Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất huy động đầu tháng 7 gần như "đứng hình", nhưng cuộc đua "ngầm" hút vốn vẫn tiếp diễn khi khoảng vênh giữa tín dụng và huy động lên tới gần 2 triệu tỷ đồng. Mặt bằng lãi suất được dự báo tiếp tục duy trì ở mức hợp lý, thay vì giảm sâu, vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa cân bằng áp lực lạm phát và tỷ giá.
aa

Cuộc đua “ngầm” huy động vốn

Theo khảo sát biểu lãi suất huy động niêm yết kỳ hạn 6 tháng những ngày đầu tháng 7/2026, mặt bằng lãi suất gần như đi ngang và phổ biến ở mức dưới 7%/năm. Đây là một trong những kỳ hạn được người gửi tiền ưa chuộng nhờ cân bằng giữa mức sinh lời và tính linh hoạt, nên các ngân hàng duy trì mức lãi suất khá cạnh tranh. Theo đó, lãi suất cao nhất thuộc về BacABank (6,85%/năm), tiếp đến là HongLeong (6,8%/năm), PGBank (6,6%/năm)...

So với đầu tháng 6/2026, chỉ có HongLeong tiếp tục giảm 0,5 điểm phần trăm đối với lãi suất kỳ hạn 6 tháng; NCB cũng giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm, còn 6,1%/năm. Trong khi đó, hầu hết các ngân hàng còn lại giữ nguyên biểu lãi suất. Dù vậy, lãi suất kỳ hạn 6 tháng hiện vẫn cao hơn khoảng 2,4 điểm phần trăm so với giai đoạn “dậy sóng” vào cuối quý III/2025.

Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số
Nguồn: MBS. Đồ họa tư liệu

Ở kỳ hạn 24 tháng, lãi suất huy động cao nhất hiện ở mức 7%/năm, được MB và MBV áp dụng. So với đầu tháng 6, mặt bằng lãi suất gần như đi ngang, chỉ VPBank giảm 0,2 điểm phần trăm, xuống còn 5,8%/năm.

Dù vậy, cuộc đua lãi suất “ngầm” thông qua các thỏa thuận ngoài biểu niêm yết vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt. Trong khi lãi suất niêm yết cao nhất chỉ 7%/năm, nhiều ngân hàng vẫn chào mức lãi suất thỏa thuận 9%/năm đối với các khoản tiền gửi.

Dữ liệu khảo sát thực tế đến cuối tháng 6 của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho thấy, lãi suất huy động kỳ hạn dưới 12 tháng cao nhất đạt 8,8%/năm. Tính chung, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng bình quân của các ngân hàng thương mại đạt 8,4%/năm, tăng 259 điểm cơ bản so với đầu năm.

Giữ lãi suất hợp lý để hỗ trợ người vay, cân bằng lạm phát và tỷ giá

Lãi suất sẽ được điều hành một cách phù hợp với nhu cầu vốn kinh tế, với diễn biến về lạm phát, tỷ giá. Phải cân chỉnh các yếu tố đó để đảm bảo lãi suất hài hòa, hợp lý và cũng tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng có thể huy động được nguồn vốn để cung ứng tín dụng cho nền kinh tế, nhưng cũng đảm bảo mặt bằng lãi suất hợp lý để tạo điều kiện thuận lợi hỗ trợ cho các doanh nghiệp và các khách hàng vay vốn.

Ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước

“Dù nhiều nhà băng đã thực hiện giảm lãi suất kể từ đầu quý II/2026, song hiện lãi suất huy động vẫn neo ở mức cao” - nhóm phân tích MBS nêu thực tế.

Sở dĩ mặt bằng lãi suất vẫn duy trì ở mức cao là do đã tăng mạnh trong quý I/2026, theo đánh giá của MBS. Cùng với đó, đà tăng lãi suất huy động vẫn diễn ra ở một số ngân hàng, trong bối cảnh tín dụng tiếp tục duy trì đà tăng nhanh gấp gần 1,5 lần so với tốc độ huy động vốn.

Chia sẻ tại Hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh, bà Nguyễn Bích Liên - Phó trưởng phòng Quản lý cân đối vốn, VietinBank cho biết, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đều đã tăng mạnh. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ sự lệch pha giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng nguồn vốn của các ngân hàng, khiến thanh khoản thu hẹp và tạo áp lực buộc một số ngân hàng phải nhanh chóng nâng lãi suất huy động.

