Đề xuất nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp

Hà Phương
(TBTCO) - Tại dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp, Bộ Tài chính đề xuất nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp để thúc đẩy phát triển bảo hiểm nông nghiệp.
aa

Bộ Tài chính cho biết, mặc dù có nhiều kinh nghiệm đã được rút ra sau giai đoạn thực hiện thí điểm (2011 - 2013), bảo hiểm nông nghiệp về cơ bản vẫn là sản phẩm mới, phức tạp không chỉ đối với bản thân người nông dân mà còn đối với đội ngũ cán bộ thực thi chính sách tại cơ sở; việc tổ chức thực hiện tại một số địa phương, cơ sở vẫn còn lúng túng. Bên cạnh đó, nhận thức của một số bộ phận người nông dân đối với bảo hiểm nông nghiệp vẫn còn hạn chế.

Đề xuất nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp
Bảo hiểm nông nghiệp là nghiệp vụ phức tạp, rủi ro cao xuất phát từ thực tế biến động khó lường của thiên tai, dịch bệnh...

Về phía doanh nghiệp bảo hiểm, bảo hiểm nông nghiệp là nghiệp vụ phức tạp, rủi ro cao xuất phát từ thực tế biến động khó lường của thiên tai, dịch bệnh; việc triển khai đòi hỏi các doanh nghiệp bảo hiểm phải có năng lực tài chính lớn, đội ngũ cán bộ có năng lực, kinh nghiệm và mạng lưới phân phối sản phẩm đủ rộng đảm bảo khả năng tiếp cận đến cơ sở (cấp thôn, xóm, hợp tác xã), có sự tham gia của nhà tái bảo hiểm quốc tế và với sự hỗ trợ kịp thời, phối hợp chặt chẽ của các cấp chính quyền tại cơ sở. Do đó, kết quả thực hiện bảo hiểm nông nghiệp chưa đạt hiệu quả cao.

Bảo hiểm nông nghiệp là loại hình bảo hiểm cho đối tượng sản xuất trong ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, theo đó bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Thực tế tham gia bảo hiểm nông nghiệp chủ yếu là cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo; cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo và tổ chức sản xuất nông nghiệp tham gia còn ít.

Kinh nghiệm một số nước trên thế giới cho thấy, mức hỗ trợ của Nhà nước tương đương hoặc cao hơn (Mỹ hỗ trợ 69%, Canada 66%, Tây Ban Nha khoảng 50%, Nhật Bản 50%...). Ngoài ra, Chính phủ các nước còn có chính sách hỗ trợ khác như: Chính phủ cung cấp miễn phí hợp đồng bảo hiểm năng suất thiên tai cơ bản cho toàn bộ diện tích cây trồng, hỗ trợ chi phí quản lý cho các công ty bảo hiểm tham gia vào Chương trình bảo hiểm nông nghiệp, Chính phủ nhận tái bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm... Do đó, để thúc đẩy phát triển bảo hiểm nông nghiệp, Bộ Tài chính đề xuất nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp.

Nâng mức hỗ trợ

Tại dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP, Bộ Tài chính đề xuất mở rộng đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ nhằm thực hiện hiệu quả chính sách. Ngoài các đối tượng cây trồng (lúa, cao su, hồ tiêu, điều, cà phê, cây ăn quả, rau); vật nuôi (trâu, bò, lợn, gia cầm); nuôi trồng thủy sản (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá tra), Bộ Tài chính đề xuất mở rộng thêm đối tượng bảo hiểm cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản chủ lực của địa phương.

Đồng thời, Bộ Tài chính đề xuất đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về mức hỗ trợ (khoản 6 Điều 1 dự thảo Nghị định) theo hướng nâng mức hỗ trợ tối đa 95% phí bảo hiểm nông nghiệp đối với cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo (hiện nay là 90%); 50% phí bảo hiểm nông nghiệp đối với cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo (hiện là 20%); 30% phí bảo hiểm nông nghiệp đối với tổ chức sản xuất nông nghiệp (tăng 10% so với hiện nay).

Bên cạnh đó, quy định tổ chức tín dụng có thể cung cấp khoản vay cho các tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp để đóng khoản phí bảo hiểm ngoài phần phí bảo hiểm được ngân sách nhà nước hỗ trợ, hợp đồng bảo hiểm có thể được coi là phần bảo đảm cho khoản vay (nếu có).

Các quy định nói trên nhằm mục đích an sinh xã hội, khuyến khích tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp tham gia bảo hiểm nông nghiệp.

Dự thảo Nghị định đang được lấy ý kiến góp ý trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tài chính.

