Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ năm 2025 được kỳ vọng tiếp đà tăng trưởng khả quan về tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc khi còn nhiều dư địa phát triển. Toàn ngành cũng phấn đấu tổng tài sản tăng 2,65% so với cùng kỳ; đầu tư trở lại nền kinh tế tăng 5,77%, từ đó, góp phần thực hiện mục tiêu chung của toàn thị trường bảo hiểm.
aa
Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ
Nguồn: TBTCVN tổng hợp

Dù còn gặp nhiều thách thức, hậu quả của bão Yagi tương đối nặng nề khiến gánh nặng bồi thường tăng cao ngoài dự kiến, lại vừa trải qua giai đoạn khủng hoảng niềm tin lan rộng trên thị trường bảo hiểm, tuy nhiên, với các giải pháp đồng bộ, thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng đang có những bước chuyển biến tích cực.

Còn dư địa thúc đẩy đà tăng trưởng

Theo số liệu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), tổng doanh thu phí năm 2024 các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 79.363 tỷ đồng, tăng 11,68% so với năm 2023 và cao hơn đáng kể tốc độ tăng trưởng cùng kỳ (2,85%), trong khi toàn ngành vẫn chưa thoát khỏi suy giảm 0,14% cùng kỳ.

Các chỉ tiêu khác cũng tăng trưởng tích cực khi tổng tài sản năm 2024 các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 145.416 tỷ đồng, tăng 13,7% so với năm 2023. Tổng dự phòng nghiệp vụ ước đạt 40.431 tỷ đồng, tăng 27%. Tổng số tiền đầu tư trở lại nền kinh tế của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 78.141 tỷ đồng. Tổng nguồn vốn chủ sở hữu ước đạt 43.129 tỷ đồng.

Ghi nhận doanh thu tăng hơn 14% so với năm trước, Bảo hiểm VietinBank (VBI) còn tỷ suất lợi nhuận gần 16%, đứng thứ 2 trong nhóm 11 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ hàng đầu thị trường.

Với chiến lược phát triển bền vững, VBI linh hoạt triển khai hàng loạt giải pháp như: phát triển đa dạng sản phẩm, số hóa quy trình mua và sử dụng sản phẩm, đẩy mạnh kênh phân phối trực tuyến cùng nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự. Sau cơn bão Yagi, VBI đã chi trả hơn 100 tỷ đồng bồi thường, hỗ trợ khách hàng và địa phương khắc phục thiệt hại.

Lý giải sức bật khả quan của lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, trao đổi với phóng viên TBTCVN, ông Trần Nguyên Đán - Chuyên gia kinh tế, thành viên Hội Luật gia Việt Nam cho rằng, doanh thu của ngành bảo hiểm phi nhân thọ thường đi theo sự phát triển của nền kinh tế và gắn kết trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ của doanh nghiệp cũng như người dân. Khi nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng GDP hơn 7%, đó là cơ sở gia tăng lượng phí bảo hiểm thu được.

"Thêm vào đó, tại Việt Nam còn rất nhiều cơ hội tăng trưởng phí bảo hiểm phi nhân thọ, kể cả GDP không tăng trưởng nhiều. Hiện phí bảo hiểm bình quân đầu người tại Việt Nam chỉ khoảng 57,79 USD, chiếm khoảng 1,22% so với thu nhập bình quân đầu người năm 2024. Tỷ lệ phí bảo hiểm bình quân đầu người thấp như vậy đến từ nhiều lý do" - ông Đán bày tỏ.

Nhiều doanh nghiệp cải thiện thứ hạng

Năm 2024, dẫn đầu thị trường về doanh thu phí gốc là PVI chiếm thị phần 16,79%, nhỉnh hơn cùng kỳ 1,39% với doanh thu ước đạt 13.326 tỷ đồng, tăng 21,12% so với năm 2023. Cùng với đó, Bảo Việt và Bảo Minh cũng được giữ vững thứ hạng trong top 3 toàn ngành. Cụ thể, Bảo Việt đứng thứ 2 với thị phần 13,18% song giảm nhẹ 1,02%, với doanh thu ước đạt 10.457 tỷ đồng, tăng 3,09 % so với năm 2023. Bảo Minh chiếm thị phần 7,51% với doanh thu ước đạt 5.961 tỷ đồng, tăng 7,22%.

