"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm
PV: Đề án “Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam đến năm 2045” đặt ra nhiều mục tiêu và định hướng mới cho thị trường bảo hiểm. Theo ông, đâu là điểm đột phá đáng chú ý nhất và kỳ vọng sẽ tạo ra những thay đổi gì đối với sự phát triển dài hạn của thị trường?
![]() |
| Ông Nguyễn Đức Thắng |
Ông Nguyễn Đức Thắng: Đề án Cải cách Tổng thể thị trường tài chính Việt Nam gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, liên tục đến năm 2045 tạo động lực tích cực đối với thị trường bảo hiểm; trong đó, phân công rõ đơn vị chủ trì, đơn vị phối hợp, lộ trình và thời hạn triển khai, tạo cơ sở để các nhiệm vụ được thực hiện đồng bộ và hiệu quả.
Các định hướng trong Đề án được kỳ vọng sẽ tạo ra ba thay đổi chính về dài hạn. Thứ nhất, tăng cường sự minh bạch và hiệu quả trong quản lý hợp đồng, bồi thường thông qua Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia, giúp kết nối thông tin, giảm trùng lặp, rút ngắn thời gian xử lý và giảm tranh chấp.
Thứ hai, đổi mới sản phẩm bảo hiểm đáp ứng rủi ro mới phát sinh. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) cho phép thử nghiệm nhanh các sản phẩm bảo hiểm mới cho rủi ro mới của nền kinh tế số, biến đổi khí hậu, già hóa dân số, từ đó, mở ra phân khúc thị trường mới.
Thứ ba, tổ chức và cấu trúc hệ thống kênh phân phối chuyên nghiệp và đa dạng. Việc kết hợp kênh số và kênh truyền thống, áp dụng công nghệ để giám sát chất lượng tư vấn, sẽ nâng cao năng lực tư vấn, giảm sai sót và tăng độ bao phủ tỷ lệ tham gia bảo hiểm trong toàn dân.
Đây sẽ là nền tảng để thị trường bảo hiểm chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, phát triển minh bạch, bền vững và phù hợp hơn với nhu cầu của xã hội Việt Nam hiện đại.
![]() |
| Phấn đấu đến năm 2030, quy mô doanh thu thị trường bảo hiểm đạt khoảng 3,3 - 3,5% GDP. Ảnh: An Thư |
PV: So với các mục tiêu mà Đề án đặt ra, theo ông, thị trường bảo hiểm, đặc biệt là bảo hiểm nhân thọ, đang còn khoảng cách lớn nào cần thu hẹp?
Ông Nguyễn Đức Thắng: Hiện có khoảng 12% dân số tham gia bảo hiểm, trong khi mục tiêu đến năm 2045 là 20%, cho thấy dư địa mở rộng thị trường còn rất lớn. Đồng thời, mục tiêu nâng phí bảo hiểm bình quân lên 7 triệu đồng/người/năm cũng phản ánh kỳ vọng tăng mạnh quy mô doanh thu, đặc biệt ở lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn nhiều tồn tại, do năng lực tư vấn chưa đồng đều, thông tin sản phẩm chưa minh bạch, tỷ lệ hủy hợp đồng sớm cao ở một số sản phẩm nhân thọ. Đây là rào cản lớn để tăng tỷ lệ duy trì hợp đồng và mở rộng độ bao phủ.
Cùng với đó, mức độ ứng dụng dữ liệu lớn, AI trong định phí, phát hiện gian lận và quản trị rủi ro chưa phổ biến; hệ thống dữ liệu liên ngành chưa đồng bộ, làm hạn chế khả năng phát triển sản phẩm cá nhân hóa và quản lý rủi ro hiệu quả.
Kỳ vọng hai “mảnh ghép” tạo bước ngoặt cho thị trường bảo hiểm“Một trong những điểm đột phá nhất của Đề án với thị trường bảo hiểm là đề xuất xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và mở cửa cho sandbox với một số mô hình kinh doanh bảo hiểm ứng dụng công nghệ mới. Đây không chỉ là các sáng kiến kỹ thuật, mà là nền tảng để chuyển đổi toàn diện cách thức vận hành của ngành bảo hiểm Việt Nam”. Ông Nguyễn Đức Thắng |
Tình trạng trục lợi và gian lận bồi thường kéo dài làm tăng chi phí, ảnh hưởng niềm tin khách hàng và cản trở thị trường phát triển.
Đề án đã chỉ rõ nhu cầu xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia để khắc phục vấn đề này; đồng thời, đề ra nhiệm vụ, giải pháp tập trung vào ba trụ cột chiến lược: (i) chuyên nghiệp hóa kênh phân phối và bảo vệ khách hàng; (ii) chuyển đổi số và dữ liệu; (iii) hoàn thiện khung quản trị, vốn và minh bạch.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục tập trung vào hai “điểm tựa” cốt lõi, quan trọng nhất của thị trường bảo hiểm để tạo chuyển biến bền vững.
