Nợ xấu tăng nhanh, "bộ đệm" dự phòng chịu sức ép

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết đã lần đầu vượt 300.000 tỷ đồng, đạt hơn 312.100 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tăng 17,5% so với cuối năm 2025, cùng với hơn 1 triệu tỷ đồng nợ "treo" ngoại bảng. Hầu hết các ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng, nhưng "bộ đệm" rủi ro vẫn chịu sức ép trước tốc độ gia tăng của nợ xấu.
aa

Nợ xấu tăng, nợ “treo”chất đống

Dữ liệu tổng hợp từ 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, đến cuối quý II/2026, tổng nợ xấu (nhóm 3-5) đã lên tới 312.108,5 tỷ đồng, lần đầu tiên vượt mốc 300.000 tỷ đồng. So với cuối năm 2025, quy mô nợ xấu tăng 17,5%, tương đương tăng thêm khoảng 46.420 tỷ đồng.

Đáng chú ý, sau khi tăng 10,6% trong quý I/2026, nợ xấu tiếp tục “phình to” trong quý II/2026, cho thấy áp lực lên chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Đáng lo hơn, tốc độ tăng nợ xấu (17,5%) cao hơn đáng kể so với mức tăng trưởng dư nợ cho vay khách hàng (10,4%) trong cùng kỳ so sánh. Điều này phản ánh nợ xấu đang tích tụ nhanh hơn tốc độ mở rộng tín dụng, nhiều ngân hàng tiếp tục chịu áp lực từ các khoản vay quá hạn và sự suy giảm chất lượng tín dụng.

Nợ xấu tăng nhanh,
Trong quý II/2026, tổng quy mô nợ xấu nội bảng và nợ nhóm 2 của toàn ngành lần lượt tăng 4% và 15% so với quý trước. Đồ họa tư liệu: VDSC

Bức tranh nợ xấu tiếp tục xấu trên diện rộng, khi có tới 23/27 ngân hàng niêm yết ghi nhận nợ xấu tăng so với cuối năm 2025. Xét về tốc độ, có ngân hàng ghi nhận nợ xấu tăng gần 60% chỉ sau nửa đầu năm, đưa quy mô nợ xấu vượt 6.000 tỷ đồng. Xét về quy mô tuyệt đối, có hai ngân hàng có lượng nợ xấu lớn nhất hệ thống, đều vượt mốc 40.000 tỷ đồng.

Đáng chú ý, ngay cả những ngân hàng từng cải thiện chất lượng tài sản trong cùng kỳ năm trước cũng không tránh khỏi xu hướng này, khi nợ xấu đồng loạt gia tăng.

Ở chiều ngược lại, “điểm sáng” ghi nhận tại 4 ngân hàng kéo giảm nợ xấu. Theo đó, VietBank giảm 27% xuống còn 2.240,5 tỷ đồng, NamABank giảm 24,4% còn 3.222 tỷ đồng, SHB giảm 6,2% còn 13.672,1 tỷ đồng và Saigonbank giảm 1,3% còn 640,8 tỷ đồng. Tuy nhiên, mức giảm tại các ngân hàng này không đủ bù đắp đà gia tăng của phần lớn nhà băng còn lại, khiến tổng nợ xấu toàn hệ thống tiếp tục lập mặt bằng cao mới, vượt 312.000 tỷ đồng vào cuối quý II/2026.

Không chỉ nợ xấu nội bảng gia tăng, quy mô nợ khó đòi đã xử lý nhưng vẫn “treo” ngoại bảng của nhóm ngân hàng khảo sát cũng đã vượt mốc 1 triệu tỷ đồng vào cuối quý II/2026, cho thấy áp lực thu hồi các khoản nợ tồn đọng vẫn rất lớn.

