Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ năm 2025 được kỳ vọng tiếp đà tăng trưởng khả quan về tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc khi còn nhiều dư địa phát triển. Toàn ngành cũng phấn đấu tổng tài sản tăng 2,65% so với cùng kỳ; đầu tư trở lại nền kinh tế tăng 5,77%, từ đó, góp phần thực hiện mục tiêu chung của toàn thị trường bảo hiểm.
aa
Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Nguồn: TBTCVN tổng hợp

Dù còn gặp nhiều thách thức, hậu quả của bão Yagi tương đối nặng nề khiến gánh nặng bồi thường tăng cao ngoài dự kiến, lại vừa trải qua giai đoạn khủng hoảng niềm tin lan rộng trên thị trường bảo hiểm, tuy nhiên, với các giải pháp đồng bộ, thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng đang có những bước chuyển biến tích cực.

Còn dư địa thúc đẩy đà tăng trưởng

Theo số liệu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), tổng doanh thu phí năm 2024 các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 79.363 tỷ đồng, tăng 11,68% so với năm 2023 và cao hơn đáng kể tốc độ tăng trưởng cùng kỳ (2,85%), trong khi toàn ngành vẫn chưa thoát khỏi suy giảm 0,14% cùng kỳ.

Các chỉ tiêu khác cũng tăng trưởng tích cực khi tổng tài sản năm 2024 các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 145.416 tỷ đồng, tăng 13,7% so với năm 2023. Tổng dự phòng nghiệp vụ ước đạt 40.431 tỷ đồng, tăng 27%. Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 78.141 tỷ đồng. Tổng nguồn vốn chủ sở hữu ước đạt 43.129 tỷ đồng.

Ghi nhận doanh thu tăng hơn 14% so với năm trước, Bảo hiểm VietinBank (VBI) còn tỷ suất lợi nhuận gần 16%, đứng thứ 2 trong nhóm 11 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu thị trường.

Với chiến lược phát triển bền vững, VBI linh hoạt triển khai hàng loạt giải pháp như: phát triển đa dạng sản phẩm, số hóa quy trình mua và sử dụng sản phẩm, đẩy mạnh kênh phân phối trực tuyến cùng nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự. Sau cơn bão Yagi, VBI đã chi trả hơn 100 tỷ đồng bồi thường, hỗ trợ khách hàng và địa phương khắc phục thiệt hại.

Lý giải sức bật khả quan của lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Trần Nguyên Đán - Chuyên gia kinh tế, thành viên Hội Luật gia Việt Nam cho rằng, doanh thu của ngành bảo hiểm phi nhân thọ thường đi theo sự phát triển của nền kinh tế và gắn kết trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của doanh nghiệp cũng như người dân. Khi nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP hơn 7%, đó là cơ sở gia tăng lượng phí bảo hiểm thu được.

"Thêm vào đó, tại Việt Nam còn rất nhiều cơ hội tăng trưởng phí bảo hiểm phi nhân thọ, kể cả GDP không tăng trưởng nhiều. Hiện phí bảo hiểm bình quân đầu người tại Việt Nam chỉ khoảng 57,79 USD, chiếm khoảng 1,22% so với thu nhập bình quân đầu người năm 2024. Tỷ lệ phí bảo hiểm bình quân đầu người thấp như vậy đến từ nhiều lý do" - ông Đán bày tỏ.

Nhiều doanh nghiệp cải thiện thứ hạng

Năm 2024, dẫn đầu thị trường về doanh thu phí gốc là PVI chiếm thị phần 16,79%, nhỉnh hơn cùng kỳ 1,39% với doanh thu ước đạt 13.326 tỷ đồng, tăng 21,12% so với năm 2023. Cùng với đó, Bảo Việt và Bảo Minh cũng được giữ vững thứ hạng trong top 3 toàn ngành. Cụ thể, Bảo Việt đứng thứ 2 với thị phần 13,18% song giảm nhẹ 1,02%, với doanh thu ước đạt 10.457 tỷ đồng, tăng 3,09 % so với năm 2023. Bảo Minh chiếm thị phần 7,51% với doanh thu ước đạt 5.961 tỷ đồng, tăng 7,22%.

VBI đặt mục tiêu cán mốc 5.000 tỷ đồng doanh thu phí

Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Năm 2025, trước những dự báo tích cực về khả năng tăng trưởng của thị trường, VBI đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm hơn 5.000 tỷ đồng, tăng trưởng đạt 20%, tiếp tục củng cố vị thế là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tăng trưởng nhanh và bền vững hàng đầu Việt Nam. Ông Nguyễn Huy Quang - Chủ tịch HĐQT Bảo hiểm VietinBank

Các doanh nghiệp cải thiện thứ hạng trong năm 2024 có thể kể đến như: MIC (tăng 2 bậc), PJICO (tăng 1 bậc); VBI (tăng 1 bậc). Theo đó, MIC đứng thứ 4 toàn ngành về doanh thu phí bảo hiểm gốc khi ước đạt 5.034 tỷ đồng, tăng 7,31% cùng kỳ và chiếm thị phần 6,34%. BIC chiếm thị phần 6,14% với doanh thu ước đạt 4.870 tỷ đồng, tăng 6,87%.

