Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12% Nhiều thuận lợi nửa cuối năm, cơ hội đưa GDP tăng 11,7% để cán đích hai con số Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Hút ròng mạnh nhưng lãi suất nhiều kỳ hạn vẫn hạ nhiệt

Trong tuần qua từ ngày 6 - 10/7, qua kênh cầm cố giấy tờ có giá (OMO), Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 16.181,55 tỷ đồng, chủ yếu ở các kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 63 ngày, với lãi suất giữ nguyên 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lên tới 47.561,15 tỷ đồng, cao gấp gần 3 lần lượng phát hành mới.

Tính chung cả tuần qua từ ngày 6 - 10/7, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 31.379,6 tỷ đồng qua kênh thị trường mở. Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh OMO còn 207.819,78 tỷ đồng, tiếp tục giảm so với cuối tuần trước.

Diễn biến này phù hợp với xu hướng hạ nhiệt trên thị trường liên ngân hàng.

Chốt ngày 9/7, lãi suất VND liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm giảm xuống 4,68%/năm, giảm 0,99 điểm phần trăm so với cuối tuần trước; kỳ hạn 1 tuần giảm 0,94 điểm phần trăm, còn 5,23%/năm; kỳ hạn 2 tuần giảm 0,08 điểm phần trăm, còn 6,04%/năm.

Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng nhẹ 0,05 điểm phần trăm lên 7,43%/năm, còn kỳ hạn 3 tháng giảm 0,1 điểm phần trăm xuống 7,8%/năm.

Doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng chốt ngày 9/7 đạt khoảng 850 nghìn tỷ đồng.

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Số liệu Ngân hàng Nhà nước công bố cho thấy, tăng trưởng tín dụng và huy động vốn 6 tháng đầu năm 2026 lần lượt đạt 7,41% và 5,05%, trong đó huy động đã cải thiện đáng kể so với mức 2,98% sau 5 tháng đầu năm, góp phần thu hẹp khoảng cách với tăng trưởng tín dụng. Tuy nhiên, chênh lệch giữa tín dụng và huy động vẫn ở mức cao cho thấy áp lực nguồn vốn trung dài hạn chưa thực sự được giải quyết.
Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), trong ngắn hạn, áp lực mùa vụ cuối quý đã qua và nhiều khả năng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục duy trì ổn định.

“Chúng tôi cho rằng mặt bằng lãi suất có thể đã tiệm cận vùng đỉnh nhờ chủ trương chính sách của nhà điều hành, tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục theo dõi diễn biến thanh khoản cũng như tăng trưởng huy động vốn” - Chứng khoán Yuanta nhìn nhận.

Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước vẫn chủ động hỗ trợ thanh khoản trong giai đoạn nhạy cảm cuối quý. Công cụ hoán đổi (swap) mua USD giao ngay - bán kỳ hạn) cũng được Ngân hàng Nhà nước sử dụng vào ngày 29/6 để bơm VND vào hệ thống.

Công cụ này được đánh giá hữu hiệu, vì ngân hàng thương mại vay VND ngắn hạn từ Ngân hàng Nhà nước và dùng lượng USD đang nắm giữ làm tài sản bảo đảm, chứ không phải bán đứt USD, do đó, không tạo áp lực lên tỷ giá.

Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp

Trong tuần qua, trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, bằng đúng mức tăng của tuần trước và đánh dấu đà tăng liên tiếp 8 tuần.

Diễn biến trên thị trường ngân hàng đồng pha. Theo đó, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 26.060 - 26.470 VND/USD (mua vào - bán ra), trong đó chiều mua giảm 13 đồng, còn chiều bán tăng 7 đồng so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá ở mức 26.090 - 26.470 VND/USD, với chiều mua tăng 7 đồng và chiều bán tăng 7 đồng.

Ở chiều ngược lại, thị trường tự do ghi nhận diễn biến giảm mạnh. Tỷ giá USD tự do giảm 180 đồng chiều mua và 160 đồng chiều bán so với tuần trước, xuống 26.400 - 26.450 VND/USD, tiếp đà giảm 30 đồng của tuần trước.

Như vậy, trong khi tỷ giá chính thức tiếp tục được điều chỉnh tăng nhẹ, tỷ giá trên thị trường tự do lại giảm mạnh. Diễn biến này cho thấy áp lực đầu cơ và tâm lý kỳ vọng tỷ giá trong khu vực dân cư đã hạ nhiệt đáng kể, đồng thời khoảng cách giữa tỷ giá chính thức và tỷ giá tự do tiếp tục được thu hẹp.

Xu hướng này cũng diễn ra trong bối cảnh giá vàng thế giới giảm 1,74% trong tuần, xuống quanh 4.100 USD/ounce, góp phần làm giảm sức hấp dẫn của các kênh tài sản mang tính phòng thủ và đầu cơ.

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - giảm 0,05% xuống còn 100,85 điểm.

Đồng USD tiếp tục suy yếu trong phiên thứ ba liên tiếp vào thứ sáu khi căng thẳng giữa Mỹ và Iran có dấu hiệu hạ nhiệt. Trong phiên giao dịch châu Á, chỉ số DXY có lúc giảm 0,3% xuống khoảng 100,6 điểm, lùi về mức thấp nhất trong ba tuần.