VBI đặt mục tiêu cán mốc 5.000 tỷ đồng doanh thu phí

Kỳ vọng sức bật khả quan từ khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ

Năm 2025, trước những dự báo tích cực về khả năng tăng trưởng của thị trường, VBI đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm hơn 5.000 tỷ đồng, tăng trưởng đạt 20%, tiếp tục củng cố vị thế là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tăng trưởng nhanh và bền vững hàng đầu Việt Nam. Ông Nguyễn Huy Quang - Chủ tịch HĐQT Bảo hiểm VietinBank

Các doanh nghiệp cải thiện thứ hạng trong năm 2024 có thể kể đến như: MIC (tăng 2 bậc), PJICO (tăng 1 bậc); VBI (tăng 1 bậc). Theo đó, MIC đứng thứ 4 toàn ngành về doanh thu phí bảo hiểm gốc khi ước đạt 5.034 tỷ đồng, tăng 7,31% cùng kỳ và chiếm thị phần 6,34%. BIC chiếm thị phần 6,14% với doanh thu ước đạt 4.870 tỷ đồng, tăng 6,87%.

PJICO đứng thứ 6, với thị phần 5,53% khi doanh thu ước đạt 4.385 tỷ đồng, tăng 9,2%. VBI tăng 1 bậc so với cùng kỳ, chiếm thị phần 5,26% với doanh thu ước đạt 4.171 tỷ đồng, tăng 17,41%. Riêng PTI giảm 4 bậc do thị phần giảm 2,06% khi doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.009 tỷ đồng, giảm 20,84% cùng kỳ.

Ngoài các doanh nghiệp bảo hiểm dẫn đầu thị trường nêu trên, thống kê của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, một số doanh nghiệp bảo hiểm có tỷ lệ tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm gốc mạnh mẽ trên 50% so với năm 2023. Đơn cử, AAA (doanh thu phí bảo hiểm gốc 1.539 tỷ đồng, tăng 150,83%), Tasco (639,54 tỷ đồng, tăng 657,57%), SGI (59,6 tỷ đồng, tăng 94,8%), OPES (2.630 tỷ đồng, tăng 88,86%).

Ở chiều ngược lại, số ít các doanh nghiệp bảo hiểm có doanh thu phí bảo hiểm gốc giảm so với năm 2023 là PTI (4.009 tỷ đồng, giảm 20,84%), MSIG (1.379 tỷ đồng, giảm 8,36%),…

Về cơ cấu sản phẩm, bảo hiểm sức khỏe chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng doanh thu, ước đạt 28.741 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 36,22%. Tiếp theo là bảo hiểm xe cơ giới (18.698 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 23,56%), bảo hiểm cháy nổ (11.599 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 14,62%), bảo hiểm tài sản (8.384 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 10,56%)...

Số tiền bồi thường bảo hiểm gốc của thị trường phi nhân thọ năm 2024 ước đạt 23.808 tỷ đồng, tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc là 30%; thấp hơn tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc năm 2023. Trong đó, 21/32 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc thấp hơn tỷ lệ bồi thường của toàn thị trường. Bên cạnh đó, có 11 doanh nghiệp bảo hiểm còn lại có tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc cao hơn tỷ lệ bồi thường của toàn thị trường, trong đó có 3 doanh nghiệp bảo hiểm có tỷ lệ bồi thường cao là PTI (51,11%), BHV (50,40%), TMIV (50,18%).

Thị trường đón thêm tân binh, nhiều doanh nghiệp dồn dập tăng vốn

Năm qua, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ đón một tân binh mới đi vào hoạt động là Công ty cổ phần bảo hiểm phi nhân thọ Techcom, nâng tổng số doanh nghiệp hoạt động trên thị trường lên 32, cùng 1 chi nhánh doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài và 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm. Theo thông tin từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính), các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục mở rộng địa bàn, mạng lưới kinh doanh và thành lập thêm 31 chi nhánh. Các chi nhánh mới được thành lập đã tổ chức triển khai hoạt động kinh doanh, góp phần vào tăng trưởng doanh thu chung của toàn thị trường.

