Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
aa

Lợi thế từ hệ sinh thái

Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hoặc cổ đông lớn là ngân hàng đang sở hữu lợi thế đáng kể trong phát triển bancassurance. Thông qua mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch và tệp khách hàng sẵn có, các doanh nghiệp có thể tiếp cận hàng triệu khách hàng với chi phí khai thác thấp; đẩy mạnh bán chéo sản phẩm bảo hiểm cùng các dịch vụ như tín dụng, tiền gửi...

Lợi thế này giúp nhóm doanh nghiệp trong hệ sinh thái ngân hàng ngày càng khẳng định vị thế. Hiện 7 doanh nghiệp có ngân hàng mẹ hoặc cổ đông lớn là ngân hàng nắm khoảng 35% thị phần bảo hiểm phi nhân thọ.

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance
Năm 2025, doanh thu từ kênh bancassurance do Agribank trực tiếp phân phối chiếm gần 70% tổng doanh thu. Ảnh: Đức Thanh

Trong đó, OPES tăng trưởng nhanh nhờ tận dụng hệ sinh thái của VPBank (sở hữu 90% vốn); Bảo hiểm Quân đội (MIC) tiếp tục củng cố vị thế với sự hỗ trợ từ MB (nắm gần 68% vốn điều lệ); Bảo hiểm BIDV (BIC) duy trì lợi thế cạnh tranh nhờ BIDV - cổ đông chi phối với tỷ lệ sở hữu 51%.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp ghi nhận tỷ trọng lớn doanh thu khai thác mới đến từ hệ sinh thái ngân hàng mẹ. Không chỉ thúc đẩy tăng trưởng doanh thu, kênh bancassurance còn giúp mở rộng độ phủ thị trường, nâng cao khả năng giữ chân khách hàng và đa dạng hóa nguồn thu. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, hệ sinh thái ngân hàng tiếp tục là một trong những lợi thế cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.

Ông Đỗ Minh Hoàng - Thành viên Hội đồng Quản trị Bảo hiểm Agribank (ABIC) cho biết, Agribank vẫn là kênh phân phối chủ đạo của doanh nghiệp. Năm 2025, doanh thu từ kênh bancassurance do Agribank trực tiếp phân phối chiếm gần 70% tổng doanh thu. Nếu tính thêm doanh thu từ chính Agribank trực tiếp mua bảo hiểm, tỷ trọng đóng góp vào kết quả kinh doanh của ABIC áp đảo, lên tới gần 90%.

Chất lượng tư vấn và minh bạch là nền tảng

Để phát triển bền vững kênh bancassurance, ông Đỗ Minh Hoàng - Thành viên Hội đồng Quản trị ABIC cho biết, ABIC xác định nâng cao chất lượng dịch vụ sau bán hàng, chất lượng tư vấn và minh bạch mọi quyền lợi của khách hàng là giải pháp trọng yếu. Từ đó, giúp người nông dân - nhóm khách hàng dễ bị tổn thương trước rủi ro thiên tai - yên tâm sử dụng sản phẩm bảo hiểm do ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước cung cấp.

Những năm qua, ABIC tập trung phát triển các sản phẩm bancassurance tích hợp với dịch vụ ngân hàng để bảo vệ cả khoản vay và khách hàng vay vốn. Riêng sản phẩm “bảo an tín dụng” đóng góp gần 60% cơ cấu doanh thu. Tuy nhiên, lãnh đạo ABIC thừa nhận mới chỉ khai thác khoảng 15% tiềm năng từ hệ sinh thái Agribank. Do đó, doanh nghiệp đặt mục tiêu nâng tỷ lệ này lên 30% trong giai đoạn 2026 - 2030.

Về chiến lược đến năm 2030, ABIC đặt mục tiêu bảo hiểm tối thiểu 41,4% dư nợ tín dụng của Agribank; trong đó, 30% dư nợ khách hàng cá nhân qua sản phẩm Bảo an tín dụng và 60% dư nợ khách hàng doanh nghiệp.

Tương tự, BIC cũng duy trì nguồn doanh thu lớn từ kênh bancassurance. Theo bà Đoàn Thị Thu Huyền - Tổng Giám đốc BIC, hoạt động bán chéo sản phẩm bancassurance với BIDV luôn là một trong những trụ cột quan trọng của doanh nghiệp. Tỷ trọng doanh thu từ kênh này được BIC duy trì ổn định trong khoảng 45 - 55% tùy từng giai đoạn.