Thực tế, tốc độ huy động vốn “đuối sức” so với tín dụng đã kéo dài nhiều năm và được ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (Ngân hàng Nhà nước) nhấn mạnh tại họp báo của Ngân hàng Nhà nước mới đây. Theo ông Quang, cập nhật đến ngày 15/6, chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn khoảng 2 điểm phần trăm.

Những khó khăn trong cân đối giữa nguồn vốn huy động và sử dụng vốn, cùng áp lực đảm bảo các tỷ lệ an toàn, đặc biệt là tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) ở mức cao, đã khiến lãi suất có xu hướng tăng trở lại, nhất là từ cuối tháng 11/2025.

Dù vậy, theo ghi nhận của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động bình quân giảm khoảng 0,04 điểm phần trăm so với thời điểm trước ngày 9/4, khi Thống đốc có chỉ đạo, trong khi lãi suất cho vay giảm khoảng 0,1 điểm phần trăm.

Điều hành lãi suất chịu sức ép từ tỷ giá và tăng trưởng tín dụng

Chỉ rõ thách thức điều hành lãi suất, báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, mặt bằng lãi suất trong nước chịu nhiều sức ép, từ nhu cầu huy động vốn phục vụ tăng trưởng tín dụng, cộng hưởng với áp lực lạm phát gia tăng do giá xăng dầu trong nước tăng cao theo giá thế giới và sự cạnh tranh của các kênh đầu tư thay thế.

Bên cạnh đó, một số ngân hàng trung ương lớn như Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ)... tăng lãi suất để kiểm soát lạm phát, trong khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) hạ lãi suất mạnh đã đảo chiều.

Ông Phạm Chí Quang nhấn mạnh, nếu Việt Nam không duy trì môi trường lãi suất đủ phù hợp với mặt bằng lãi suất quốc tế, tác động tới tỷ giá sẽ rất lớn.

Để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế, việc mở rộng tín dụng cần đi kèm với các giải pháp hỗ trợ về nguồn vốn đầu vào. Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà cho biết, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng thông qua các công cụ như: hoán đổi ngoại tệ USD - VND; tính toán và triển khai công cụ tái cấp vốn, bảo đảm dòng tín dụng đi đúng các lĩnh vực mục tiêu và hỗ trợ thanh khoản hợp lý cho các tổ chức tín dụng, qua đó, tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển.

Ngoài ra, theo ông Phạm Chí Quang, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ thông qua Nghị quyết số 168/NQ-CP ngày 27/6/2026 về cập nhật kịch bản tăng trưởng và giải pháp trọng tâm trong các quý còn lại để thực hiện mục tiêu tăng trưởng năm 2026 cùng việc tăng quy mô, đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, nguồn vốn huy động vào hệ thống ngân hàng để phục vụ tăng trưởng tín dụng được kỳ vọng sẽ cải thiện trong thời gian tới. Khi tốc độ tăng trưởng huy động vốn được cải thiện, mặt bằng lãi suất sẽ ổn định hơn và có thể tiếp tục giảm trong thời gian tới.

Kỳ vọng lãi suất dịu dần trong nửa cuối năm

Theo ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc Ngân hàng ACB, vấn đề liên quan đến tỷ giá và những biến động liên tục của lãi suất là điều các doanh nghiệp rất quan tâm. Ông Phát nhận định, lãi suất đã tăng khá nhanh trong 6 tháng đầu năm, đặc biệt trong quý I/2026, với mức tăng khoảng 1 - 2 điểm phần trăm, nhưng dự kiến dịu dần từ quý III/2026.

“Chênh lệch giữa cho vay và huy động đến gần 2 triệu tỷ đồng, việc dịu nhanh lãi suất huy động và lãi suất cho vay khó xảy ra. Chúng tôi cho rằng, lãi suất sẽ duy trì ở mức này và trong thời gian tới có thể dịu đi” - lãnh đạo ACB nêu quan điểm.

Nhờ chính sách điều hành linh hoạt, triển vọng ngành ngân hàng những tháng cuối năm được đánh giá tích cực hơn, tạo nền tảng cải thiện kết quả so với nửa đầu năm.

Bà Nguyễn Bích Liên - Phó trưởng phòng Quản lý cân đối vốn, VietinBank cũng kỳ vọng, dù vẫn còn nhiều yếu tố có thể gây áp lực lên mặt bằng lãi suất huy động, song cũng có không ít yếu tố tích cực giúp mặt bằng lãi suất huy động sẽ được kiểm soát và duy trì ở mức hiện tại, thay vì tăng mạnh trong thời gian còn lại của năm.

