PTI: Doanh thu phí bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng 14%, lãi hoạt động tài chính tăng gấp đôi

Ánh Tuyết
(TBTCO) - 6 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế 165,6 tỷ đồng, hoàn thành hơn 50% kế hoạch năm. Sau quá trình tái cơ cấu danh mục nghiệp vụ, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng trở lại 14%; đồng thời, hoạt động tài chính khởi sắc với lợi nhuận gấp đôi cùng kỳ, nhờ tối ưu danh mục đầu tư gần 4.600 tỷ đồng.
aa
Bảo hiểm PTI hạ mục tiêu lợi nhuận, “để ngỏ” phương án chia cổ tức tiền mặt 10% PTI đặt kế hoạch thận trọng và tăng vốn điều lệ hơn 600 tỷ đồng trong năm 2026 Phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2045: Mở đường sandbox, xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia

Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Bưu điện (PTI - mã CK: PTI) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 và 6 tháng đầu năm 2026.

Quý II/2026, PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế 83 tỷ đồng, trong bối cảnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng 21,4% lên 1.075,6 tỷ đồng, đánh dấu nhiều quý liên tiếp vượt mốc 1.000 tỷ đồng, phản ánh quy mô khai thác bảo hiểm tiếp tục được mở rộng.

Trong bối cảnh mở rộng quy mô kinh doanh, doanh nghiệp gia tăng chi trả bồi thường và thực hiện đầy đủ cam kết với khách hàng trước các rủi ro phát sinh, khiến chi bồi thường và chi phí kinh doanh bảo hiểm tăng lần lượt là 13,3% và 47,6% so với cùng kỳ. Do đó, lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm lùi về 92,8 tỷ đồng trong quý II/2026, song vẫn cải thiện đáng kể so với mức thấp của quý đầu năm.

PTI đang từng bước lấy lại đà tăng trưởng sau nhiều năm tái cơ cấu danh mục. Từ mức đỉnh gần 6.000 tỷ đồng doanh thu phí bảo hiểm năm 2022, doanh nghiệp chủ động thu hẹp quy mô để cơ cấu danh mục nghiệp vụ, trước khi quay lại quỹ đạo tăng trưởng doanh thu phí bảo hiểm 14% trong nửa đầu năm 2026.

Bù lại, hoạt động tài chính khởi sắc với lợi nhuận đạt 20,9 tỷ đồng, cải thiện mạnh so với khoản âm cùng kỳ, góp phần hỗ trợ kết quả kinh doanh chung. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế 165,6 tỷ đồng, hoàn thành hơn 50% kế hoạch lợi nhuận cả năm (320 tỷ đồng) sau nửa chặng đường và bám sát lộ trình đề ra.

Đây cũng là năm thứ tư liên tiếp PTI có lãi kể từ khoản lỗ đột biến năm 2022, đánh dấu hành trình phục hồi.

Hoạt động kinh doanh cốt lõi tiếp tục tăng trưởng với doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 2.215,8 tỷ đồng, tăng 14% so với cùng kỳ.

Theo đại diện PTI, sau năm 2025 chủ động sàng lọc danh mục để ưu tiên chất lượng, nửa đầu năm 2026, PTI ghi nhận tăng trưởng doanh thu quay trở lại trên một danh mục sạch hơn.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Cùng với việc mở rộng quy mô khai thác, chỉ tiêu chi trả bồi thường tăng 5,9% cùng kỳ, đạt 964,6 tỷ đồng, nhằm đảm bảo quyền lợi khách hàng trước các tổn thất phát sinh. Với PTI, mỗi lệnh chi trả bồi thường không đơn thuần là một khoản chi phí, mà là sự hiện thực hóa cam kết đồng hành cùng khách hàng khi rủi ro xảy ra.

Sau khi bù trừ phần thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm và ghi nhận biến động dự phòng bồi thường, tổng chi bồi thường bảo hiểm ở mức 685,7 tỷ đồng, tăng 83%.

