Bảo hiểm phi nhân thọ đón loạt chính sách mới, gỡ khó đưa doanh thu vượt 80.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngày 20/5, tại trụ sở Bộ Tài chính, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm tổ chức buổi làm việc với các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp tái bảo hiểm và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài, để trao đổi các giải pháp nhằm phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ.
aa

Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Thị trường bảo hiểm khởi sắc với doanh thu phí tăng 5,4%, ngân hàng đồng loạt nhập cuộc

Đối thoại tìm giải pháp để thị trường bảo hiểm chuyển mình mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Điểm lại tình hình tăng trưởng của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, ông Phạm Văn Đức - Phó Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho biết, tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc năm 2024 tăng 10,21%; ước tính 5 tháng đầu năm 2025 tăng 10,43% so với cùng kỳ.

Triển khai hàng loạt chính sách mới

Tại cuộc họp, lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cũng cập nhật tiến độ xây dựng các văn bản pháp luật mới có nội dung liên quan tới lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ. Đồng thời, mong muốn các doanh nghiệp bảo hiểm phối hợp chặt chẽ, nhằm đảm bảo các chính sách khi được xây dựng và ban hành sẽ phù hợp thực tiễn, khả thi và sớm đi vào cuộc sống.

Nhiều doanh nghiệp kỳ vọng tăng trưởng vượt bậc

"Theo kế hoạch đăng ký của 32 doanh nghiệp bảo hiểm và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm, ước tăng trưởng năm 2025 đạt 9,77%, tương đương khoảng 85.938 tỷ đồng. Nhiều doanh nghiệp dự kiến mức tăng trưởng trên 10%, thậm chí có doanh nghiệp tăng tới 26%" - lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nêu rõ.

Đơn cử, theo Nghị định 105/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 hướng dẫn Luật Phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2025, mức thu từ doanh nghiệp bảo hiểm triển khai bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc trong năm tài chính nâng lên 2% tổng số phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc thực tế thu được của các hợp đồng bảo hiểm gốc trong năm tài chính trước liền kề.

Hàng năm, doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm nộp số tiền này vào tài khoản của Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

Bảo hiểm phi nhân thọ đón loạt chính sách mới, gỡ khó đưa doanh thu vượt 80.000 tỷ đồng
Lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm và Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam chủ trì cuộc họp. Ảnh: Ánh Tuyết.

Cùng với đó, quy định về việc điều chỉnh tăng hoặc giảm tối đa 25% phí bảo hiểm dựa trên mức độ rủi ro của đối tượng bảo hiểm với tổng số tiền bảo hiểm dưới 1.000 tỷ đồng cũng được bãi bỏ.

Thông tư 219/2010/TT-BTC ngày 30/12/2010 hướng dẫn tiêu chí xác định tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải cũng dự kiến trình ban hành tháng 10/2025. Theo đó, dự kiến nâng mức vốn điều lệ của doanh nghiệp bảo hiểm từ 300 tỷ đồng lên 400 tỷ đồng trở lên, nâng biên khả năng thanh toán...

Bên cạnh đó, một số quy định khác cũng được đề cập như: Cục Nghị định số 104/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 về quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng; Nghị định bảo hiểm nông nghiệp sửa đổi dự kiến trình Chính phủ tháng 5/2026, danh mục tài sản công phải mua bảo hiểm…

Đẩy mạnh cải cách, gỡ khó cho doanh nghiệp

Tại cuộc họp, ông Phạm Văn Đức nhấn mạnh, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm sẽ tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính gắn với đẩy mạnh phân cấp, phân quyền. Cục tiếp tục tiến hành rà soát để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục thông qua bãi bỏ 4 nội dung thuộc phạm vi quản lý; đề xuất phân cấp, giao quyền xử lý 7 thủ tục nhằm chủ động triển khai, rút ngắn thời gian xử lý cho doanh nghiệp.

Lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cũng lưu ý các doanh nghiệp bảo hiểm tăng cường thực hiện các biện pháp quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ; tăng cường hoạt động kiểm tra, đánh giá định kỳ hàng năm, đột xuất việc tuân thủ quy định pháp luật theo quy định tại Thông tư 70/2022/TT-BTC ngày 16/11/2022, trong đó, đặc biệt lưu ý tới hoạt động tái bảo hiểm, khai thác, giám định bồi thường; rà soát điều kiện của các nhân sự là người quản lý, người kiểm soát.