Theo Tổng Giám đốc ACB, các ngân hàng vẫn ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh bằng các gói tín dụng lãi suất thấp. Riêng ACB hiện có thể cho vay vốn lưu động với lãi suất khoảng 8 - 9%/năm, thấp hơn đáng kể so với mặt bằng thị trường và thậm chí thấp hơn mức lãi suất huy động, nhằm giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn thuận lợi hơn.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

IMF nâng dự báo GDP, loạt khuyến nghị giúp Việt Nam giữ đà tăng bền vững

(TBTCO) - Giữa nhiều biến động kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn tăng trưởng nổi bật, được Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) nâng dự báo GDP. Để duy trì thành quả này, IMF nhấn mạnh yêu cầu chuyển đổi mô hình, nâng cao chất lượng tăng trưởng, đồng thời khuyến nghị củng cố bộ đệm tài khóa và kiểm soát lạm phát trước những rủi ro toàn cầu.
Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 - 400.000 đồng/lượng tại các thương hiệu, trong khi vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 ▼900K 141,500 ▼900K
Hà Nội - PNJ 138,500 ▼900K 141,500 ▼900K
Đà Nẵng - PNJ 138,500 ▼900K 141,500 ▼900K
Miền Tây - PNJ 138,500 ▼900K 141,500 ▼900K
Tây Nguyên - PNJ 138,500 ▼900K 141,500 ▼900K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 ▼900K 141,500 ▼900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,960 ▼50K 14,260 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 13,960 ▼50K 14,260 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 13,960 ▼50K 14,260 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,870 ▼10K 14,250 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,870 ▼10K 14,250 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,870 ▼10K 14,250 ▼30K
NL 99.99 13,200 ▼30K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050 ▼30K
Trang sức 99.9 13,530 ▼30K 14,130 ▼30K
Trang sức 99.99 13,540 ▼30K 14,140 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,396 ▼5K 14,262 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,396 ▼5K 14,263 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,377 ▼16K 1,412 ▼11K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,377 ▼16K 1,413 ▼11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 ▼11K 1,402 ▼11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 ▼1089K 138,812 ▼1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 ▼825K 105,311 ▼825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 ▼748K 95,496 ▼748K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 ▼671K 85,681 ▼671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 ▼641K 81,895 ▼641K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 ▼459K 58,619 ▼459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 ▼5K 1,426 ▼5K
Cập nhật: 20/10/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17542 17815 18391
CAD 17880 18154 18771
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3832 3928
EUR 28370 28587 29667
GBP 33711 34100 35037
HKD 0 3165 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14383 14973
SGD 19692 19973 20552
THB 684 747 800
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,479 28,502 29,862
JPY 159.14 159.43 169.08
GBP 33,922 34,014 35,194
AUD 17,752 17,816 18,503
CAD 18,030 18,088 18,757
CHF 30,960 31,056 31,977
SGD 19,816 19,878 20,661
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.96 18.73 20.38
THB 733.97 743.03 795.86
NZD 14,380 14,514 14,946
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,706 2,805
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,921.68 - 6,682.73
TWD 716.21 - 867.76
SAR - 6,778.81 7,141.45
KWD - 81,731 86,975
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,448 28,591 29,816
GBP 33,830 34,000 35,034
HKD 3,226 3,245 3,363
CHF 30,793 30,948 31,891
JPY 158.50 160.10 168.08
AUD 17,687 17,812 18,409
SGD 19,793 19,973 20,568
THB 740 755 792
CAD 17,990 18,117 18,716
NZD 14,418 14,975
KRW 18.84 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26060
AUD 17729 17829 18759
CAD 18056 18156 19170
CHF 30975 31005 32583
CNY 3814.7 3839.7 3974.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28566 28596 30321
GBP 34030 34080 35838
HKD 0 3300 0
JPY 160.12 160.62 171.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19855 19985 20709
THB 0 713.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,583 25,703 26,000
USD20 25,553 25,703 26,000
USD1 25,533 25,703 26,000
AUD 17,801 17,901 19,008
EUR 28,411 28,511 30,167
CAD 17,999 18,099 19,404
SGD 19,934 20,084 20,647
JPY 160.5 162 167.56
GBP 33,935 34,085 35,147
XAU 13,958,000 13,958,000 14,262,000
CNY 0 0 0
THB 0 0 0
CHF 31,767 31,767 31,767
KRW 21.1 21.1 21.1
Cập nhật: 20/10/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30