Tính chung lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt 129,1 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm.

Chia sẻ gần đây, bà Hoàng Thị Yến - Tổng Giám đốc PTI bày tỏ, PTI chọn đi con đường khó hơn, không chạy theo doanh số bằng mọi giá, mà kiên trì xây dựng một danh mục lành mạnh và một hệ giải pháp trọn vẹn quanh khách hàng. Kết quả nửa đầu năm 2026 cho thấy, doanh thu tăng trưởng trở lại trên nền tảng đã được sàng lọc, năng lực tài chính vững hơn, cho PTI niềm tin rằng, hướng đi này là đúng.

Cùng với đó, trong 6 tháng đầu năm, hoạt động tài chính của PTI khởi sắc, với lợi nhuận đạt 91,6 tỷ đồng, tăng 102,2% so với cùng kỳ, góp phần bù đắp đáng kể áp lực từ mảng bảo hiểm và duy trì nền tảng kinh doanh ổn định.

Sở dĩ lợi nhuận từ hoạt động tài chính tăng hơn gấp đôi cùng kỳ, nhờ PTI cơ cấu lại danh mục đầu tư theo hướng tăng tiền gửi có kỳ hạn, giúp lãi tiền gửi tăng 12,7% lên 74,5 tỷ đồng. Đồng thời, thu hẹp chứng khoán kinh doanh và đầu tư trái phiếu, kéo chi phí kinh doanh chứng khoán, đầu tư khác giảm mạnh từ 70,5 tỷ đồng xuống còn 3,8 tỷ đồng.

Đại diện PTI cho biết, việc chủ động giảm rủi ro và tối ưu danh mục đầu tư đã giúp lợi nhuận từ hoạt động tài chính tăng mạnh, trở thành trụ đỡ vững chắc trong bối cảnh thị trường nhiều biến động.

Cuối quý II/2026, danh mục đầu tư tài chính của PTI đạt 4.575,9 tỷ đồng, tăng 13% so với đầu năm, chủ yếu nhờ các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn tăng lên 4.526,5 tỷ đồng (tăng 14,8%).

Doanh nghiệp cơ cấu lại danh mục theo hướng tăng mạnh tiền gửi có kỳ hạn dài hạn lên 2.757 tỷ đồng, gấp 6,6 lần đầu năm (chỉ 402 tỷ đồng); đồng thời, giảm tiền gửi ngắn hạn.

Danh mục trái phiếu cũng được thu hẹp còn 693,4 tỷ đồng, giảm 34,3% so với đầu năm, do tất toán toàn bộ trái phiếu ngắn hạn; trong khi chứng khoán kinh doanh giảm còn 49,4 tỷ đồng, tương đương giảm 52,7%.

Bên cạnh khoản đầu tư 14,3 tỷ đồng vào Kasati, PTI duy trì 30,1 tỷ đồng góp vốn tại 6 doanh nghiệp, gồm: Chế biến thủy sản Út Xi, Du lịch Bưu điện, Dịch vụ số liệu Toàn Cầu, Huawei Việt Nam, Bất động sản Phương Nam và Đầu tư Phát triển Công nghệ và Truyền thông./.

Năm 2026, PTI đặt mục tiêu doanh thu bảo hiểm đạt 4.139 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế 320 tỷ đồng, thấp hơn 14,2% so với kết quả thực hiện năm 2025./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 đáp ứng nhu cầu bảo toàn tài sản liên thế hệ ngày càng tăng của người Việt

PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 đáp ứng nhu cầu bảo toàn tài sản liên thế hệ ngày càng tăng của người Việt

(TBTCO) - Khi thế hệ tích sản tại Việt Nam bắt đầu đặt câu hỏi không phải “làm sao để có nhiều hơn” mà là “làm sao để những gì mình tạo dựng không bị mất đi”, sản phẩm bảo hiểm liên kết chung PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 (“PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0”) của Prudential Việt Nam là giải pháp được thiết kế để tối đa bảo toàn và trao truyền di sản cho thế hệ kế tiếp, góp phần đồng hành cùng khách hàng trên hành trình gìn giữ những điều quý giá và chuẩn bị cho tương lai dài hạn.
Nợ xấu tăng nhanh, "bộ đệm" dự phòng chịu sức ép

