Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Thu Hương
(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh ngưỡng 4.166 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, với giá bán vàng miếng phổ biến ở mức 151 triệu đồng/lượng.
aa

Giá vàng thế giới

Trên thị trường quốc tế, giá vàng hiện được niêm yết quanh mức 4.166,9 USD/ounce, tương đương khoảng 133,3 triệu đồng/lượng quy đổi theo tỷ giá Vietcombank (chưa bao gồm thuế và các khoản phí). So với cách đây 30 ngày, giá vàng thế giới đã giảm 163,1 USD/ounce, tương ứng mức giảm 3,77%. Với mặt bằng giá hiện tại, vàng thế giới đang thấp hơn khoảng 17,7 triệu đồng/lượng so với giá vàng trong nước.

Trong khi giá vàng có giai đoạn điều chỉnh, nhu cầu mua vàng của các ngân hàng trung ương vẫn duy trì ở mức cao. Theo báo cáo mới nhất của Hội đồng Vàng thế giới (WGC), bà Marissa Salim, Trưởng bộ phận Nghiên cứu khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), cho biết lượng vàng mua ròng của các ngân hàng trung ương trong tháng 5 đạt mức cao thứ hai kể từ đầu năm, chỉ thấp hơn kỷ lục ghi nhận trong tháng 2.

Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm
Giá vàng thế giới tại thời điểm 6 giờ sáng (theo giờ Việt Nam). Nguồn: Kitco.

Ba Lan là quốc gia mua vàng nhiều nhất trong tháng với 18 tấn, tiếp đến là Trung Quốc với 10 tấn. Uzbekistan và Kazakhstan cũng tiếp tục duy trì hoạt động mua vàng đều đặn. Đáng chú ý, Singapore đã quay trở lại nhóm các quốc gia mua vàng khi ghi nhận mua ròng 4 tấn, đánh dấu lần mua ròng đầu tiên kể từ tháng 9/2025.

Ở chiều ngược lại, Nga bán ròng 6 tấn vàng trong tháng 5, đưa tổng lượng bán ra từ đầu năm lên 34 tấn và làm lượng dự trữ giảm xuống còn 2.292 tấn. Thổ Nhĩ Kỳ cũng bán ròng thêm 3 tấn, nâng tổng lượng vàng bán ra từ đầu năm lên 81 tấn.

Theo bà Marissa Salim, mặc dù giá vàng đã giảm đáng kể sau giai đoạn căng thẳng giữa Iran và Israel, các ngân hàng trung ương vẫn duy trì quan điểm tích cực đối với việc gia tăng dự trữ vàng.

Kết quả Khảo sát Dự trữ Vàng của Ngân hàng Trung ương năm 2026 (Central Bank Gold Reserves Survey 2026) do WGC công bố cho thấy 89% ngân hàng trung ương được khảo sát dự báo tổng lượng vàng dự trữ toàn cầu sẽ tiếp tục tăng trong 12 tháng tới. Đồng thời, mức kỷ lục 45% ngân hàng trung ương cho biết họ có kế hoạch tiếp tục tăng lượng vàng dự trữ trong năm tới.

Bà Salim cũng cho biết Cơ quan Tiền tệ Singapore (MAS) dự kiến triển khai dịch vụ lưu ký vàng dành cho các ngân hàng trung ương từ tháng 10/2026, phù hợp với định hướng phát triển Singapore trở thành trung tâm giao dịch và lưu trữ vàng của khu vực.

Theo WGC, các số liệu mới nhất cho thấy xu hướng tích lũy vàng của các ngân hàng trung ương trên thế giới vẫn rất mạnh mẽ bất chấp diễn biến điều chỉnh của giá vàng. Ba Lan, Trung Quốc, Uzbekistan và Kazakhstan tiếp tục là những quốc gia dẫn dắt nhu cầu mua vàng từ khu vực chính thức, trong khi triển vọng 12 tháng tới vẫn được đánh giá tích cực khi phần lớn các ngân hàng trung ương có kế hoạch gia tăng tỷ trọng vàng trong dự trữ ngoại hối.

Giá vàng trong nước

Kết phiên giao dịch ngày 6/7, giá vàng trong nước giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.

Ở phân khúc vàng miếng, DOJI, PNJ và Bảo Tín Mạnh Hải cùng giảm 400.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đưa giá giao dịch xuống 148 - 151 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Minh Châu giảm 1 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và 400.000 đồng/lượng ở chiều bán ra, niêm yết ở mức 146,5 - 151 triệu đồng/lượng. Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý giảm 600.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và và 400.000 đồng/lượng ở chiều bán ra, đưa giá giao dịch xuống mức 147,4 - 151 triệu đồng/lượng.

Tại phân khúc vàng nhẫn, giá cũng giảm tại nhiều doanh nghiệp. DOJI và PNJ giảm 400.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, xuống ngưỡng 148 - 151 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Minh Châu giảm 1 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra, xuống mức 146,5 - 150 triệu đồng/lượng.

Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý cũng giảm 600.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra, đưa giá về ngưỡng 147,4 - 150,4 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Mạnh Hải giảm 1 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra, đưa giá vàng nhẫn về mức 146,5 - 150 triệu đồng/lượng.

Mở cửa phiên giao dịch ngày 7/7, giá vàng trong nước tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng. Ở phân khúc vàng miếng, DOJI, PNJ và Bảo Tín Mạnh Hải cùng giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đưa giá giao dịch xuống 147,5 - 150,5 triệu đồng/lượng.

Bảo Tín Minh Châu không thay đổi giá ở chiều mua vào và giảm 500.000 đồng/lượng ở chiều bán ra, niêm yết ở mức 146,5 - 150,5 triệu đồng/lượng.

Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý giảm 400.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và và 500.000 đồng/lượng ở chiều bán ra, đưa giá giao dịch xuống mức 147 - 150,5 triệu đồng/lượng.

Tại phân khúc vàng nhẫn, giá cũng giảm tại nhiều doanh nghiệp. DOJI giảm 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều, xuống ngưỡng 147,5 - 150,5 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Minh Châu không thay đổi về giá, hiện niêm yết ở ngưỡng 146,5 - 150 triệu đồng/lượng. Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý cũng giảm 400.000 đồng/lượng ở cả chiều mua vào và bán ra, đưa giá về ngưỡng 147 - 150 triệu đồng/lượng. Bảo Tín Mạnh Hải giảm 500.000 đồng/lượng ở chiều mua vào và bán ra, đưa giá vàng nhẫn về mức 146 - 149,5 triệu đồng/lượng. PNJ cũng giảm 700.000 đồng/lượng, đưa giá vàng nhẫn về ngưỡng 147,3 - 150,3 triệu đồng/lượng.

Thu Hương

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/7: Giá trong nước giảm thêm 1 triệu đồng/lượng cả 2 chiều mua, bán

Giá vàng hôm nay ngày 13/7: Giá trong nước giảm thêm 1 triệu đồng/lượng cả 2 chiều mua, bán

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.089 USD/ounce, giảm hơn 30 USD/ounce so với sáng qua. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đều giảm thêm 1 triệu đồng/lượng khi mở đầu phiên sáng nay.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 11/7: Vàng thế giới giữ trên 4.120 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 11/7: Vàng thế giới giữ trên 4.120 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch trên ngưỡng 4.120 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều thương hiệu, với mức điều chỉnh cao nhất lên tới 1 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 146,500
Hà Nội - PNJ 142,500 146,500
Đà Nẵng - PNJ 142,500 146,500
Miền Tây - PNJ 142,500 146,500
Tây Nguyên - PNJ 142,500 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 14,750
Miếng SJC Nghệ An 14,450 14,750
Miếng SJC Thái Bình 14,450 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,340 14,690
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,340 14,690
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,340 14,690
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,880 14,580
Trang sức 99.99 13,890 14,590
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 14,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 14,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 1,465
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 1,466
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Cập nhật: 20/07/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17818 18092 18679
CAD 18218 18494 19113
CHF 31910 32291 32944
CNY 0 3838 3932
EUR 29444 29665 30746
GBP 34567 34960 35898
HKD 0 3222 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15643
SGD 19810 20092 20674
THB 696 759 814
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,557 29,581 30,990
JPY 157.47 157.75 167.26
GBP 34,753 34,847 36,053
AUD 18,015 18,080 18,760
CAD 18,368 18,427 19,105
CHF 32,112 32,212 33,157
SGD 19,937 19,999 20,786
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.36 17.06 18.57
THB 745.85 755.06 808.82
NZD 15,010 15,149 15,604
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,665 2,763
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.91 - 6,788.09
TWD 732.76 - 887.63
SAR - 6,873.09 7,239.41
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,040 26,060 26,440
EUR 29,491 29,609 30,802
GBP 34,757 34,897 35,931
HKD 3,280 3,293 3,410
CHF 31,928 32,056 32,987
JPY 157.56 158.19 166.09
AUD 18,029 18,101 18,698
SGD 19,996 20,076 20,666
THB 762 765 801
CAD 18,372 18,446 19,026
NZD 15,106 15,651
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26490
AUD 17972 18072 19003
CAD 18386 18486 19502
CHF 32146 32176 33754
CNY 3819.3 3844.3 3979.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29619 29649 31374
GBP 34830 34880 36638
HKD 0 3355 0
JPY 158.41 158.91 169.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15128 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19983 20113 20840
THB 0 727 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,105 26,155 26,516
USD20 26,105 26,155 26,516
USD1 23,992 26,155 26,516
AUD 17,950 18,064 19,244
EUR 29,350 29,450 31,199
CAD 18,250 18,350 19,751
SGD 20,001 20,150 20,783
JPY 158.24 159.74 166.01
GBP 34,650 34,806 35,967
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/07/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80