PJICO đứng thứ 6, với thị phần 5,53% khi doanh thu ước đạt 4.385 tỷ đồng, tăng 9,2%. VBI tăng 1 bậc so với cùng kỳ, chiếm thị phần 5,26% với doanh thu ước đạt 4.171 tỷ đồng, tăng 17,41%. Riêng PTI giảm 4 bậc do thị phần giảm 2,06% khi doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.009 tỷ đồng, giảm 20,84% cùng kỳ.

Ngoài các doanh nghiệp bảo hiểm dẫn đầu thị trường nêu trên, thống kê của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, một số doanh nghiệp bảo hiểm có tỷ lệ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm gốc mạnh mẽ trên 50% so với năm 2023. Đơn cử, AAA (doanh thu phí bảo hiểm gốc 1.539 tỷ đồng, tăng 150,83%), Tasco (639,54 tỷ đồng, tăng 657,57%), SGI (59,6 tỷ đồng, tăng 94,8%), OPES (2.630 tỷ đồng, tăng 88,86%).

Ở chiều ngược lại, số ít các doanh nghiệp bảo hiểm có doanh thu phí bảo hiểm gốc giảm so với năm 2023 là PTI (4.009 tỷ đồng, giảm 20,84%), MSIG (1.379 tỷ đồng, giảm 8,36%),…

Về cơ cấu sản phẩm, bảo hiểm sức khỏe chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu, ước đạt 28.741 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 36,22%. Tiếp theo là bảo hiểm xe cơ giới (18.698 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 23,56%), bảo hiểm cháy nổ (11.599 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 14,62%), bảo hiểm tài sản (8.384 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 10,56%)...

Số tiền bồi thường bảo hiểm gốc của thị trường phi nhân thọ năm 2024 ước đạt 23.808 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc là 30%; thấp hơn tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc năm 2023. Trong đó, 21/32 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc thấp hơn tỷ lệ bồi thường của toàn thị trường. Bên cạnh đó, có 11 doanh nghiệp bảo hiểm còn lại có tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc cao hơn tỷ lệ bồi thường của toàn thị trường, trong đó có 3 doanh nghiệp bảo hiểm có tỷ lệ bồi thường cao là PTI (51,11%), BHV (50,40%), TMIV (50,18%).

Thị trường đón thêm tân binh, nhiều doanh nghiệp dồn dập tăng vốn

Năm qua, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đón một tân binh mới đi vào hoạt động là Công ty cổ phần bảo hiểm phi nhân thọ Techcom, nâng tổng số doanh nghiệp hoạt động trên thị trường lên 32, cùng 1 chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm. Theo thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục mở rộng địa bàn, mạng lưới kinh doanh và thành lập thêm 31 chi nhánh. Các chi nhánh mới được thành lập đã tổ chức triển khai hoạt động kinh doanh, góp phần vào tăng trưởng doanh thu chung của toàn thị trường.

Cũng trong năm 2024, có 3 doanh nghiệp được Bộ Tài chính chấp thuận về nguyên tắc tăng vốn, 9 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đề nghị tăng vốn điều lệ và được Bộ Tài chính cấp giấy phép điều chỉnh tăng vốn điều lệ, với tổng số vốn chấp thuận tăng lên là hơn 3.961 tỷ đồng. Nhờ đó, doanh nghiệp có cơ hội đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ và triển khai các dự án mở rộng thị trường, phát triển kênh phân phối, tăng dự phòng rủi ro theo quy định mới cũng như tăng năng lực bồi thường. Cùng với đó, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đều đáp ứng quy định về biên khả năng thanh toán.

Trong năm 2024, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ quan tâm thường xuyên đánh giá, rà soát, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ về phát triển sản phẩm, khai thác, giám định, bồi thường, tái bảo hiểm; hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ theo quy định hiện hành. Đồng thời tăng cường hiệu quả, hiệu lực của công tác quản trị doanh nghiệp, góp phần giảm thiểu các rủi ro trong kinh doanh, kiểm soát tình trạng nợ phí bảo hiểm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

Kiểm soát xung đột lợi ích khi ngân hàng quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp

(TBTCO) - Việc cho phép ngân hàng thương mại làm đại lý quản lý tài sản bảo đảm của trái phiếu doanh nghiệp được kỳ vọng góp phần phát triển thị trường vốn. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội đề nghị phải bảo đảm tách bạch, minh bạch thông tin, kiểm soát chặt xung đột lợi ích và không để khách hàng nhầm lẫn giữa các vai trò của ngân hàng.
Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