Đó là đẩy mạnh giáo dục nhận thức và truyền thông để người dân hiểu đúng bản chất, nguyên tắc và giá trị của bảo hiểm, thay vì bị chi phối bởi các thông tin tiêu cực, không chính xác trên mạng xã hội. Bên cạnh đó, tăng cường cung cấp thông tin chính thống, phát huy vai trò của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và tổ chức xã hội trong việc kịp thời làm rõ, phản hồi các thông tin sai lệch, củng cố niềm tin thị trường.
PV: Xin ông phân tích rõ hơn việc mở đường cơ chế sandbox (thử nghiệm có kiểm soát) với các mô hình kinh doanh bảo hiểm ứng dụng công nghệ mới, định hướng phát triển các sản phẩm bảo hiểm mới sẽ mở ra cơ hội gì cho doanh nghiệp bảo hiểm?
Ông Nguyễn Đức Thắng: Điểm khác biệt của sản phẩm bảo hiểm trong sandbox là các sản phẩm mới, chưa có khung pháp lý đầy đủ, có yếu tố công nghệ hoặc mô hình kinh doanh mới, tiềm ẩn rủi ro chưa được kiểm chứng như: rủi ro công nghệ, rủi ro mô hình định phí, rủi ro đạo đức, rủi ro dữ liệu… Chẳng hạn như bảo hiểm dựa trên dữ liệu thời gian thực, bảo hiểm theo hành vi, bảo hiểm vi mô số hóa, sử dụng AI để định phí…
Vì vậy, phải thử nghiệm trong môi trường có kiểm soát, để tránh rủi ro hệ thống, bảo vệ người tiêu dùng và giúp cơ quan quản lý hoàn thiện khung pháp lý trước khi triển khai đại trà.
Dựa trên các định hướng của Đề án, cơ chế này được kỳ vọng sẽ mở ra nhiều cơ hội cho doanh nghiệp bảo hiểm. Theo đó, sandbox cho phép doanh nghiệp nhanh chóng thử nghiệm các sản phẩm bảo hiểm và mô hình phân phối mới trong môi trường có kiểm soát, qua đó, rút ngắn thời gian thương mại hóa và giảm chi phí pháp lý ban đầu. Đồng thời, mở rộng phân khúc khách hàng, tạo nguồn doanh thu mới và ổn định.
Việc tăng cường hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ tài chính (Fintech) và Insurtech giúp doanh nghiệp bảo hiểm truyền thống tiếp cận công nghệ, dữ liệu và trải nghiệm khách hàng hiện đại, qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh.
Doanh nghiệp chuẩn bị tốt sẽ giúp chuyển hóa các chính sách mới thành lợi thế cạnh tranh, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.
PV: Trục lợi bảo hiểm vẫn là bài toán lớn của thị trường. Theo ông, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và ứng dụng AI, blockchain sẽ tạo ra những thay đổi gì trong quản lý, giám sát và củng cố niềm tin khách hàng?
Ông Nguyễn Đức Thắng: Các giải pháp này được kỳ vọng sẽ sớm khắc phục những tồn tại của thị trường.
Đầu tiên, giảm trục lợi và gian lận. Blockchain lưu vết hồ sơ bồi thường giúp đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu; Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia cho phép kiểm tra chéo thông tin; AI phát hiện mẫu bất thường trong yêu cầu bồi thường.
Khi hồ sơ hợp đồng, lịch sử yêu cầu bồi thường và các chứng từ liên quan được lưu vết trên nền tảng phân tán có chữ ký số, mọi thay đổi đều để lại dấu vết không thể chỉnh sửa. Điều này làm giảm đáng kể khả năng sửa hồ sơ, khai báo sai sự thật hay tạo hồ sơ giả để trục lợi.
Tiếp theo, góp phần rút ngắn thời gian xử lý bồi thường. Dữ liệu liên thông và tự động hóa giúp giảm thủ tục hành chính, tăng tốc độ giải quyết quyền lợi cho khách hàng. Khi dữ liệu chuẩn hóa và quy trình bồi thường được tự động hóa (với các bước kiểm tra tự động, xác thực tài liệu qua blockchain và phê duyệt theo quy tắc định sẵn/AI), thời gian xử lý giảm mạnh, chi phí vận hành giảm, năng lực xử lý tăng.
Khi quy trình minh bạch, công bằng và nhanh chóng, khách hàng cảm nhận được giá trị thực sự của bảo hiểm, từ đó sẵn sàng tham gia nhiều hơn. Khách hàng có thể kiểm tra trạng thái hợp đồng, lịch sử yêu cầu bồi thường và tiến trình xử lý một cách rõ ràng. Khi mọi bước đều có dấu vết và có thể kiểm chứng, niềm tin tăng lên.
Nhờ đó, cơ quan quản lý có thể giám sát chủ động hơn, tăng tính minh bạch của thị trường và củng cố niềm tin của người tham gia bảo hiểm.
PV: Xin cảm ơn ông!