Cùng với đó, yêu cầu các doanh nghiệp đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản trị nội bộ, công tác khai thác, giải quyết bồi thường, thống kê dữ liệu phục vụ quản trị rủi ro, định phí sản phẩm bảo hiểm…

Bảo hiểm phi nhân thọ đón loạt chính sách mới, gỡ khó đưa doanh thu vượt 80.000 tỷ đồng
Đại diện doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thẳng thắn đối thoại, đề xuất giải pháp khả thi phát triển thị trường. Ảnh: Ánh Tuyết.

Trong quá trình triển khai các sản phẩm bảo hiểm và hoạt động đầu tư, Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm sẽ tiếp tục ghi nhận những vướng mắc, đồng thời tiếp tục cải cách thủ tục hành chính để tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường phát triển bền vững.

Trao đổi tại cuộc họp, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tích cực đóng góp nhiều ý kiến, để giúp các đơn vị tăng tốc phát triển. Theo đó, doanh nghiệp kiến nghị điều chỉnh quy định trích lập dự phòng đối với bảo hiểm sức khỏe để phù hợp hơn với thực tiễn hoạt động.

Về bảo hiểm cháy nổ bắt buộc, doanh nghiệp mong muốn quy định mới được triển khai theo hướng hài hòa hơn cho khách hàng và doanh nghiệp. Riêng với bảo hiểm nông nghiệp, doanh nghiệp đề xuất nâng mức hỗ trợ phí bảo hiểm, nhằm tăng khả năng tiếp cận và chia sẻ rủi ro.

Các ý kiến cũng nhấn mạnh sự cần thiết của việc rà soát quy định đầu tư trái phiếu doanh nghiệp phát hành nhằm tái cơ cấu nợ. Ngoài ra, một số doanh nghiệp cũng đề xuất tiếp tục đẩy mạnh truyền thông nhằm củng cố niềm tin của người dân đối với ngành bảo hiểm.

Tại buổi làm việc, các doanh nghiệp bảo hiểm cũng nhất trí cao với ý kiến chỉ đạo của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm và sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp để vừa đạt mục tiêu tăng trưởng, nhưng vẫn đảm bảo an toàn tài chính, quản trị rủi ro và tuân thủ quy định pháp luật.

Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm ghi nhận những đề xuất về các giải pháp phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ, trong đó, tập trung vào việc triển khai hiệu quả các sản phẩm bảo hiểm bắt buộc; xây dựng triển khai các sản phẩm bảo hiểm mới; hoạt động tái bảo hiểm; hoạt động đầu tư, dự phòng nghiệp vụ; các giải pháp trong việc hoàn thiện cơ chế chính sách…từ phía các doanh nghiệp bảo hiểm, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng chuyển mình cùng "làn sóng" AI Agent

Ngân hàng chuyển mình cùng "làn sóng" AI Agent

(TBTCO) - Trong vài năm tới, dự báo khoảng 50% giao dịch ngân hàng có thể được thực hiện qua các tác nhân trí tuệ nhân tạo (AI Agent), kỳ vọng giúp ngân hàng tối ưu chi phí, tăng lợi nhuận và thay đổi cách khách hàng sử dụng dịch vụ. Song điều này cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn, pháp lý theo kịp.
OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

OCB lãi hơn 4.100 tỷ đồng sau 9 tháng, quy mô tổng tài sản "về đích" sớm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, OCB lãi trước thuế 4.122,8 tỷ đồng, tăng 20,2% cùng kỳ. Động lực tăng trưởng đến từ thu nhập lãi thuần cải thiện, thu nhập ngoài lãi tăng mạnh 43%, cùng việc mở rộng các giải pháp tài chính phục vụ giao thương và thanh toán quốc tế. Tổng tài sản OCB đạt 363.726 tỷ đồng cuối tháng 9, vượt kế hoạch năm.
NAPAS đồng hành cùng các trung gian thanh toán khai phá tiềm năng, kiến tạo hệ sinh thái thanh toán bền vững

NAPAS đồng hành cùng các trung gian thanh toán khai phá tiềm năng, kiến tạo hệ sinh thái thanh toán bền vững

(TBTCO) - Tháng 10/2026, Công ty Cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS) tổ chức Hội nghị khách hàng 2026 dành cho các tổ chức thành viên là các trung gian thanh toán tại Nha Trang, với chủ đề “Từ nội địa vươn ra quốc tế - Song hành mở rộng thị trường thanh toán”.
SeABank công bố Khung Tài chính bền vững