Điều 88 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2022 quy định, việc triển khai và tham gia các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và các sản phẩm bảo hiểm vì mục tiêu an sinh, xã hội được Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ, tạo điều kiện thông qua một hoặc một số biện pháp như: thiết lập các quỹ rủi ro bảo hiểm; hỗ trợ một phần phí bảo hiểm, kinh phí hỗ trợ được bảo đảm từ nguồn ngân sách trung ương, ngân sách địa phương và được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hằng năm hoặc các nguồn tài chính hợp pháp khác theo quy định của pháp luật...
Hà Phương

Đọc thêm

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, ngân hàng MB báo lãi trước thuế đạt 30.518,4 tỷ đồng, tăng 31,9% cùng kỳ, với động lực từ thu nhập lãi thuần. Đáng chú ý, thu nhập lãi và các khoản tương tự lần đầu vượt 100.000 tỷ đồng, cao hơn cả năm 2025, trong bối cảnh tổng tín dụng đạt hơn 1,31 triệu tỷ đồng, tăng 18,9% so với đầu năm.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 31/10: USD phân hóa giữa tuần 4 trong 5 ngân hàng trung ương lớn giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 31/10, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.637 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm. Chỉ số DXY biến động hẹp trong tuần, song giữ đà tăng lên 101,96 điểm, giữa bối cảnh 5 ngân hàng trung ương lớn công bố quyết định lãi suất, trong đó Canada tăng lãi suất, 4 ngân hàng còn lại giữ nguyên.
Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

Lãi 9 tháng hơn 5.400 tỷ đồng nhờ đà tăng lãi thuần, MSB rục rịch chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, MSB lãi trước thuế đạt 5.439,8 tỷ đồng, tăng 14,3%, nhờ thu nhập lãi thuần tăng 21,7%, chi phí dự phòng giảm. Tổng tài sản ngân hàng tiến sát 440.000 tỷ đồng, để tiếp tục mở rộng quy mô hoạt động, MSB đang triển khai kế hoạch chào bán cổ phiếu và lên kế hoạch mở rộng hệ sinh thái tài chính.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,600 137,600
Hà Nội - PNJ 133,600 137,600
Đà Nẵng - PNJ 133,600 137,600
Miền Tây - PNJ 133,600 137,600
Tây Nguyên - PNJ 133,600 137,600
Đông Nam Bộ - PNJ 133,600 137,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,600 13,900
Miếng SJC Nghệ An 13,600 13,900
Miếng SJC Thái Bình 13,600 13,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,400 13,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,400 13,800
Trang sức 99.9 13,080 13,680
Trang sức 99.99 13,090 13,690
Vàng 99.9 12,550
Vàng 99.99 12,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 136 13,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 136 13,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,318 1,358
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,318 1,359
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,298 1,348
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 126,465 133,465
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,146 10,126
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,023 91,823
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 72,586 82,386
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 68,946 78,746
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,567 56,367
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 136 139
Cập nhật: 02/11/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18455
CAD 17942 18217 18833
CHF 30643 31019 31661
CNY 0 3835 3931
EUR 28187 28403 29485
GBP 33744 34133 35070
HKD 0 3158 3361
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14202 14786
SGD 19639 19920 20490
THB 679 742 795
USD (1,2) 25541 0 0
USD (5,10,20) 25579 0 0
USD (50,100) 25606 25620 25990
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,610 25,610 25,990
USD(1-2-5) 24,586 - -
USD(10-20) 24,586 - -
EUR 28,246 28,269 29,614
JPY 159.01 159.3 168.97
GBP 33,922 34,014 35,195
AUD 17,796 17,860 18,540
CAD 18,115 18,173 18,846
CHF 30,884 30,980 31,908
SGD 19,757 19,818 20,597
CNY - 3,802 3,948
HKD 3,222 3,232 3,368
KRW 17.76 18.52 20.15
THB 728.57 737.57 789.58
NZD 14,187 14,319 14,743
SEK - 2,584 2,676
DKK - 3,789 3,924
NOK - 2,753 2,852
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,930.52 - 6,696.31
TWD 714.03 - 865.15
SAR - 6,755.77 7,117.67
KWD - 81,466 86,697
AED - 6,770 7,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,221 28,363 29,591
GBP 33,895 34,065 35,100
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,727 30,881 31,829
JPY 158.68 160.28 168.26
AUD 17,756 17,881 18,479
SGD 19,728 19,907 20,504
THB 732 747 784
CAD 18,082 18,209 18,807
NZD 14,263 14,818
KRW 18.60 20.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25570 25600 26000
AUD 17787 17887 18812
CAD 18119 18219 19230
CHF 30875 30905 32479
CNY 3817 3842 3977.3
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28349 28379 30102
GBP 34040 34090 35842
HKD 0 3300 0
JPY 159.94 160.44 170.99
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14304 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19794 19924 20646
THB 0 708.5 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13800000 13800000 14150000
SBJ 12500000 12500000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,490 25,640 26,000
USD20 25,460 25,640 26,000
USD1 25,440 25,640 26,000
AUD 17,711 17,861 19,054
EUR 28,208 28,308 30,008
CAD 18,055 18,155 19,490
SGD 19,877 20,027 20,900
JPY 160.92 162.42 168.22
GBP 33,976 34,126 35,455
XAU 13,838,000 0 14,142,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/11/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30