Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
aa

Lợi thế từ hệ sinh thái

Các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hoặc cổ đông lớn là ngân hàng đang sở hữu lợi thế đáng kể trong phát triển bancassurance. Thông qua mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch và tệp khách hàng sẵn có, các doanh nghiệp có thể tiếp cận hàng triệu khách hàng với chi phí khai thác thấp; đẩy mạnh bán chéo sản phẩm bảo hiểm cùng các dịch vụ như tín dụng, tiền gửi...

Lợi thế này giúp nhóm doanh nghiệp trong hệ sinh thái ngân hàng ngày càng khẳng định vị thế. Hiện 7 doanh nghiệp có ngân hàng mẹ hoặc cổ đông lớn là ngân hàng nắm khoảng 35% thị phần bảo hiểm phi nhân thọ.

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance
Năm 2025, doanh thu từ kênh bancassurance do Agribank trực tiếp phân phối chiếm gần 70% tổng doanh thu. Ảnh: Đức Thanh

Trong đó, OPES tăng trưởng nhanh nhờ tận dụng hệ sinh thái của VPBank (sở hữu 90% vốn); Bảo hiểm Quân đội (MIC) tiếp tục củng cố vị thế với sự hỗ trợ từ MB (nắm gần 68% vốn điều lệ); Bảo hiểm BIDV (BIC) duy trì lợi thế cạnh tranh nhờ BIDV - cổ đông chi phối với tỷ lệ sở hữu 51%.

Thực tế, nhiều doanh nghiệp ghi nhận tỷ trọng lớn doanh thu khai thác mới đến từ hệ sinh thái ngân hàng mẹ. Không chỉ thúc đẩy tăng trưởng doanh thu, kênh bancassurance còn giúp mở rộng độ phủ thị trường, nâng cao khả năng giữ chân khách hàng và đa dạng hóa nguồn thu. Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt, hệ sinh thái ngân hàng tiếp tục là một trong những lợi thế cạnh tranh quan trọng của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.

Ông Đỗ Minh Hoàng - Thành viên Hội đồng Quản trị Bảo hiểm Agribank (ABIC) cho biết, Agribank vẫn là kênh phân phối chủ đạo của doanh nghiệp. Năm 2025, doanh thu từ kênh bancassurance do Agribank trực tiếp phân phối chiếm gần 70% tổng doanh thu. Nếu tính thêm doanh thu từ chính Agribank trực tiếp mua bảo hiểm, tỷ trọng đóng góp vào kết quả kinh doanh của ABIC áp đảo, lên tới gần 90%.

Chất lượng tư vấn và minh bạch là nền tảng

Để phát triển bền vững kênh bancassurance, ông Đỗ Minh Hoàng - Thành viên Hội đồng Quản trị ABIC cho biết, ABIC xác định nâng cao chất lượng dịch vụ sau bán hàng, chất lượng tư vấn và minh bạch mọi quyền lợi của khách hàng là giải pháp trọng yếu. Từ đó, giúp người nông dân - nhóm khách hàng dễ bị tổn thương trước rủi ro thiên tai - yên tâm sử dụng sản phẩm bảo hiểm do ngân hàng thương mại 100% vốn nhà nước cung cấp.

Những năm qua, ABIC tập trung phát triển các sản phẩm bancassurance tích hợp với dịch vụ ngân hàng để bảo vệ cả khoản vay và khách hàng vay vốn. Riêng sản phẩm “bảo an tín dụng” đóng góp gần 60% cơ cấu doanh thu. Tuy nhiên, lãnh đạo ABIC thừa nhận mới chỉ khai thác khoảng 15% tiềm năng từ hệ sinh thái Agribank. Do đó, doanh nghiệp đặt mục tiêu nâng tỷ lệ này lên 30% trong giai đoạn 2026 - 2030.

Về chiến lược đến năm 2030, ABIC đặt mục tiêu bảo hiểm tối thiểu 41,4% dư nợ tín dụng của Agribank; trong đó, 30% dư nợ khách hàng cá nhân qua sản phẩm Bảo an tín dụng và 60% dư nợ khách hàng doanh nghiệp.

Tương tự, BIC cũng duy trì nguồn doanh thu lớn từ kênh bancassurance. Theo bà Đoàn Thị Thu Huyền - Tổng Giám đốc BIC, hoạt động bán chéo sản phẩm bancassurance với BIDV luôn là một trong những trụ cột quan trọng của doanh nghiệp. Tỷ trọng doanh thu từ kênh này được BIC duy trì ổn định trong khoảng 45 - 55% tùy từng giai đoạn.

Theo quan sát của ông Trần Minh Đạt - Chủ tịch Hội đồng Quản trị MIC, tại nhiều doanh nghiệp bảo hiểm có ngân hàng mẹ, doanh thu từ kênh bancassurance qua ngân hàng mẹ thường chiếm khoảng 60%, thậm chí có đơn vị lên tới 90%. Tỷ trọng này tại MIC trước đây chỉ khoảng 21 - 22%, sau đó tăng lên 33% và đến quý I/2026 đã đạt khoảng 39%, cho thấy xu hướng tăng trưởng ngày càng tích cực.

Ông Đạt cho rằng, sự gắn kết giữa doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức tín dụng và khách hàng là nhu cầu tất yếu. Khách hàng cần bảo hiểm để bảo vệ con người và tài sản, trong khi các tổ chức tín dụng cần bảo hiểm nhằm giảm thiểu rủi ro đối với tài sản bảo đảm và nguồn trả nợ của khách hàng.

“Tệp khách hàng của các tổ chức tín dụng, đặc biệt là Ngân hàng MB, đều đã được thẩm định về năng lực tài chính và uy tín. Với nhóm khách hàng này, chúng ta có cơ hội tiếp cận nhanh hơn với khách hàng tốt, uy tín để giảm thiểu các rủi ro về trục lợi và dài hạn” - ông Đạt bày tỏ.

Giữ trụ cột bancassurance, mở rộng ngoài ngân hàng mẹ

Để nâng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm với dư nợ tín dụng tại Agribank, ông Đỗ Minh Hoàng cho biết, ABIC đang đề xuất cơ chế đặc thù để phát triển bảo hiểm nông nghiệp phục vụ các đề án trọng điểm quốc gia, trong đó có Đề án 1 triệu héc-ta lúa chất lượng cao.

Theo đó, bảo hiểm cần được xem là một “mắt xích” không thể thiếu trong chuỗi giá trị, đóng vai trò là công cụ quản trị rủi ro, bảo đảm chuỗi liên kết không bị đứt gãy. Đồng thời, giúp dòng vốn tín dụng từ các ngân hàng và tổ chức tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông dân, nông thôn được lưu thông liên tục, tạo sự yên tâm cho các bên tham gia đầu tư và góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Doanh nghiệp cũng đặt trọng tâm vào công tác truyền thông trong giai đoạn 2026 - 2030 nhằm xây dựng thương hiệu ABIC tương xứng với thương hiệu Agribank, tạo niềm tin để người dân, đặc biệt là người dân ở vùng sâu, vùng xa, yên tâm gửi gắm vốn và tài sản. Từ đó, nâng tỷ lệ bao phủ bảo hiểm lên 40% tổng dư nợ Agribank.

"Khi quy mô khách hàng tăng sẽ giảm phí bảo hiểm, tăng tỷ lệ bồi thường, qua đó nâng cao khả năng hấp thụ sản phẩm và đóng góp nhiều hơn cho khu vực tam nông” - ông Hoàng phân tích.

Trong khi đó, MIC định hướng tập trung tái cấu trúc, tối ưu hiệu quả các kênh bán hàng trọng điểm, đặc biệt là bancassurance và các mô hình hợp tác trong hệ sinh thái số. Nhờ chiến lược hiệp lực tập đoàn của MB, MIC kỳ vọng doanh thu bancassurance từ hệ sinh thái MB (gồm MB, MBV và Mcredit) sẽ tăng khoảng 52% trong năm nay, qua đó, nâng tỷ trọng doanh thu từ kênh này từ khoảng 29% trong năm 2025 lên 39,7%.

Không chỉ dựa vào kênh bancassurance, một số doanh nghiệp đang tích cực phát triển nhóm khách hàng ngoài ngân hàng để tạo thêm động lực tăng trưởng doanh thu.

Lãnh đạo BIC chia sẻ, Luật Kinh doanh bảo hiểm siết chặt các quy định về hoạt động đại lý, yêu cầu tư vấn đầy đủ và bảo đảm quyền lợi khách hàng. Theo đó, BIC định hướng duy trì tỷ trọng doanh thu từ kênh bancassurance ở mức 50 - 55%. Từ năm 2025, BIC xác định đạt ngưỡng khai thác tại ngân hàng mẹ BIDV và thực hiện điều chỉnh, tăng trưởng doanh thu đối với nhóm khách hàng ngoài BIDV. Doanh thu từ các kênh ngoài hệ sinh thái BIDV hiện tăng trưởng khoảng 18 - 20%.

Để kênh bancassurance phát triển bền vững, nhiều ý kiến cho rằng, tăng trưởng doanh thu cần đi cùng với chất lượng tư vấn và dịch vụ sau bán hàng. Thực tế, thời gian qua vẫn còn không ít phản ánh về tình trạng khách hàng sau khi mua bảo hiểm thiếu được hỗ trợ, tư vấn không đầy đủ về quyền lợi, hoặc cảm thấy bị gợi ý, thậm chí gây áp lực mua bảo hiểm khi sử dụng các dịch vụ ngân hàng như vay vốn hay gửi tiết kiệm.

Những tranh chấp phát sinh chủ yếu từ việc sản phẩm chưa thực sự phù hợp với nhu cầu, khách hàng chưa hiểu rõ điều khoản hợp đồng hoặc kỳ vọng khác với quyền lợi thực tế.

Điều này cho thấy, bên cạnh mở rộng quy mô, các doanh nghiệp cần chú trọng hơn đến tính minh bạch, nâng cao chất lượng tư vấn và chăm sóc sau bán hàng để củng cố niềm tin của khách hàng đối với kênh bancassurance.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

(TBTCO) - Hưởng ứng định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế, MSB triển khai chương trình ưu đãi lãi suất dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, với mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường.
Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 14/8, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.561 đồng/USD sau chuỗi phiên tăng mạnh, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại đi lên. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 99,92 điểm, khi chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 7 của Mỹ đi ngang và thấp hơn dự báo, nối tiếp CPI hạ nhiệt, gây sức ép lên đồng USD và kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,780 ▲20K 14,380 ▲20K
Trang sức 99.99 13,790 ▲20K 14,390 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,412 ▲1271K 14,422 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,412 ▲1271K 14,423 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,407 ▲2K 1,437 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,407 ▲2K 1,438 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,377 ▲2K 1,422 ▲1280K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,792 ▲198K 140,792 ▲198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,011 ▲150K 106,811 ▲150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,056 ▲78364K 96,856 ▲87184K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,101 ▲122K 86,901 ▲122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,261 ▲117K 83,061 ▲117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,653 ▲44696K 59,453 ▲53516K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Cập nhật: 17/08/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18135 18410 18993
CAD 18375 18651 19272
CHF 31690 32070 32716
CNY 0 3830 3940
EUR 29741 29963 31050
GBP 34717 35110 36060
HKD 0 3209 3413
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15205 15798
SGD 19991 20273 20849
THB 709 772 826
USD (1,2) 25942 0 0
USD (5,10,20) 25982 0 0
USD (50,100) 26011 26025 26400
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,030 26,030 26,410
USD(1-2-5) 24,989 - -
USD(10-20) 24,989 - -
EUR 29,802 29,826 31,235
JPY 160.38 160.67 170.36
GBP 34,901 34,995 36,204
AUD 18,317 18,383 19,078
CAD 18,560 18,620 19,303
CHF 31,929 32,028 32,976
SGD 20,108 20,171 20,969
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,274 3,284 3,422
KRW 17.09 17.82 19.4
THB 757.11 766.46 820.07
NZD 15,179 15,320 15,775
SEK - 2,715 2,810
DKK - 3,997 4,138
NOK - 2,737 2,834
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,014.47 - 6,789.48
TWD 743.35 - 900.49
SAR - 6,864.19 7,229.61
KWD - 83,099 88,413
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,980 26,010 26,390
EUR 29,775 29,895 31,079
GBP 34,871 35,011 36,033
HKD 3,271 3,284 3,400
CHF 31,723 31,850 32,761
JPY 160.65 161.30 169.22
AUD 18,237 18,310 18,901
SGD 20,148 20,229 20,818
THB 772 775 811
CAD 18,550 18,624 19,211
NZD 15,224 15,765
KRW 17.69 19.66
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26030 26030 26390
AUD 18325 18425 19347
CAD 18562 18662 19676
CHF 31962 31992 33582
CNY 3829.7 3854.7 3989.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29943 29973 31696
GBP 35033 35083 36841
HKD 0 3330 0
JPY 161.16 161.66 172.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15322 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20158 20288 21011
THB 0 738.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14120000 14120000 14420000
SBJ 12500000 12500000 14420000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,040 26,090 26,400
USD20 25,990 26,090 26,815
USD1 25,940 26,090 26,865
AUD 18,293 18,393 19,498
EUR 29,696 29,796 31,455
CAD 18,497 18,597 19,903
SGD 20,207 20,357 20,913
JPY 161.7 163.2 168.73
GBP 34,907 35,057 36,113
XAU 14,178,000 0 14,482,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 772 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/08/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80