Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt “Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

Bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO sau ba tuần hút mạnh

Qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, trong tuần qua từ ngày 22/6 đến ngày 26/6, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 30.961,15 tỷ đồng, ở kỳ hạn 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất giữ nguyên 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn lên tới 27.000 tỷ đồng, khiến lượng vốn bơm ròng qua thị trường mở (OMO) đạt khoảng 3.961,15 tỷ đồng.

Tính đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở đạt khoảng 229.651,98 tỷ đồng, tăng nhẹ so với cuối tuần trước. Đồng thời, đảo chiều so với xu hướng hút ròng mạnh ba tuần liên tiếp đầu tháng gần 110.000 tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy Ngân hàng Nhà nước tiếp tục sử dụng OMO theo hướng linh hoạt để bổ sung thanh khoản ngắn hạn cho hệ thống trong bối cảnh nhu cầu vốn tăng lên đầu tuần.

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần
Nguồn: Chứng khoán Yuanta.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm tăng mạnh lên 6,2%/năm trong phiên đầu tuần (ngày 22/6) trước khi giảm nhanh về 3,2%/năm vào ngày 25/6, thấp hơn 1,21 điểm phần trăm so với cuối tuần trước.

Trong khi đó, lãi suất các kỳ hạn dài phần lớn nhích tăng. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng lên 7,75%/năm, tăng 2,45 điểm phần trăm; kỳ hạn 2 tuần lên 7,8%/năm, tăng 0,26 điểm phần trăm; kỳ hạn 1 tháng giảm xuống 7,8%/năm, giảm 0,37 điểm phần trăm; còn kỳ hạn 3 tháng tăng lên 8,10%/năm, tăng 0,27 điểm phần trăm.

Diễn biến này cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn tập trung chủ yếu trong những phiên đầu tuần, khiến Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh phát hành OMO với quy mô lớn ngay ngày 22/6. Sau khi thanh khoản được cải thiện, lãi suất qua đêm nhanh chóng hạ nhiệt.

Trong khi đó, doanh số giao dịch qua đêm vẫn duy trì ổn định ở mức dưới 800 nghìn tỷ đồng, còn doanh số kỳ hạn 1 tuần tăng mạnh lên khoảng 40 nghìn tỷ đồng và kỳ hạn 2 tuần vượt 50 nghìn tỷ đồng, phản ánh nhu cầu cân đối nguồn vốn có kỳ hạn của các ngân hàng gia tăng.

Chia sẻ tại sự kiện Data Talk | Market Insight vừa tổ chức, bà Đỗ Minh Trang - Giám đốc Phòng Phân tích và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) cho rằng, nhìn lại bức tranh 6 tháng đầu năm, lãi suất tuy có tăng, nhưng vẫn ở mức nền kinh tế có thể chấp nhận được, trong khi tỷ giá đáng mừng là gần như đi ngang so với đầu năm. Đây có thể xem là kết quả tích cực trong công tác điều hành của Ngân hàng Nhà nước.

Bà Trang cũng đánh giá cao sự linh hoạt của cơ quan điều hành trong việc ứng phó với các tín hiệu từ thị trường thông qua những công cụ chính sách mới, thậm chí chưa từng có tiền lệ như: nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (FX Swap), bên cạnh kênh OMO truyền thống. Công cụ này giúp các ngân hàng bổ sung thanh khoản bằng đồng Việt Nam trong những thời điểm căng thẳng, qua đó góp phần hạ nhiệt lãi suất trên thị trường liên ngân hàng.

Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, DXY duy trì trên 101 điểm

Cũng theo bà Nguyễn Thị Phương Lam - Giám đốc Phân tích Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), một điểm tích cực từ đầu năm đến nay là mặt bằng tỷ giá tương đối ổn định. Thậm chí, trên thị trường tự do, tỷ giá USD cũng đã tiệm cận với mức niêm yết tại các ngân hàng thương mại.

Tuy nhiên, để đạt được sự ổn định này, Việt Nam phải chấp nhận mặt bằng lãi suất cao hơn so với những năm trước, đồng thời liên tục duy trì chênh lệch lãi suất giữa VND và USD ở mức đủ hấp dẫn nhằm giữ chân dòng vốn ngoại tệ.

giao dịch tại một chi nhánh của ngân hàng SHB ở Hà Nội ảnh Đức Thanh
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần. Ảnh: Đức Thanh.

Có thể chấp nhận tỷ giá biến động lớn hơn nửa cuối năm, để hạ nhiệt lãi suất

“Với triển vọng biến động tỷ giá từ đầu năm đến nay, VND gần như chưa mất giá, rất có khả năng trong nửa cuối năm khi môi trường địa chính trị quốc tế ổn định trở lại, Ngân hàng Nhà nước có thể sẽ chấp nhận mức biến động nhiều hơn của tỷ giá, thay vào đó là hỗ trợ thanh khoản, để giúp hạ nhiệt lãi suất trong nền kinh tế”.

Bà Nguyễn Thị Phương Lam -

Giám đốc Phân tích VDSC.

Cùng chung quan điểm, bà Đỗ Minh Trang đánh giá, Ngân hàng Nhà nước vẫn thể hiện một quan điểm rất là nhất quán trong chiến lược phát triển chung, đó là sẽ ổn định tâm lý thị trường, cam kết hỗ trợ thanh khoản, thúc đẩy tăng trưởng nhưng tránh tăng trưởng nóng.

Trong tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 14 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.195 đồng, đánh dấu đà tăng liên tiếp 7 tuần.