SeABank công bố Khung Tài chính bền vững

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức công bố Khung Tài chính bền vững (Sustainable Finance Framework), được S&P Global Ratings đánh giá ý kiến độc lập (Second Party Opinion - SPO) ngày 24/09/2026. Đây là cơ sở để SeABank mở rộng huy động và phân bổ hiệu quả nguồn vốn cho các mục tiêu phát triển bền vững theo cam kết.
Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) tiếp tục được vinh danh trong “Top 500 Doanh nghiệp Lợi nhuận tốt nhất Việt Nam 2026” (PROFIT500 2026) và “Top 50 Doanh nghiệp Lợi nhuận Xuất sắc Việt Nam 2026” tại Lễ công bố Bảng xếp hạng PROFIT500 do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet tổ chức và trao giải.
Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới dao động quanh 3.998 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước biến động trái chiều giữa các thương hiệu.
Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 19 - 23/10 ghi nhận, Ngân hàng Nhà nước chỉ bơm vốn "nhỏ giọt" trong 2 phiên, qua đó hút ròng gần 10.000 tỷ đồng, đưa lượng OMO lưu hành xuống đáy hơn 1 năm. Dù vậy, lãi suất qua đêm vẫn tương đối ổn định quanh 3-4%, trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 24/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 đồng, giảm 10 đồng so với cuối tuần trước; giá USD tại các ngân hàng đồng loạt hạ nhiệt. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,81 điểm, gần như đi ngang. Dữ liệu PMI cho thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh, củng cố kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 140,600
Hà Nội - PNJ 137,600 140,600
Đà Nẵng - PNJ 137,600 140,600
Miền Tây - PNJ 137,600 140,600
Tây Nguyên - PNJ 137,600 140,600
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 140,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 14,200 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 13,870 14,200 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 13,870 14,200 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,700 ▲10K 14,100 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,700 ▲10K 14,100 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,700 ▲10K 14,100 ▲10K
Trang sức 99.9 13,380 ▲10K 13,980 ▲10K
Trang sức 99.99 13,390 ▲10K 13,990 ▲10K
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,060
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1248K 14,202 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1248K 14,203 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1248K 142 ▼1275K
Cập nhật: 27/10/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17600 17873 18447
CAD 17895 18170 18786
CHF 30560 30936 31574
CNY 0 3831 3926
EUR 28221 28436 29513
GBP 33650 34039 34963
HKD 0 3162 3364
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14390 14977
SGD 19626 19907 20475
THB 681 744 797
USD (1,2) 25569 0 0
USD (5,10,20) 25607 0 0
USD (50,100) 25634 25648 26012
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,655 25,655 26,035
USD(1-2-5) 24,629 - -
USD(10-20) 24,629 - -
EUR 28,301 28,324 29,668
JPY 159.44 159.73 169.41
GBP 33,849 33,941 35,132
AUD 17,820 17,884 18,564
CAD 18,094 18,152 18,823
CHF 30,830 30,926 31,844
SGD 19,761 19,822 20,600
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,227 3,237 3,373
KRW 17.99 18.76 20.42
THB 729.41 738.42 790.48
NZD 14,399 14,533 14,963
SEK - 2,551 2,644
DKK - 3,796 3,931
NOK - 2,726 2,823
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,910.42 - 6,671.77
TWD 717.9 - 869.29
SAR - 6,767.64 7,130
KWD - 81,636 86,875
AED - 6,782 7,308
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,282 28,424 29,653
GBP 33,838 34,008 35,042
HKD 3,221 3,240 3,358
CHF 30,669 30,823 31,770
JPY 159.16 160.77 168.75
AUD 17,752 17,877 18,475
SGD 19,730 19,909 20,506
THB 734 749 786
CAD 18,052 18,179 18,776
NZD 14,461 15,018
KRW 18.84 20.83
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25610 25640 26030
AUD 17804 17904 18830
CAD 18085 18185 19198
CHF 30807 30837 32422
CNY 3814.7 3839.7 3975.1
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28415 28445 30167
GBP 33967 34017 35785
HKD 0 3300 0
JPY 160.38 160.88 171.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14520 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19796 19926 20649
THB 0 710.8 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,550 25,670 25,980
USD20 25,520 25,670 25,980
USD1 25,500 25,670 25,980
AUD 17,740 17,890 19,067
EUR 28,221 28,321 29,999
CAD 18,033 18,133 19,452
SGD 19,872 20,022 20,592
JPY 160.96 162.46 168.11
GBP 33,876 34,026 35,123
XAU 13,868,000 0 14,172,000
CNY 0 3,794 0
THB 0 746 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/10/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30