Việt Nam chuyển từ giai đoạn cần nhiều vốn sang cần chất lượng

Đức Việt
(TBTCO) - ThS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng ban Kinh tế vĩ mô và dự báo, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính) cho rằng, để Nghị quyết số 10-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả trong thu hút FDI thế hệ mới, điều quan trọng nhất là phải chuyển nhanh các định hướng của Nghị quyết thành các chính sách cụ thể, có tính khả thi và có cơ chế tổ chức thực hiện đồng bộ.
aa

PV: Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài định hướng thu hút các dự án FDI có chọn lọc, chất lượng cao, theo bà, điều này tác động như thế nào đến các nhà đầu tư nước ngoài?

Việt Nam chuyển từ giai đoạn cần nhiều vốn sang cần chất lượng
ThS. Lê Thị Mai Liên

ThS. Lê Thị Mai Liên: Theo tôi, định hướng thu hút FDI có chọn lọc, chất lượng cao trong Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ có một số tác động đến các nhà đầu tư nước ngoài, đó là các tập đoàn đa quốc gia tham gia đầu tư ở Việt Nam phải có chiến lược đầu tư dài hạn, phải nâng cấp chất lượng dự án đầu tư.

Do tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư sẽ cao hơn. Những dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều năng lượng, phát thải lớn, khai thác lao động giá rẻ hoặc có nguy cơ chuyển giá sẽ không còn là đối tượng ưu tiên. Ngược lại, các doanh nghiệp có công nghệ tiên tiến, quản trị hiện đại, cam kết chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội hơn.

Thực tế cho thấy Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để thực hiện bước chuyển này. Sau gần 40 năm thu hút FDI, cả nước đã thu hút hơn 500 tỷ USD vốn FDI đăng ký, trong đó vốn thực hiện đạt trên 330 tỷ USD; khu vực FDI hiện đóng góp khoảng 20% GDP, trên 70% kim ngạch xuất khẩu, khoảng 50% giá trị sản xuất công nghiệp và tạo việc làm trực tiếp cho hơn 5 triệu lao động. Những con số này cho thấy Việt Nam đã chuyển từ giai đoạn cần nhiều vốn sang giai đoạn cần chất lượng và hiệu quả của dòng vốn.

Tóm lại, tác động lớn nhất của Nghị quyết là làm thay đổi “luật chơi” đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Việt Nam không còn cạnh tranh chủ yếu bằng lao động giá rẻ hay ưu đãi thuế, mà chuyển sang cạnh tranh bằng chất lượng thể chế, chất lượng nguồn nhân lực, hạ tầng hiện đại, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Điều này vừa tạo động lực để các nhà đầu tư nước ngoài nâng cấp dự án, vừa góp phần nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Việt Nam chuyển từ giai đoạn cần nhiều vốn sang cần chất lượng
Các dự án FDI thế hệ mới không chỉ mang theo vốn mà còn mang theo công nghệ, dữ liệu, phương thức quản trị và mạng lưới thị trường toàn cầu. Ảnh: Đức Thanh

PV: Theo bà, Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân trong nước nâng cao năng lực liên kết với doanh nghiệp FDI ra sao trong hình thành chuỗi giá trị toàn cầu?

ThS. Lê Thị Mai Liên: Đây là một trong những điểm đột phá quan trọng nhất của Nghị quyết số 10-NQ/TW. Nếu trước đây trọng tâm của chính sách FDI là thu hút vốn, công nghệ và việc làm, thì lần này Nghị quyết hướng tới mục tiêu cao hơn là tạo ra sự liên kết thực chất giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp tư nhân trong nước, qua đó nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam.

Tôi cho rằng, Nghị quyết sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tư nhân trong nước nâng cao năng lực liên kết với doanh nghiệp FDI trên ba phương diện: Trước hết, chuyển từ mối quan hệ “cùng tồn tại” sang “cùng phát triển”. Nghị quyết yêu cầu việc lựa chọn các dự án FDI phải gắn với tiêu chí có khả năng liên kết với doanh nghiệp trong nước, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và phát triển công nghiệp hỗ trợ. Điều đó có nghĩa là liên kết với doanh nghiệp Việt Nam sẽ trở thành một tiêu chí quan trọng trong đánh giá hiệu quả đầu tư, thay vì chỉ dựa vào quy mô vốn hay giá trị xuất khẩu.