Theo quan sát của ông Trần Minh Đạt - Chủ tịch Hội đồng Quản trị MIC, tại nhiều doanh nghiệp bảo hiểm có ngân hàng mẹ, doanh thu từ kênh bancassurance qua ngân hàng mẹ thường chiếm khoảng 60%, thậm chí có đơn vị lên tới 90%. Tỷ trọng này tại MIC trước đây chỉ khoảng 21 - 22%, sau đó tăng lên 33% và đến quý I/2026 đã đạt khoảng 39%, cho thấy xu hướng tăng trưởng ngày càng tích cực.

Ông Đạt cho rằng, sự gắn kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng và khách hàng là nhu cầu tất yếu. Khách hàng cần bảo hiểm để bảo vệ con người và tài sản, trong khi các tổ chức tín dụng cần bảo hiểm nhằm giảm thiểu rủi ro đối với tài sản bảo đảm và nguồn trả nợ của khách hàng.

“Tệp khách hàng của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là Ngân hàng MB, đều đã được thẩm định về năng lực tài chính và uy tín. Với nhóm khách hàng này, chúng ta có cơ hội tiếp cận nhanh hơn với khách hàng tốt, uy tín để giảm thiểu các rủi ro về trục lợi và dài hạn” - ông Đạt bày tỏ.

Giữ trụ cột bancassurance, mở rộng ngoài ngân hàng mẹ

Để nâng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm với dư nợ tín dụng tại Agribank, ông Đỗ Minh Hoàng cho biết, ABIC đang đề xuất cơ chế đặc thù để phát triển bảo hiểm nông nghiệp phục vụ các đề án trọng điểm quốc gia, trong đó có Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao.

Theo đó, bảo hiểm cần được xem là một “mắt xích” không thể thiếu trong chuỗi giá trị, đóng vai trò là công cụ quản trị rủi ro, bảo đảm chuỗi liên kết không bị đứt gãy. Đồng thời, giúp dòng vốn tín dụng từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông dân, nông thôn được lưu thông liên tục, tạo sự yên tâm cho các bên tham gia đầu tư và góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Doanh nghiệp cũng đặt trọng tâm vào công tác truyền thông trong giai đoạn 2026 - 2030 nhằm xây dựng thương hiệu ABIC tương xứng với thương hiệu Agribank, tạo niềm tin để người dân, đặc biệt là người dân ở vùng sâu, vùng xa, yên tâm gửi gắm vốn và tài sản. Từ đó, nâng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm lên 40% tổng dư nợ Agribank.

"Khi quy mô khách hàng tăng sẽ giảm phí bảo hiểm, tăng tỷ lệ bồi thường, qua đó nâng cao khả năng hấp thụ sản phẩm và đóng góp nhiều hơn cho khu vực tam nông” - ông Hoàng phân tích.

Trong khi đó, MIC định hướng tập trung tái cấu trúc, tối ưu hiệu quả các kênh bán hàng trọng điểm, đặc biệt là bancassurance và các mô hình hợp tác trong hệ sinh thái số. Nhờ chiến lược hiệp lực tập đoàn của MB, MIC kỳ vọng doanh thu bancassurance từ hệ sinh thái MB (gồm MB, MBV và Mcredit) sẽ tăng khoảng 52% trong năm nay, qua đó, nâng tỷ trọng doanh thu từ kênh này từ khoảng 29% trong năm 2025 lên 39,7%.

Không chỉ dựa vào kênh bancassurance, một số doanh nghiệp đang tích cực phát triển nhóm khách hàng ngoài ngân hàng để tạo thêm động lực tăng trưởng doanh thu.

Lãnh đạo BIC chia sẻ, Luật Kinh doanh bảo hiểm siết chặt các quy định về hoạt động đại lý, yêu cầu tư vấn đầy đủ và bảo đảm quyền lợi khách hàng. Theo đó, BIC định hướng duy trì tỷ trọng doanh thu từ kênh bancassurance ở mức 50 - 55%. Từ năm 2025, BIC xác định đạt ngưỡng khai thác tại ngân hàng mẹ BIDV và thực hiện điều chỉnh, tăng trưởng doanh thu đối với nhóm khách hàng ngoài BIDV. Doanh thu từ các kênh ngoài hệ sinh thái BIDV hiện tăng trưởng khoảng 18 - 20%.

Để kênh bancassurance phát triển bền vững, nhiều ý kiến cho rằng, tăng trưởng doanh thu cần đi cùng với chất lượng tư vấn và dịch vụ sau bán hàng. Thực tế, thời gian qua vẫn còn không ít phản ánh về tình trạng khách hàng sau khi mua bảo hiểm thiếu được hỗ trợ, tư vấn không đầy đủ về quyền lợi, hoặc cảm thấy bị gợi ý, thậm chí gây áp lực mua bảo hiểm khi sử dụng các dịch vụ ngân hàng như vay vốn hay gửi tiết kiệm.

Những tranh chấp phát sinh chủ yếu từ việc sản phẩm chưa thực sự phù hợp với nhu cầu, khách hàng chưa hiểu rõ điều khoản hợp đồng hoặc kỳ vọng khác với quyền lợi thực tế.

Điều này cho thấy, bên cạnh mở rộng quy mô, các doanh nghiệp cần chú trọng hơn đến tính minh bạch, nâng cao chất lượng tư vấn và chăm sóc sau bán hàng để củng cố niềm tin của khách hàng đối với kênh bancassurance.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

(TBTCO) - Agribank sẽ được bổ sung 29.690 tỷ đồng vốn điều lệ trong giai đoạn 2025 - 2027, nâng vốn điều lệ lên 81.328 tỷ đồng, tương ứng tăng 57,5%. Việc tăng vốn giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, đáp ứng các tỷ lệ an toàn, tạo dư địa mở rộng tín dụng, nhất là đối với lĩnh vực "tam nông".
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▼200K 13,400 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▼200K 13,350 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,700 ▼1300K 147,700 ▼1300K
Hà Nội - PNJ 143,700 ▼1300K 147,700 ▼1300K
Đà Nẵng - PNJ 143,700 ▼1300K 147,700 ▼1300K
Miền Tây - PNJ 143,700 ▼1300K 147,700 ▼1300K
Tây Nguyên - PNJ 143,700 ▼1300K 147,700 ▼1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,700 ▼1300K 147,700 ▼1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,450 ▼100K 14,800 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,450 ▼100K 14,800 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,450 ▼100K 14,800 ▼100K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,990 ▼100K 14,690 ▼100K
Trang sức 99.99 14,000 ▼100K 14,700 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▼15K 14,842 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▼15K 14,843 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,444 ▼20K 1,479 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,444 ▼20K 148 ▼1347K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▼20K 1,459 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,455 ▼1486K 144,455 ▼1486K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,786 ▼1125K 109,586 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,572 ▼1020K 99,372 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,358 ▼915K 89,158 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,418 ▼875K 85,218 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,196 ▼626K 60,996 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cập nhật: 13/07/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17675 17949 18523
CAD 18025 18300 18916
CHF 31799 32180 32825
CNY 0 3830 3923
EUR 29324 29544 30621
GBP 34351 34742 35675
HKD 0 3220 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14815 15399
SGD 19762 20044 20614
THB 702 765 819
USD (1,2) 26001 0 0
USD (5,10,20) 26042 0 0
USD (50,100) 26071 26085 26444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,327 29,350 30,856
JPY 157.65 157.93 167.45
GBP 34,506 34,599 35,791
AUD 17,856 17,921 18,596
CAD 18,200 18,258 18,931
CHF 32,033 32,133 33,071
SGD 19,869 19,931 20,718
CNY - 3,798 3,943
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.06 16.75 18.23
THB 750.16 759.42 813.01
NZD 14,784 14,921 15,362
SEK - 2,661 2,755
DKK - 3,937 4,076
NOK - 2,636 2,732
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,014.22 - 6,790.66
TWD 739.46 - 895.19
SAR - 6,877.01 7,243.49
KWD - 83,069 88,379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,080 26,460
EUR 29,367 29,485 30,675
GBP 34,506 34,645 35,674
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 32,862 31,990 32,917
JPY 157.99 158.62 166.54
AUD 17,865 17,937 18,530
SGD 19,956 20,036 20,623
THB 767 770 807
CAD 18,205 18,278 18,850
NZD 14,863 15,404
KRW 16.72 18.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26065 26065 26481
AUD 17844 17944 18869
CAD 18188 18288 19303
CHF 32014 32044 33626
CNY 3811.3 3836.3 3971.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29476 29506 31232
GBP 34627 34677 36437
HKD 0 3355 0
JPY 158.54 159.04 169.57
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14923 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19907 20037 20768
THB 0 731.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,094 26,144 26,450
USD20 26,094 26,144 26,450
USD1 26,094 26,144 26,450
AUD 17,917 18,017 19,124
EUR 29,286 29,386 31,042
CAD 18,141 18,241 19,549
SGD 20,000 20,150 20,704
JPY 159.09 160.59 166.13
GBP 34,544 34,694 35,758
XAU 14,588,000 0 14,892,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/07/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80