Tuy nhiên, so với đầu năm, tỷ giá trung tâm mới tăng 74 đồng, tương ứng mức tăng 0,3%.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD tại Vietcombank là 26.084 - 26.454 VND/USD, giảm 6 đồng ở chiều mua vào và tăng 14 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD là 26.134 - 26.454 VND/USD, cùng tăng 14 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD lên 26.000 - 26.640 VND/USD, tăng 80 đồng ở chiều mua và 100 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn thấp hơn nhiều so với mức tăng 270 đồng của tuần trước, cho thấy áp lực trên thị trường tự do đã phần nào hạ nhiệt. Đáng chú ý, tỷ giá USD tự do đã giảm về cuối tuần khi giá vàng thế giới và trong nước lao dốc, trong đó giá vàng thế giới đánh mất mốc 4.000 USD/ounce, làm giảm nhu cầu nắm giữ USD để phục vụ hoạt động đầu cơ và giao dịch vàng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - lên 101,4 điểm và ở mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.

Các nhà phân tích của Commerzbank (Đức) cho rằng, thị trường vàng đang chịu áp lực suy yếu khi giá có thời điểm giảm xuống dưới 4.000 USD/ounce trước khi phục hồi trở lại. Theo Commerzbank, nguyên nhân chính là kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.

Dữ liệu kinh tế Mỹ vừa công bố cũng chưa tạo điều kiện thuận lợi cho vàng. Chỉ số giá Chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) - thước đo lạm phát ưa thích của Fed - tăng lên trên 4% trong tháng 5, mức cao nhất trong 03 năm và phù hợp với dự báo. Điều này cho thấy áp lực lạm phát vẫn ở mức cao, củng cố kỳ vọng Fed sẽ duy trì lãi suất ở mức cao hoặc tiếp tục tăng lãi suất.

Commerzbank nhận định, nếu nền kinh tế Mỹ tiếp tục duy trì tăng trưởng vững chắc, thị trường sẽ còn giữ kỳ vọng về việc Fed thắt chặt chính sách tiền tệ, qua đó, tiếp tục gây sức ép lên giá vàng. Tuy nhiên, nếu báo cáo việc làm của Mỹ công bố vào tuần tới cho thấy tốc độ tạo việc làm chậm lại, lo ngại về lãi suất có thể giảm bớt, giúp đà giảm của giá vàng tạm thời ổn định.

Giá vàng đi xuống cũng làm giảm nhu cầu nắm giữ USD trên thị trường tự do để phục vụ hoạt động đầu cơ và giao dịch vàng, qua đó góp phần kéo tỷ giá USD tự do hạ nhiệt trong những phiên gần đây./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn leo dốc, yêu cầu nâng "chất" và điều hướng dòng vốn

Tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn leo dốc, yêu cầu nâng "chất" và điều hướng dòng vốn

(TBTCO) - Tín dụng/GDP của Việt Nam dự báo tiếp tục leo dốc, lên 155% năm 2026, gia tăng áp lực khi tín dụng đã ở nền cao. Trong khi dòng vốn vẫn tìm về "chỗ trũng", yêu cầu điều hướng tín dụng, nâng chất lượng tín dụng và tăng cường kiểm soát rủi ro ngày càng được đặt ra rõ nét.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VIB sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 9,5% vào ngày 11/9, tổng giá trị phát hành 3.233,8 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên gần 37.274 tỷ đồng. Việc tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô cho vay khách hàng của VIB đã tiến sát 400.000 tỷ đồng, nhằm tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng và hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 ▲800K 144,300 ▲100K
Hà Nội - PNJ 141,300 ▲800K 144,300 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 141,300 ▲800K 144,300 ▲100K
Miền Tây - PNJ 141,300 ▲800K 144,300 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 141,300 ▲800K 144,300 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 ▲800K 144,300 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,150 14,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,150 14,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,150 14,500
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,810 14,410
Trang sức 99.99 13,820 14,420
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/08/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17865 18139 18715
CAD 18159 18435 19053
CHF 31407 31786 32442
CNY 0 3830 3940
EUR 29405 29625 30709
GBP 34362 34753 35693
HKD 0 3190 3393
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14957 15548
SGD 19823 20105 20675
THB 703 766 819
USD (1,2) 25793 0 0
USD (5,10,20) 25833 0 0
USD (50,100) 25861 25875 26245
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,900 26,280
EUR 29,548 29,667 30,859
GBP 34,628 34,767 35,799
HKD 3,257 3,270 3,386
CHF 31,553 31,680 32,600
JPY 159.74 160.38 168.25
AUD 18,070 18,143 18,739
SGD 20,027 20,107 20,702
THB 769 772 808
CAD 18,391 18,465 19,054
NZD 15,052 15,596
KRW 17.60 19.57
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25870 25870 26240
AUD 18047 18147 19070
CAD 18335 18435 19449
CHF 31644 31674 33260
CNY 3803.2 3828.2 3963.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29584 29614 31339
GBP 34661 34711 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.04 160.54 171.08
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15063 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19982 20112 20833
THB 0 732.2 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14100000 14100000 14500000
SBJ 12500000 12500000 14500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,951 26,001 26,330
USD20 25,901 26,001 26,765
USD1 25,851 26,001 26,815
AUD 18,134 18,234 19,341
EUR 29,478 29,578 31,237
CAD 18,353 18,453 19,756
SGD 20,096 20,246 20,801
JPY 160.89 162.39 167.95
GBP 34,674 34,824 36,150
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80