Triển khai Nghị quyết là một chương trình cải cách thể chế toàn diện

Theo ThS. Lê Thị Mai Liên, cần coi việc triển khai Nghị quyết là một chương trình cải cách thể chế toàn diện chứ không đơn thuần là chính sách thu hút đầu tư. Thành công của Nghị quyết sẽ không chỉ được đo bằng việc Việt Nam thu hút thêm bao nhiêu tỷ USD vốn FDI, mà quan trọng hơn là thu hút được bao nhiêu dự án công nghệ cao, bao nhiêu trung tâm R&D, bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và mức độ lan tỏa của khu vực FDI đối với năng suất, đổi mới sáng tạo và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

Tiếp đến, tạo động lực để doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực cạnh tranh. Muốn trở thành nhà cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia, doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn rất cao về chất lượng sản phẩm, quản trị doanh nghiệp, chuyển đổi số, tiêu chuẩn môi trường, lao động và phát triển bền vững. Nghị quyết sẽ thúc đẩy Nhà nước hoàn thiện các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị, phát triển công nghiệp hỗ trợ và nguồn nhân lực chất lượng cao, từ đó từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Cuối cùng là hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Các dự án FDI thế hệ mới không chỉ mang theo vốn mà còn mang theo công nghệ, dữ liệu, phương thức quản trị và mạng lưới thị trường toàn cầu. Khi các doanh nghiệp

Việt Nam tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn này, họ không chỉ bán được sản phẩm mà còn tiếp cận tiêu chuẩn quốc tế, học hỏi công nghệ, nâng cao năng suất và từng bước phát triển thương hiệu của mình.

Thành công của Nghị quyết sẽ không được đo bằng việc thu hút thêm bao nhiêu tỷ USD vốn FDI, mà quan trọng hơn là có bao nhiêu doanh nghiệp tư nhân Việt Nam trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 của các tập đoàn đa quốc gia, có bao nhiêu công nghệ được chuyển giao và bao nhiêu doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Khi doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp FDI thực sự trở thành các mắt xích của cùng một hệ sinh thái sản xuất và đổi mới sáng tạo, đó mới là động lực bền vững để nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh quốc gia và đưa Việt Nam phát triển theo hướng hiện đại, có thu nhập cao.

PV: Bà có khuyến nghị gì để Nghị quyết số 10-NQ/TW phát huy hiệu quả cao nhất trong thu hút FDI theo mục tiêu đề ra trong thời gian tới?

ThS. Lê Thị Mai Liên: Để Nghị quyết số 10-NQ/TW thực sự đi vào cuộc sống, theo tôi, thứ nhất, nhanh chóng hoàn thiện thể chế và tạo môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, có khả năng dự báo cao.

Thứ hai, cần chuyển mạnh từ chính sách ưu đãi sang chính sách hỗ trợ nhà đầu tư tạo giá trị gia tăng. Trong bối cảnh thuế tối thiểu toàn cầu đang được nhiều quốc gia áp dụng, dư địa cạnh tranh bằng ưu đãi thuế ngày càng thu hẹp. Việt Nam cần tập trung phát triển các yếu tố nền tảng như hạ tầng chiến lược, nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lượng ổn định, logistics hiện đại, hạ tầng số, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp.

Thứ ba, phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân và công nghiệp hỗ trợ trong nước để tăng khả năng hấp thụ dòng vốn FDI. Do vậy, cần có các chương trình quốc gia hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, đáp ứng các tiêu chuẩn ESG và tiêu chuẩn của các tập đoàn đa quốc gia để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Thứ tư, đổi mới phương thức xúc tiến đầu tư theo hướng chủ động và có chọn lọc. Thay vì xúc tiến đầu tư theo địa bàn hoặc ngành nghề truyền thống, cần xây dựng danh mục các tập đoàn mục tiêu, các chuỗi giá trị chiến lược và các công nghệ ưu tiên như bán dẫn, AI, công nghệ sinh học, trung tâm dữ liệu, năng lượng xanh... Đồng thời, cần thành lập các tổ công tác chuyên trách để đồng hành cùng các nhà đầu tư chiến lược từ giai đoạn nghiên cứu dự án đến triển khai và mở rộng đầu tư.

Thứ năm, tăng cường phân cấp đi đôi với cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả thu hút FDI. Các địa phương cần được trao quyền chủ động hơn trong thu hút đầu tư, nhưng việc đánh giá không nên chỉ dựa trên số lượng dự án hay tổng vốn đăng ký mà phải dựa trên các tiêu chí như giá trị gia tăng tạo ra, mức độ chuyển giao công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, mức độ liên kết với doanh nghiệp trong nước, đóng góp cho đổi mới sáng tạo, phát triển xanh và chất lượng việc làm.

PV: Xin cảm ơn bà!

Đức Việt

Đọc thêm

Giảm 30% thuế thu nhập: Khoản “đệm” tài chính giúp doanh nghiệp trụ vững trước biến động

Giảm 30% thuế thu nhập: Khoản “đệm” tài chính giúp doanh nghiệp trụ vững trước biến động

(TBTCO) - Trả lời phỏng vấn phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chính sách giảm 30% thuế thu nhập đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp, ông Đinh Văn Đoàn - Giám đốc Công ty TNHH Thương mại và Vận tải du lịch H&D cho rằng, đây là một khoản “đệm” tài chính an toàn để doanh nghiệp linh hoạt xoay vòng vốn trong kinh doanh, đặc biệt là trong những thời điểm thị trường có nhiều biến động.
Giảm gánh nặng thực hiện nghĩa vụ thuế cho người kinh doanh