Nợ xấu tăng nhanh, "bộ đệm" dự phòng chịu sức ép

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết đã lần đầu vượt 300.000 tỷ đồng, đạt hơn 312.100 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tăng 17,5% so với cuối năm 2025, cùng với hơn 1 triệu tỷ đồng nợ "treo" ngoại bảng. Hầu hết các ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng, nhưng "bộ đệm" rủi ro vẫn chịu sức ép trước tốc độ gia tăng của nợ xấu.
Đề xuất cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác đối với một số đối tượng

Đề xuất cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ an toàn khác đối với một số đối tượng

(TBTCO) - Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số luật thuộc lĩnh vực ngân hàng đề xuất bổ sung quy định cho phép Ngân hàng Nhà nước áp dụng một hoặc một số tỷ lệ an toàn khác so với mức quy định đối với đối tượng thanh tra, giám sát ngân hàng để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội.
Giá vàng hôm nay 5/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay 5/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 42 USD/ounce lên 4.076 USD/ounce. Ở thị trường trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn diễn biến phân hóa giữa các doanh nghiệp kinh doanh.
Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn "đổi ngôi" ngoạn mục

Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn "đổi ngôi" ngoạn mục

(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 29 ngân hàng đạt 224.633,6 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 21,1% so với cùng kỳ. Trong đó, Vietcombank tiếp tục giữ "ngôi vương" lợi nhuận, VPBank lần đầu lọt Top 5 nhờ lãi tăng cao nhất nhóm ngân hàng lớn. Ngược lại, 6/29 nhà băng hụt hơi lợi nhuận. Bảng xếp hạng lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2026 có nhiều xáo trộn.
PVcomBank lãi đậm hơn 1.000 tỷ đồng nhờ giảm trích lập, "núi" nợ và lãi treo vẫn đè nặng

PVcomBank lãi đậm hơn 1.000 tỷ đồng nhờ giảm trích lập, "núi" nợ và lãi treo vẫn đè nặng

PVcomBank báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 1.023 tỷ đồng, tăng 25,9%, phần lớn do chi phí dự phòng được cắt giảm đáng kể. Tuy nhiên, chất lượng tài sản vẫn chịu nhiều áp lực, với nợ xấu gần 4.600 tỷ đồng, phần lớn là nợ có khả năng mất vốn; bộ đệm dự phòng mỏng; hơn 23.200 tỷ đồng lãi, phí phải thu cùng hàng chục nghìn tỷ đồng nợ vẫn "treo" ngoại bảng chờ xử lý.
Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng nay giảm hơn 20 USD/ounce, lùi về 4.051 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá vàng miếng tăng nhẹ ở chiều mua vào, còn vàng nhẫn điều chỉnh khác nhau giữa các doanh nghiệp.
Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

Rẽ dòng tín dụng bất động sản, dịch chuyển vốn khỏi phân khúc đầu cơ

(TBTCO) - Tín dụng bất động sản tiếp đà tăng trưởng nửa đầu năm 2026, nhưng phân hóa rõ giữa các phân khúc và chiến lược giải ngân từng ngân hàng. Nhà điều hành kiên định kiểm soát chặt tín dụng bất động sản, song ưu tiên dòng vốn cho các lĩnh vực thiết yếu, hướng thị trường từ đầu cơ ngắn hạn sang an cư, phát triển bền vững.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,900 ▲1700K 141,700 ▲1500K
Hà Nội - PNJ 137,900 ▲1700K 141,700 ▲1500K
Đà Nẵng - PNJ 137,900 ▲1700K 141,700 ▲1500K
Miền Tây - PNJ 137,900 ▲1700K 141,700 ▲1500K
Tây Nguyên - PNJ 137,900 ▲1700K 141,700 ▲1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,900 ▲1700K 141,700 ▲1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,880 ▲130K 14,180 ▲130K
Miếng SJC Nghệ An 13,880 ▲130K 14,180 ▲130K
Miếng SJC Thái Bình 13,880 ▲130K 14,180 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 ▲130K 14,180 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 ▲130K 14,180 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 ▲130K 14,180 ▲130K
NL 99.99 13,000 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▲100K
Trang sức 99.9 13,490 ▲130K 14,090 ▲130K
Trang sức 99.99 13,500 ▲130K 14,100 ▲130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▲13K 1,418 ▲13K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,388 ▲13K 14,182 ▲130K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,388 ▲13K 14,183 ▲130K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,383 ▲18K 1,413 ▲1273K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,383 ▲18K 1,414 ▲13K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,353 ▲1219K 1,398 ▲13K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,416 ▲1287K 138,416 ▲1287K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,521 ▼84714K 10,501 ▼93534K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,424 ▲885K 95,224 ▲885K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,637 ▲794K 85,437 ▲794K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,862 ▲758K 81,662 ▲758K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,652 ▲43841K 58,452 ▲52661K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▲13K 1,418 ▲13K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▲13K 1,418 ▲13K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▲13K 1,418 ▲13K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▲13K 1,418 ▲13K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▲13K 1,418 ▲13K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▲13K 1,418 ▲13K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▲13K 1,418 ▲13K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▲13K 1,418 ▲13K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▲13K 1,418 ▲13K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▲13K 1,418 ▲13K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▲13K 1,418 ▲13K
Cập nhật: 05/08/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17951 18225 18805
CAD 18133 18408 19024
CHF 31774 32155 32811
CNY 0 3848 3941
EUR 29660 29882 30963
GBP 34545 34937 35878
HKD 0 3216 3418
JPY 159 163 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15674
SGD 19929 20211 20784
THB 706 769 823
USD (1,2) 25985 0 0
USD (5,10,20) 26025 0 0
USD (50,100) 26054 26068 26438
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,728 29,752 31,156
JPY 162.09 162.38 172.19
GBP 34,733 34,827 36,029
AUD 18,171 18,237 18,931
CAD 18,316 18,375 19,052
CHF 32,117 32,217 33,161
SGD 20,077 20,139 20,928
CNY - 3,818 3,964
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.99 17.72 19.28
THB 754.91 764.23 817.66
NZD 15,087 15,227 15,679
SEK - 2,716 2,811
DKK - 3,988 4,128
NOK - 2,709 2,805
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,999.53 - 6,772.39
TWD 734.93 - 890.25
SAR - 6,875.54 7,241.37
KWD - 83,231 88,552
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,060 26,080 26,460
EUR 29,728 29,847 31,043
GBP 34,706 34,845 35,878
HKD 3,281 3,294 3,411
CHF 31,923 32,051 32,981
JPY 162.61 163.26 171.20
AUD 18,154 18,227 18,826
SGD 20,138 20,219 20,815
THB 770 773 810
CAD 18,340 18,414 18,996
NZD 15,189 15,736
KRW 17.62 19.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26430
AUD 18144 18244 19169
CAD 18309 18409 19424
CHF 32036 32066 33640
CNY 3828.8 3853.8 3989.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29842 29872 31594
GBP 34842 34892 36649
HKD 0 3355 0
JPY 162.86 163.36 173.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15189 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20087 20217 20948
THB 0 735.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13880000 13880000 14180000
SBJ 12500000 12500000 14180000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,076 26,126 26,470
USD20 26,026 26,126 26,625
USD1 25,976 26,126 26,675
AUD 18,182 18,282 19,395
EUR 29,635 29,735 31,391
CAD 18,251 18,351 19,657
SGD 20,173 20,323 20,880
JPY 163.44 164.94 170.5
GBP 34,724 34,874 35,936
XAU 13,798,000 0 14,102,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/08/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80