Áp dụng “tỷ lệ an toàn khác” phải kiểm soát được rủi ro, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Góp ý về quy định cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác với một số đối tượng để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, một số đại biểu Quốc hội lưu ý phải kiểm soát chặt rủi ro, tránh nguy cơ hạ chuẩn an toàn hệ thống, dễ bị lạm dụng hoặc tạo ra cạnh tranh không lành mạnh giữa các tổ chức tín dụng.
AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

AI và hiện đại hóa ngân hàng lõi: Hơn 300 lãnh đạo tài chính Châu Á - Thái Bình Dương sẽ quy tụ tại TRF’26 APAC Hà Nội

(TBTCO) - Diễn đàn Temenos Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương 2026 - TRF’26 APAC sẽ diễn ra trong hai ngày 25 và 26/08/2026 tại khách sạn JW Marriott Hà Nội. Sự kiện dự kiến quy tụ hơn 300 lãnh đạo cấp cao, chuyên gia, khách hàng và đối tác đến từ nhiều quốc gia, thị trường và tổ chức tài chính trên khắp khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

Công nghệ “len” vào mọi "mắt xích", mở diện mạo mới cho ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI) đang len lỏi vào mọi "mắt xích" trong hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm. Không chỉ tạo ra những thay đổi trong vận hành và trải nghiệm khách hàng, AI, dữ liệu và chuyển đổi số còn trở thành trụ cột trong định hướng phát triển dài hạn của ngành bảo hiểm.
Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều vi phạm trong hoạt động kinh doanh vàng

Qua thanh tra hoạt động kinh doanh vàng, Thanh tra Chính phủ chỉ ra nhiều tồn tại, vi phạm và chuyển Bộ Công an thông tin về 7 cá nhân bán vàng nguyên liệu không rõ nguồn gốc, xuất xứ với tổng giá trị khoảng 2.084 tỷ đồng.
Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▼500K 143,400 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▼50K 14,350 ▼50K
NL 99.99 13,300 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▲200K
Trang sức 99.9 13,660 ▼50K 14,260 ▼50K
Trang sức 99.99 13,670 ▼50K 14,270 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▲1264K 14,352 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▲1264K 14,353 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1265K 143 ▼1292K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1265K 1,431 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 ▼1238K 1,415 ▲1273K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 ▼495K 140,099 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 ▼375K 106,286 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 ▼34K 9,638 ▼34K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 ▼305K 86,474 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 ▼291K 82,653 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 ▲44404K 59,161 ▲53224K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▲1264K 1,435 ▲1291K
Cập nhật: 10/08/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17920 18194 18773
CAD 18189 18465 19083
CHF 31654 32034 32682
CNY 0 3840 3940
EUR 29561 29783 30866
GBP 34451 34843 35781
HKD 0 3201 3404
JPY 158 162 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15076 15664
SGD 19887 20169 20749
THB 708 771 824
USD (1,2) 25875 0 0
USD (5,10,20) 25915 0 0
USD (50,100) 25943 25957 26327
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,600 29,624 31,027
JPY 160.65 160.94 170.66
GBP 34,616 34,710 35,908
AUD 18,117 18,182 18,868
CAD 18,378 18,437 19,118
CHF 31,902 32,001 32,953
SGD 20,008 20,070 20,855
CNY - 3,800 3,945
HKD 3,264 3,274 3,412
KRW 17.02 17.75 19.3
THB 754.32 763.64 817.59
NZD 15,035 15,175 15,629
SEK - 2,706 2,802
DKK - 3,970 4,110
NOK - 2,700 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,975.46 - 6,744.07
TWD 732.74 - 887.66
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,816 88,117
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,930 25,940 26,320
EUR 29,624 29,743 30,936
GBP 34,614 34,753 35,785
HKD 3,263 3,276 3,392
CHF 31,753 31,881 32,809
JPY 161.12 161.77 169.63
AUD 18,104 18,177 18,774
SGD 20,070 20,151 20,747
THB 771 774 811
CAD 18,383 18,457 19,044
NZD 15,120 15,666
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25945 25945 26305
AUD 18086 18186 19117
CAD 18360 18460 19474
CHF 31889 31919 33501
CNY 3812.1 3837.1 3972.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29727 29757 31482
GBP 34722 34772 36540
HKD 0 3355 0
JPY 161.65 162.15 172.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20032 20162 20893
THB 0 735.7 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14000000 14000000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,960 26,010 26,340
USD20 25,910 26,010 26,715
USD1 25,860 26,010 26,765
AUD 18,150 18,250 19,359
EUR 29,535 29,635 31,296
CAD 18,320 18,420 19,729
SGD 20,124 20,274 20,829
JPY 162.09 163.59 169.16
GBP 34,636 34,786 35,854
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/08/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80