Cũng trong năm 2024, có 3 doanh nghiệp được Bộ Tài chính chấp thuận về nguyên tắc tăng vốn, 9 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đề nghị tăng vốn điều lệ và được Bộ Tài chính cấp giấy phép điều chỉnh tăng vốn điều lệ, với tổng số vốn chấp thuận tăng lên là hơn 3.961 tỷ đồng. Nhờ đó, doanh nghiệp có cơ hội đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ và triển khai các dự án mở rộng thị trường, phát triển kênh phân phối, tăng dự phòng rủi ro theo quy định mới cũng như tăng năng lực bồi thường. Cùng với đó, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đều đáp ứng quy định về biên khả năng thanh toán.

Trong năm 2024, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ quan tâm thường xuyên đánh giá, rà soát, hoàn thiện quy trình nghiệp vụ về phát triển sản phẩm, khai thác, giám định, bồi thường, tái bảo hiểm; hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ theo quy định hiện hành. Đồng thời tăng cường hiệu quả, hiệu lực của công tác quản trị doanh nghiệp, góp phần giảm thiểu các rủi ro trong kinh doanh, kiểm soát tình trạng nợ phí bảo hiểm.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce sau khi giảm hơn 100 USD/ounce so với phiên trước, kéo chênh lệch với giá vàng trong nước lên 20 triệu đồng/lượng.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,380 ▲80K 14,680 ▲80K
Kim TT/AVPL 14,380 ▲80K 14,680 ▲80K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,380 ▲80K 14,680 ▲80K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 13,300
Nguyên Liệu 99.9 13,050 13,250
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 ▼50K 14,150 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 ▼50K 14,100 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 ▼50K 14,080 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,700 ▲700K 146,700 ▲700K
Hà Nội - PNJ 143,700 ▲700K 146,700 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 143,700 ▲700K 146,700 ▲700K
Miền Tây - PNJ 143,700 ▲700K 146,700 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 143,700 ▲700K 146,700 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,700 ▲700K 146,700 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,380 ▲130K 14,680 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,380 ▲130K 14,680 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,380 ▲130K 14,680 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,280 ▲80K 14,630 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,280 ▲80K 14,630 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,280 ▲80K 14,630 ▲80K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,820 ▲80K 14,520 ▲80K
Trang sức 99.99 13,830 ▲80K 14,530 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,438 ▲6K 14,682 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,438 ▲6K 14,683 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,437 ▲6K 1,467 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,437 ▲6K 1,468 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,417 ▲6K 1,452 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,762 ▲594K 143,762 ▲594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,561 ▲450K 109,061 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,396 ▲408K 98,896 ▲408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,231 ▲366K 88,731 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,531 ▲35K 8,481 ▲35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,204 ▲250K 60,704 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Cập nhật: 26/06/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17575 17848 18423
CAD 17997 18272 18885
CHF 31830 32211 32845
CNY 0 3827 3920
EUR 29271 29491 30569
GBP 33901 34291 35224
HKD 0 3225 3427
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14516 15099
SGD 19749 20031 20603
THB 702 765 818
USD (1,2) 26049 0 0
USD (5,10,20) 26090 0 0
USD (50,100) 26119 26133 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,436 29,460 30,795
JPY 158.36 158.65 167.83
GBP 34,149 34,241 35,339
AUD 17,847 17,911 18,542
CAD 18,218 18,276 18,901
CHF 32,112 32,212 33,084
SGD 19,899 19,961 20,702
CNY - 3,801 3,938
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.68 16.35 17.75
THB 752.23 761.52 813.14
NZD 14,548 14,683 15,082
SEK - 2,659 2,747
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,623 2,710
LAK - 0.9 1.25
MYR 6,004.73 - 6,764.28
TWD 746.19 - 901.83
SAR - 6,897.73 7,248
KWD - 83,270 88,388
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26454
AUD 17812 17912 18835
CAD 18189 18289 19304
CHF 32083 32113 33687
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29466 29496 31226
GBP 34232 34282 36034
HKD 0 3355 0
JPY 159.13 159.63 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14651 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19915 20045 20772
THB 0 732.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,143 26,193 26,454
USD20 26,143 26,193 26,454
USD1 23,936 26,193 26,454
AUD 17,798 17,898 19,005
EUR 29,584 29,584 31,340
CAD 18,120 18,220 19,527
SGD 19,977 20,127 20,691
JPY 159.63 161.13 165.69
GBP 34,083 34,433 35,590
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/06/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80