 61 trong bảng xếp hạng và là doanh nghiệp bảo hiểm nộp ngân sách lớn nhất Việt Nam. Kết quả tiếp tục ghi nhận những đóng góp tích cực của Bảo Việt đối với ngân sách nhà nước, đồng thời khẳng định vai trò của một doanh nghiệp hàng đầu trong lĩnh vực tài chính - bảo hiểm đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

BVBank chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, dự kiến huy động hơn 3.200 tỷ đồng

(TBTCO) - BVBank dự kiến chào bán 320,41 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động hơn 3.204 tỷ đồng, qua đó, có thể nâng vốn điều lệ thêm 50% lên hơn 9.612 tỷ đồng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh lợi nhuận 6 tháng tăng mạnh, song chất lượng tài sản chịu áp lực.
Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

Thanh tra chỉ ra tồn tại trong cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh, nợ xấu ngân hàng lên gần 12.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 6 chỉ ra một số tồn tại, hạn chế trong hoạt động cấp tín dụng tại VIB Quảng Ninh. Điển hình là thời hạn cho vay chưa phù hợp với vòng quay vốn, chưa thực hiện đầy đủ điều kiện giải ngân... Trong khi đó, chất lượng tài sản còn nhiều áp lực, với nợ xấu VIB cuối quý II/2026 đạt 11.617 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲1200K 146,500 ▲1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Nghệ An 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
Miếng SJC Thái Bình 14,350 ▲120K 14,650 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲70K 14,650 ▲70K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 ▲70K 14,560 ▲70K
Trang sức 99.99 13,970 ▲70K 14,570 ▲70K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 ▲12K 14,652 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 ▲12K 14,653 ▲120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 ▼1275K 146 ▼1302K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 ▼1275K 1,461 ▲12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 ▲12K 145 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▲1188K 143,564 ▲1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▲900K 108,911 ▲900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼79248K 9,876 ▼88068K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▲732K 88,609 ▲732K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▲699K 84,693 ▲699K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▲500K 60,621 ▲500K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▲12K 1,465 ▲12K
Cập nhật: 16/09/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18002 18276 18855
CAD 18131 18406 19025
CHF 31089 31467 32114
CNY 0 3833 3929
EUR 29359 29580 30663
GBP 34216 34607 35545
HKD 0 3183 3386
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14665 15250
SGD 19875 20157 20729
THB 697 760 813
USD (1,2) 25734 0 0
USD (5,10,20) 25773 0 0
USD (50,100) 25801 25815 26185
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,795 25,795 26,175
USD(1-2-5) 24,764 - -
USD(10-20) 24,764 - -
EUR 29,416 29,440 30,834
JPY 163.06 163.35 173.25
GBP 34,397 34,490 35,683
AUD 18,184 18,250 18,942
CAD 18,296 18,355 19,034
CHF 31,351 31,448 32,379
SGD 19,987 20,049 20,836
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.51 18.26 19.87
THB 744.86 754.06 807.4
NZD 14,630 14,766 15,207
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,945 4,085
NOK - 2,732 2,832
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,937.59 - 6,710.11
TWD 738.52 - 894.19
SAR - 6,798.41 7,161.28
KWD - 82,348 87,627
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,398 29,516 30,712
GBP 34,354 34,492 35,521
HKD 3,243 3,256 3,373
CHF 31,158 31,283 32,218
JPY 163.09 163.74 171.72
AUD 18,168 18,241 18,834
SGD 20,038 20,118 20,709
THB 760 763 800
CAD 18,306 18,380 18,970
NZD 14,678 15,221
KRW 18.12 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18185 18285 19207
CAD 18314 18414 19429
CHF 31333 31363 32945
CNY 3816.2 3841.2 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29553 29583 31305
GBP 34518 34568 36326
HKD 0 3305 0
JPY 164.12 164.62 175.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14765 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20037 20167 20890
THB 0 725.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,684 25,724 26,180
USD20 25,654 25,724 26,180
USD1 25,634 25,724 26,180
AUD 18,217 18,317 19,422
EUR 29,347 29,447 31,106
CAD 18,251 18,351 19,655
SGD 20,102 20,252 20,816
JPY 164.48 165.98 171.53
GBP 34,423 34,573 35,630
XAU 14,288,000 0 14,592,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/09/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30