Giảm gánh nặng thực hiện nghĩa vụ thuế cho người kinh doanh

(TBTCO) - Việc các nền tảng thương mại điện tử có chức năng thanh toán được giao trách nhiệm khấu trừ, khai và nộp thuế thay hộ, cá nhân kinh doanh và nhà cung cấp nước ngoài đã góp phần nâng cao hiệu quả quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh xuyên biên giới, tăng tính minh bạch của thị trường. Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Đặng Văn Thành - Phó Chi cục trưởng Chi cục Thuế Thương mại điện tử (Cục Thuế) làm rõ thêm những thay đổi của chính sách.
Nâng tầm thị trường chứng khoán, tạo sức hút với dòng vốn dài hạn

Nâng tầm thị trường chứng khoán, tạo sức hút với dòng vốn dài hạn

(TBTCO) - Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam đến năm 2045 được kỳ vọng tạo động lực nâng cao chất lượng thị trường chứng khoán, thúc đẩy luân chuyển vốn và mở rộng khả năng thu hút các nhà đầu tư tổ chức. Trao đổi với phóng viên, ông Trương Hiền Phương - Giám đốc cấp cao Công ty cổ phần Chứng khoán KIS Việt Nam cho rằng, cùng với tiến trình nâng hạng, Việt Nam cần gia tăng nguồn hàng chất lượng, hoàn thiện hạ tầng, nâng cao tính minh bạch và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế để thu hút dòng vốn bền vững.
Tăng dư nợ trái phiếu lên 60% GDP: Xây nền tảng tài chính bền vững cho tăng trưởng

Tăng dư nợ trái phiếu lên 60% GDP: Xây nền tảng tài chính bền vững cho tăng trưởng

(TBTCO) - Chia sẻ với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phùng Xuân Minh - Chủ tịch Hội đồng Quản trị Saigon Ratings cho rằng, việc phát triển thị trường trái phiếu theo hướng mở rộng quy mô, nâng cao tính minh bạch và hoàn thiện hạ tầng sẽ góp phần nâng cao vai trò cung ứng nguồn vốn trung, dài hạn, hướng tới cân bằng hơn trong vai trò dẫn vốn với hệ thống ngân hàng.
Việt Nam cần biến sức ép từ thuế quan thành động lực cải cách

Việt Nam cần biến sức ép từ thuế quan thành động lực cải cách

(TBTCO) - Mức thuế bổ sung 12,5% chắc chắn tạo ra áp lực ngắn hạn. Điều quan trọng là chúng ta phải biến sức ép từ thuế quan thành động lực cải cách, nâng cao chất lượng quản trị, minh bạch chuỗi cung ứng và gia tăng giá trị của hàng hóa Việt Nam. Khi đó, doanh nghiệp không chỉ giữ vững thị phần tại Hoa Kỳ, mà còn có điều kiện mở rộng sang nhiều thị trường khác. PGS.TS Nguyễn Thường Lạng - Chuyên gia kinh tế và thương mại quốc tế, giảng viên cao cấp Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế (Đại học Kinh tế Quốc dân) khẳng định như vậy khi trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Chính sách tài khóa mở dư địa cho tăng trưởng kinh tế

Chính sách tài khóa mở dư địa cho tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - TS. Lê Duy Bình - Giám đốc Economica Việt Nam đánh giá, chính sách tài khóa đang chủ động trong việc dẫn dắt, trở thành động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế. Trong giai đoạn cuối năm, chính sách tài khóa và tiền tệ cần phối hợp đồng bộ hơn nữa, để vừa đảm bảo thúc đẩy tăng trưởng và giải ngân vốn đầu tư công, nhưng không tạo áp lực lên cung tiền, cũng như hệ thống tiền tệ.
Doanh nghiệp cần chuẩn bị cho một cuộc chơi dài hạn

Doanh nghiệp cần chuẩn bị cho một cuộc chơi dài hạn

(TBTCO) - Trả lời phỏng vấn Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Trương Quang Dũng - Giảng viên ngành Quản lý chuỗi cung ứng và logistics, Đại học RMIT Việt Nam cho rằng, việc Hoa Kỳ áp dụng thuế nhập khẩu bổ sung theo Mục 301 đối với hàng hóa Việt Nam sẽ không khiến đơn hàng dịch chuyển ngay trong ngắn hạn, nhưng có thể làm thay đổi quyết định đặt hàng mới và gia tăng áp lực cạnh tranh.
Lập doanh nghiệp rồi "bỏ quên", "ông chủ" đối diện hàng loạt hậu quả

Lập doanh nghiệp rồi "bỏ quên", "ông chủ" đối diện hàng loạt hậu quả

(TBTCO) - Thành lập doanh nghiệp xong rồi “bỏ quên” không hoạt động trong nhiều năm, người đại diện pháp luật có thể đối diện với việc phải hoàn thành một khoản thuế khá lớn. Nghiêm trọng hơn, người đại diện pháp luật còn đối mặt với nguy cơ bị tạm hoãn xuất cảnh nếu nợ thuế. Luật sư Nguyễn Văn Được - Tổng Giám đốc Công ty TNHH kế toán và tư vấn Thuế Trọng Tín cho biết như vậy khi trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều