Nghị định 200/2026/NĐ-CP: Phân biệt rõ hơn giữa tài sản bảo đảm thực và hình thức
PV: Thưa bà, Nghị định 200/2026/NĐ-CP (Nghị định 200) của Chính phủ quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế đã có hiệu lực từ ngày 5/6/2026, thay thế các nghị định trước đây. Từ góc độ của một tổ chức xếp hạng tín nhiệm, bà đánh giá như thế nào về những điểm mới của Nghị định và ý nghĩa của các quy định này đối với sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp?
![]() |
| Bà Hoàng Việt Phương |
Bà Hoàng Việt Phương: Nghị định 200 đánh dấu bước chuyển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam theo hướng minh bạch và chuyên nghiệp hơn.
So với khung pháp lý trước đây, Nghị định 200 không chỉ hợp nhất mà còn mở rộng đáng kể phạm vi điều chỉnh. Nghị định bổ sung hai chương mới, gồm chương về “Công bố thông tin” được tách riêng và chương về “Xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp, bồi thường thiệt hại”. Đồng thời, việc sử dụng vốn từ phát hành trái phiếu cũng được yêu cầu theo dõi, giám sát chặt chẽ hơn, thể hiện định hướng quản lý xuyên suốt vòng đời trái phiếu.
Một điểm đáng chú ý khác là xếp hạng tín nhiệm được luật hóa như một điều kiện tiếp cận thị trường, thay vì chỉ mang tính khuyến khích hoặc hình thức như giai đoạn 2022 - 2023, khi quy định này từng được tạm ngưng để hỗ trợ thanh khoản. Kết quả xếp hạng tín nhiệm sẽ giúp nhà đầu tư cá nhân chuyên nghiệp có thêm cơ sở đánh giá mức độ rủi ro của trái phiếu trước khi quyết định đầu tư.
Bên cạnh đó, Nghị định 200 cũng bổ sung nhiều quy định tác động trực tiếp đến việc định giá rủi ro tín dụng. Trong đó, những thay đổi liên quan đến tài sản bảo đảm được xem là một trong những nội dung có ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động phát hành trái phiếu và khả năng bảo vệ nhà đầu tư.
PV: Một trong những điểm mới nổi bật của Nghị định 200 là yêu cầu về tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh thanh toán đối với nhiều trường hợp phát hành. Theo bà, quy định này sẽ tác động như thế nào đến hoạt động phát hành của doanh nghiệp và khẩu vị rủi ro của nhà đầu tư?
Bà Hoàng Việt Phương: Một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến khủng hoảng niềm tin trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp giai đoạn trước là việc nhiều lô trái phiếu sử dụng cổ phần, cổ phiếu của chính doanh nghiệp phát hành hoặc doanh nghiệp trong cùng hệ sinh thái làm tài sản bảo đảm. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn, giá trị của các tài sản này thường sụt giảm cùng chiều, thậm chí nhanh hơn khả năng trả nợ, khiến tài sản bảo đảm gần như mất tác dụng bảo vệ nhà đầu tư đúng vào thời điểm cần thiết nhất.
Nghị định 200 cấm hoàn toàn việc sử dụng cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu và phần vốn góp của chính doanh nghiệp phát hành làm tài sản bảo đảm đối với mọi loại trái phiếu, không phân biệt nhà đầu tư là cá nhân hay tổ chức. Nghị định 200 xử lý trực tiếp “gót chân Achilles” của thị trường trái phiếu giai đoạn trước - tài sản bảo đảm mang tính hình thức. Đồng thời, Nghị định quy định tài sản bảo đảm hoặc bảo lãnh thanh toán phải bảo đảm thanh toán toàn bộ giá trị gốc của trái phiếu, giúp tạo ra bộ đệm đủ an toàn cho nhà đầu tư trong những tình huống doanh nghiệp rơi vào khó khăn về tài chính.
Nâng hiệu quả quản lý, giám sátTheo ông Hoàng Văn Thu - Phó Chủ tịch Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, Nghị định 200 quy định rõ hơn trách nhiệm quản lý, giám sát của các chủ thể tham gia thị trường, trong đó bổ sung vai trò của UBND các tỉnh, thành phố đối với doanh nghiệp phát hành trên địa bàn. Cùng với cơ chế công bố thông tin, hậu kiểm và thanh tra, kiểm tra, quy định này góp phần phân định rõ trách nhiệm quản lý, tránh chồng chéo và tạo thêm cơ sở để hoàn thiện chính sách trong thời gian tới. |
Những quy định này sẽ tác động trực tiếp đến kế hoạch phát hành trái phiếu khi doanh nghiệp buộc phải sử dụng các tài sản bảo đảm có giá trị thực chất hơn như bất động sản, dòng tiền dự án hoặc bảo lãnh thanh toán của tổ chức tín dụng. Trong ngắn hạn, quy định mới có thể làm tăng chi phí phát hành, nhưng về dài hạn sẽ góp phần củng cố niềm tin của nhà đầu tư và giảm rủi ro hệ thống.
Đối với nhà đầu tư, thị trường sẽ dần hình thành sự phân biệt rõ hơn giữa “tài sản bảo đảm thực” và “tài sản bảo đảm hình thức”, đồng thời đòi hỏi mức độ minh bạch cao hơn về định giá và tính thanh khoản của tài sản bảo đảm. Đây cũng là một trong những nội dung mà các tổ chức xếp hạng tín nhiệm như S&I đánh giá kỹ trong quá trình xếp hạng từng lô trái phiếu.
Đáng lưu ý, Nghị định 200 cũng có điều khoản chuyển tiếp, cho phép các lô trái phiếu đã phát hành trước đây với loại tài sản bảo đảm này tiếp tục được duy trì đến khi tất toán. Điều đó đồng nghĩa với việc rủi ro tồn đọng từ các lô trái phiếu cũ vẫn cần tiếp tục được thị trường theo dõi trong thời gian tới.
![]() |
| Nghị định 200 đánh dấu bước chuyển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam theo hướng minh bạch và chuyên nghiệp hơn. Ảnh: An Thư |
PV: Bên cạnh việc siết chặt các yêu cầu về tài sản bảo đảm, Nghị định 200 cũng tăng cường quy định về công bố thông tin và giám sát trong suốt vòng đời trái phiếu. Theo bà, những thay đổi này sẽ hỗ trợ hoạt động xếp hạng tín nhiệm cũng như nâng cao khả năng nhận diện rủi ro của thị trường như thế nào?
Bà Hoàng Việt Phương: Nghị định 200 dành riêng một chương quy định về công bố thông tin, tách bạch giữa hoạt động chào bán trong nước và chào bán ra thị trường quốc tế, đồng thời duy trì yêu cầu công bố thông tin định kỳ, bất thường và chế độ báo cáo đối với tổ chức phát hành, đại diện người sở hữu trái phiếu, tổ chức tư vấn hồ sơ, tổ chức đấu thầu, bảo lãnh và đại lý phát hành.
Một điểm mới quan trọng là việc theo dõi và giám sát sử dụng vốn được thực hiện xuyên suốt vòng đời trái phiếu. Theo đó, tất cả doanh nghiệp phát hành đều phải theo dõi riêng nguồn vốn huy động và bảo đảm sử dụng đúng mục đích. Trách nhiệm giám sát cũng được phân định cụ thể cho UBND cấp tỉnh đối với doanh nghiệp không phải công ty đại chúng trên địa bàn cùng các cơ quan thanh tra có thẩm quyền.
Đối với hoạt động xếp hạng tín nhiệm, đây là cơ sở để các tổ chức xếp hạng theo dõi liên tục tình hình tài chính, dòng tiền, tiến độ sử dụng vốn và việc thực hiện nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp, thay vì chỉ đánh giá tại thời điểm phát hành. Dữ liệu đầy đủ, cập nhật và đáng tin cậy cũng giúp nâng cao khả năng phát hiện sớm dấu hiệu suy giảm chất lượng tín nhiệm và điều chỉnh đánh giá rủi ro kịp thời.
Ở góc độ thị trường, cơ chế công bố thông tin liên tục góp phần giảm bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp phát hành và nhà đầu tư, hỗ trợ nhà đầu tư nhận diện rủi ro trên cơ sở dữ liệu được cập nhật thường xuyên, qua đó tăng cường tính minh bạch, kỷ luật thị trường và củng cố niềm tin đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, chương về xử lý vi phạm, giải quyết tranh chấp và bồi thường thiệt hại cũng tạo thêm cơ sở để các tổ chức xếp hạng ước tính tỷ lệ thu hồi nợ trong các kịch bản vỡ nợ, một cấu phần quan trọng trong phương pháp luận xếp hạng tín nhiệm.
Tuy nhiên, hiệu quả thực tế vẫn phụ thuộc vào chất lượng thực thi công bố thông tin của doanh nghiệp phát hành cũng như việc sớm ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết thi hành Nghị định 200. Đây cũng là nội dung mà chúng tôi và thị trường sẽ tiếp tục theo dõi trong thời gian tới.
PV: Xin cảm ơn bà!
Dành cho bạn
Đọc thêm
Tập trung vào các chính sách có tác động nhanh, trực tiếp và đo lường được
Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá
Cải thiện môi trường đầu tư, tăng sức hút dòng vốn FDI chất lượng cao
Biến quy hoạch thành hiện thực bằng các dự án cụ thể
Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến
Hà Nội ưu tiên dự án công nghệ cao, hạ tầng chiến lược và phát triển xanh