Trong đó, ba ngân hàng quốc doanh niêm yết đang theo dõi khoảng 585.515 tỷ đồng nợ ngoại bảng, tăng khoảng 6% so với cuối năm 2025; trong khi hai “ông lớn” ngân hàng tư nhân ghi nhận gần 201.788 tỷ đồng, tăng khoảng 11,5%. Việc quy mô nợ ngoại bảng tiếp tục gia tăng cho thấy quá trình xử lý và thu hồi các khoản nợ đã xóa sổ vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt tại các ngân hàng có quy mô tín dụng lớn.

Đề cập đến những khó khăn trong hoạt động thu hồi nợ, trao đổi tại sự kiện công bố kết quả kinh doanh mới đây, bà Lê Hoàng Khánh An - Giám đốc tài chính Ngân hàng VPBank cho rằng, thanh khoản của thị trường bất động sản chậm lại trong thời gian qua, cùng các giải pháp công nghệ khi triển khai chưa đạt kỳ vọng, ảnh hưởng đến hiệu quả thu hồi nợ của ngân hàng. Dù vậy, thu nhập từ hoạt động thu hồi nợ vẫn tăng 10% so với cùng kỳ năm 2025.

Bên cạnh đó, theo đại diện VPBank, thu từ xử lý nợ cũng ghi nhận kết quả tăng trưởng rất tích cực tại FE Credit, đóng góp khoảng 40% tổng thu nhập từ nợ đã xử lý của toàn bộ bức tranh hợp nhất.

Báo cáo của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cũng cho thấy, thu hồi nợ xấu đã xử lý rủi ro trong quý II/2026 các ngân hàng niêm yết đạt hơn 11.400 tỷ đồng, giảm nhẹ 1% so với cùng kỳ và là quý đầu tiên ghi nhận tăng trưởng âm sau chuỗi nhiều quý tăng mạnh. Theo VDSC, diễn biến này là tín hiệu cho thấy thanh khoản của thị trường bất động sản - kênh xử lý tài sản bảo đảm chủ yếu, đang hạ nhiệt trong bối cảnh lãi suất ở mức cao.

Bài toán mở rộng tín dụng, giữ vững chất lượng tài sản

Giữ vị thế nổi bật trong mảng bán lẻ, VPBank đẩy mạnh cho vay tín chấp trên nền tảng kiểm soát chặt chất lượng tín dụng và nợ xấu.

Ông Phùng Duy Khương - Giám đốc Khối Khách hàng cá nhân VPBank nhận định, từ sau giai đoạn Covid-19 đến nay, dù kinh tế đối mặt nhiều thách thức, VPBank vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao ở mảng cho vay tín chấp. Trong 6 tháng đầu năm, giải ngân cho vay tín chấp đạt 15.000 tỷ đồng, tăng 47% so với cùng kỳ, đi cùng với việc kiểm soát tốt chất lượng tín dụng và nợ xấu.

Ưu tiên tăng trưởng có chất lượng

“Chúng tôi cho rằng Ngân hàng Nhà nước hoàn toàn không siết tăng trưởng, mà để đảm bảo tăng trưởng một cách có chất lượng hơn. Đương nhiên lợi thế sẽ thuộc về các ngân hàng có nguồn vốn ổn định, có chất lượng tài sản tốt”.

Bà Bùi Thị Thu Thủy - Khối Tài chính kế hoạch Techcombank

Kết quả này đến từ một số yếu tố, theo phân tích của đại diện VPBank. Thứ nhất, hệ thống quản trị rủi ro và mô hình chấm điểm, phê duyệt tín dụng của VPBank sử dụng nhiều nguồn dữ liệu khác nhau, giúp nâng cao độ chính xác trong thẩm định và phê duyệt đối với nhiều phân khúc khách hàng vay tín chấp.

Thứ hai, việc mở rộng hệ sinh thái hợp tác với các đối tác để tạo nguồn khách hàng và hồ sơ vay mới. Với tệp khoảng 16 triệu khách hàng hiện hữu, VPBank có nhiều cơ hội nhận diện những khách hàng chưa từng vay hoặc đang vay nhưng còn dư địa nâng hạn mức, qua đó, vừa thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, vừa góp phần kiểm soát tốt chất lượng nợ.

Tương tự, Techcombank cũng theo đuổi mục tiêu cân bằng giữa mở rộng quy mô tín dụng và kiểm soát chất lượng tài sản.

Theo bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc cao cấp Quản trị tài chính doanh nghiệp, Khối Tài chính kế hoạch Techcombank, trong 6 tháng đầu năm, tăng trưởng tín dụng của ngân hàng đạt 14,3%, bao gồm cả các khoản giải ngân cho các dự án hạ tầng và nhà ở xã hội.

Nếu loại trừ các khoản này, tăng trưởng tín dụng Techcombank đạt 11,6% và tuân thủ hạn mức tăng trưởng tín dụng được Ngân hàng Nhà nước cấp từ đầu năm.

Về chất lượng tài sản, bà Thủy cho biết, mặc dù Techcombank duy trì tốc độ tăng trưởng tín dụng khá mạnh trong 6 tháng đầu năm, tỷ lệ nợ xấu vẫn được giữ ở mức 1,15%. Đồng thời, tỷ lệ bao phủ nợ xấu đạt 125,5%, tạo bộ đệm dự phòng tốt trước các rủi ro tiềm ẩn. Ngân hàng luôn kiên định với chiến lược tăng trưởng quy mô đi đôi với chất lượng và quản trị rủi ro hiệu quả, nhằm đảm bảo tăng trưởng bền vững.

Áp lực dự phòng gia tăng khi nợ xấu tiếp tục “phình to”

Trong bối cảnh tổng nợ xấu của 27 ngân hàng niêm yết tăng 17,5% so với cuối năm 2025, có tới 22/27 ngân hàng gia tăng trích lập dự phòng rủi ro cho vay nhằm củng cố “bộ đệm” ứng phó với rủi ro tín dụng.

Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu chỉ tăng khoảng 11,9%, thấp hơn tốc độ gia tăng của nợ xấu, cho thấy áp lực xử lý nợ vẫn rất lớn.

Trong nhóm có “bộ đệm” dự phòng dày nhất, Vietcombank dẫn đầu với gần 30.000 tỷ đồng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng, tương ứng mức bao phủ đạt 279,3%. Theo sau là BacABank (134,9%), VietinBank (134%), Techcombank (125,6%), ACB (105,3%) và VietABank lần đầu vượt 100%, đạt 100,4%. Điều này cho thấy nhiều ngân hàng vẫn tích cực củng cố dự phòng.

Nhóm phân tích VDSC cho rằng, áp lực trích lập dự phòng sẽ gia tăng trong nửa cuối năm 2026 và là rủi ro chính đối với tăng trưởng lợi nhuận của ngành, đặc biệt tại nhóm ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) dưới 60%.

Theo đó, các biến số cần theo dõi trong các quý tới được VDSC chỉ rõ, đó là tốc độ hình thành nợ nhóm 2 có chững lại hay không khi mặt bằng lãi suất tạo đỉnh; khả năng duy trì nguồn thu hồi nợ ngoại bảng trước diễn biến hạ nhiệt của thanh khoản thị trường bất động sản; cùng tiến độ củng cố bộ đệm dự phòng tại các ngân hàng có lượng nợ xấu hình thành ròng lớn.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay 5/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay 5/8: Giá vàng thế giới tăng hơn 40 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 42 USD/ounce lên 4.076 USD/ounce. Ở thị trường trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn diễn biến phân hóa giữa các doanh nghiệp kinh doanh.
Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn "đổi ngôi" ngoạn mục

Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn "đổi ngôi" ngoạn mục

(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 29 ngân hàng đạt 224.633,6 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, tăng 21,1% so với cùng kỳ. Trong đó, Vietcombank tiếp tục giữ "ngôi vương" lợi nhuận, VPBank lần đầu lọt Top 5 nhờ lãi tăng cao nhất nhóm ngân hàng lớn. Ngược lại, 6/29 nhà băng hụt hơi lợi nhuận. Bảng xếp hạng lợi nhuận ngân hàng nửa đầu năm 2026 có nhiều xáo trộn.
SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