Tuy nhiên, tình hình vẫn tiềm ẩn nhiều diễn biến khó lường. Cuối ngày thứ năm, truyền thông nhà nước Iran đưa tin quân đội Mỹ tiếp tục tấn công một số địa điểm ven biển của nước này. Trước đó trong tuần, nhiều hãng truyền thông cũng cho biết Mỹ đã nhắm vào hạ tầng điện và nước của Iran.

Căng thẳng giữa hai nước leo thang trở lại sau khi Tổng thống Donald Trump tuyên bố bản ghi nhớ thỏa thuận với Iran không còn hiệu lực.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Ngân hàng UOB, đối với Ngân hàng Nhà nước, thách thức hiện nay là điều hành một nền kinh tế đang tăng trưởng mạnh hơn, trong khi vẫn phải đối mặt với áp lực lạm phát và cân đối đối ngoại, đồng thời theo dõi chặt chẽ diễn biến tỷ giá.

Trên thị trường ngoại hối, đồng VND đã cho thấy khả năng chống chịu ấn tượng trong tháng 6, bất chấp sự suy yếu trên diện rộng của các đồng tiền châu Á trong bối cảnh thị trường điều chỉnh kỳ vọng theo hướng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lập trường cứng rắn hơn. Tỷ giá USD/VND hầu như không thay đổi trong tháng, duy trì quanh mức 26.300 VND/USD và dao động trong biên độ rất hẹp từ 26.278 - 26.348 đồng.

Còn theo góc nhìn của Chứng khoán Yuanta, giá vàng thế giới có thể tiếp tục dao động trong biên độ rộng trong ngắn hạn, đà hồi phục ngắn hạn nhiều khả năng vẫn bị hạn chế do đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ duy trì ở mức cao.

“Trong ngắn hạn, áp lực tỷ giá trong nước nhiều khả năng tiếp tục duy trì ở mức thấp nếu DXY không phục hồi đáng kể. Tuy nhiên, chênh lệch vàng trong nước - thế giới nới rộng liên tục là yếu tố có thể tạo áp lực lên tỷ giá tự do” - Chứng khoán Yuanta dự báo.

Còn nhóm phân tích Ngân hàng UOB lại duy trì dự báo USD/VND sẽ có xu hướng giảm dần theo thời gian, ở mức 26.500 đồng trong quý III/2026, 26.400 đồng trong quý IV/2026, 26.300 đồng trong quý I/2027 và 26.100 đồng trong quý II/2027, do Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành tỷ giá USD/VND trong biên độ cho phép và kỳ vọng Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi vào tháng 9/2026, qua đó, hỗ trợ dòng vốn đầu tư gián tiếp./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

(TBTCO) - Hưởng ứng định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế, MSB triển khai chương trình ưu đãi lãi suất dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, với mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường.
Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietBank dự kiến chào bán gần 296,15 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tỷ lệ 25%, dự kiến huy động hơn 2.961 tỷ đồng để bổ sung nguồn vốn cấp tín dụng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay tăng 14%, lên gần 120.000 tỷ đồng cuối quý II/2026.
Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phải lượng hóa và thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa yêu cầu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, cập nhật các giải pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ.
Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,900
Hà Nội - PNJ 140,300 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,900
Miền Tây - PNJ 140,300 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,450
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,760 14,360
Trang sức 99.99 13,770 14,370
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 16/08/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17974 18248 18841
CAD 18301 18577 19205
CHF 31497 31877 32523
CNY 0 3830 3940
EUR 29598 29819 30911
GBP 34560 34952 35905
HKD 0 3200 3403
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15684
SGD 19887 20169 20753
THB 704 767 821
USD (1,2) 25873 0 0
USD (5,10,20) 25913 0 0
USD (50,100) 25941 25975 26350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,930 25,930 26,310
USD(1-2-5) 24,893 - -
USD(10-20) 24,893 - -
EUR 29,562 29,586 30,985
JPY 159.47 159.76 169.42
GBP 34,638 34,732 35,931
AUD 18,119 18,184 18,877
CAD 18,443 18,502 19,184
CHF 31,692 31,791 32,730
SGD 19,988 20,050 20,834
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 16.97 17.7 19.27
THB 750.33 759.6 813.27
NZD 14,993 15,132 15,585
SEK - 2,691 2,786
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,711 2,806
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,976.7 - 6,745.55
TWD 736.75 - 892.53
SAR - 6,838.18 7,203.01
KWD - 82,726 88,021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,530 29,649 30,841
GBP 34,573 34,712 35,743
HKD 3,255 3,268 3,385
CHF 31,499 31,625 32,544
JPY 159.61 160.25 168.19
AUD 18,064 18,137 18,733
SGD 20,017 20,097 20,691
THB 766 769 805
CAD 18,392 18,466 19,055
NZD 15,030 15,574
KRW 17.60 19.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26320
AUD 18139 18239 19164
CAD 18468 18568 19582
CHF 31745 31775 33356
CNY 3817.3 3842.3 3977.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29750 29780 31502
GBP 34849 34899 36652
HKD 0 3355 0
JPY 160.77 161.27 171.78
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15165 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20055 20185 20906
THB 0 733.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14030000 14030000 14330000
SBJ 12500000 12500000 14330000
Cập nhật: 16/08/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80