(TBTCO) - SJ Group ghi nhận lợi nhuận trước thuế 526,3 tỷ đồng sau nửa đầu năm, tăng 143,1% so với cùng kỳ. Doanh thu trong kỳ chủ yếu đến từ các hợp đồng đã ký và khoản thanh toán theo tiến độ tại dự án Nam An Khánh trong năm 2025.
Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC báo lãi trước thuế quý II/2026 đạt 169,6 tỷ đồng, tăng mạnh 42,3% so với quý trước, song lũy kế 6 tháng mới đạt 288,8 tỷ đồng, chịu tác động khi không còn khoản chốt lời chứng khoán lớn như cùng kỳ. Dù vậy, phí bảo hiểm gốc của BIC duy trì đà tăng 5,7% lên 2.832,8 tỷ đồng cùng kỳ; danh mục đầu tư được mở rộng lên gần 7.500 tỷ đồng.
Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Hà Nội - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Miền Tây - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,000 ▲800K 140,900 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,800 ▲50K 14,100 ▲50K
NL 99.99 12,950 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850 ▲50K
Trang sức 99.9 13,410 ▲50K 14,010 ▲50K
Trang sức 99.99 13,420 ▲50K 14,020 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 138 ▼1237K 14,102 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 138 ▼1237K 14,103 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,375 ▲10K 1,405 ▲1265K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,375 ▲10K 1,406 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 ▲1211K 139 ▼1246K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 ▲495K 137,624 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 ▼84774K 10,441 ▼93594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 ▲340K 94,679 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 ▲305K 84,948 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 ▲291K 81,195 ▲291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 ▲43508K 58,119 ▲52328K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 ▼1237K 141 ▼1264K
Cập nhật: 05/08/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18837
CAD 18137 18413 19026
CHF 31864 32245 32895
CNY 0 3852 3944
EUR 29673 29895 30971
GBP 34538 34930 35870
HKD 0 3218 3420
JPY 160 164 170
KRW 0 17 19
NZD 0 15115 15702
SGD 19967 20249 20818
THB 707 770 823
USD (1,2) 26002 0 0
USD (5,10,20) 26043 0 0
USD (50,100) 26072 26086 26450
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,694 29,718 31,121
JPY 162.14 162.43 172.24
GBP 34,689 34,783 35,994
AUD 18,161 18,227 18,915
CAD 18,325 18,384 19,058
CHF 32,065 32,165 33,120
SGD 20,068 20,130 20,915
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,282 3,292 3,429
KRW 16.98 17.71 19.27
THB 753.32 762.62 815.94
NZD 15,098 15,238 15,693
SEK - 2,711 2,807
DKK - 3,983 4,123
NOK - 2,707 2,803
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,002.46 - 6,775.71
TWD 732 - 886.7
SAR - 6,875.17 7,240.99
KWD - 83,204 88,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,060 26,080 26,460
EUR 29,728 29,847 31,043
GBP 34,706 34,845 35,878
HKD 3,281 3,294 3,411
CHF 31,923 32,051 32,981
JPY 162.61 163.26 171.20
AUD 18,154 18,227 18,826
SGD 20,138 20,219 20,815
THB 770 773 810
CAD 18,340 18,414 18,996
NZD 15,189 15,736
KRW 17.62 19.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26440
AUD 18143 18243 19169
CAD 18304 18404 19420
CHF 32060 32090 33672
CNY 3831.1 3856.1 3991.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29821 29851 31573
GBP 34804 34854 36614
HKD 0 3355 0
JPY 163.02 163.52 174.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15211 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20102 20232 20954
THB 0 733.9 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,090 26,140 26,470
USD20 26,040 26,140 26,625
USD1 24,135 26,140 26,675
AUD 18,192 18,292 19,429
EUR 29,630 29,730 31,418
CAD 18,266 18,366 19,692
SGD 20,184 20,334 20,912
JPY 163.67 165.17 170.87
GBP 34,714 34,864 35,965
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/08/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80