Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt “Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

Bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO sau ba tuần hút mạnh

Qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, trong tuần qua từ ngày 22/6 đến ngày 26/6, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 30.961,15 tỷ đồng, ở kỳ hạn 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất giữ nguyên 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn lên tới 27.000 tỷ đồng, khiến lượng vốn bơm ròng qua thị trường mở (OMO) đạt khoảng 3.961,15 tỷ đồng.

Tính đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở đạt khoảng 229.651,98 tỷ đồng, tăng nhẹ so với cuối tuần trước. Đồng thời, đảo chiều so với xu hướng hút ròng mạnh ba tuần liên tiếp đầu tháng gần 110.000 tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy Ngân hàng Nhà nước tiếp tục sử dụng OMO theo hướng linh hoạt để bổ sung thanh khoản ngắn hạn cho hệ thống trong bối cảnh nhu cầu vốn tăng lên đầu tuần.

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần
Nguồn: Chứng khoán Yuanta.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm tăng mạnh lên 6,2%/năm trong phiên đầu tuần (ngày 22/6) trước khi giảm nhanh về 3,2%/năm vào ngày 25/6, thấp hơn 1,21 điểm phần trăm so với cuối tuần trước.

Trong khi đó, lãi suất các kỳ hạn dài phần lớn nhích tăng. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng lên 7,75%/năm, tăng 2,45 điểm phần trăm; kỳ hạn 2 tuần lên 7,8%/năm, tăng 0,26 điểm phần trăm; kỳ hạn 1 tháng giảm xuống 7,8%/năm, giảm 0,37 điểm phần trăm; còn kỳ hạn 3 tháng tăng lên 8,10%/năm, tăng 0,27 điểm phần trăm.

Diễn biến này cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn tập trung chủ yếu trong những phiên đầu tuần, khiến Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh phát hành OMO với quy mô lớn ngay ngày 22/6. Sau khi thanh khoản được cải thiện, lãi suất qua đêm nhanh chóng hạ nhiệt.

Trong khi đó, doanh số giao dịch qua đêm vẫn duy trì ổn định ở mức dưới 800 nghìn tỷ đồng, còn doanh số kỳ hạn 1 tuần tăng mạnh lên khoảng 40 nghìn tỷ đồng và kỳ hạn 2 tuần vượt 50 nghìn tỷ đồng, phản ánh nhu cầu cân đối nguồn vốn có kỳ hạn của các ngân hàng gia tăng.

Chia sẻ tại sự kiện Data Talk | Market Insight vừa tổ chức, bà Đỗ Minh Trang - Giám đốc Phòng Phân tích và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) cho rằng, nhìn lại bức tranh 6 tháng đầu năm, lãi suất tuy có tăng, nhưng vẫn ở mức nền kinh tế có thể chấp nhận được, trong khi tỷ giá đáng mừng là gần như đi ngang so với đầu năm. Đây có thể xem là kết quả tích cực trong công tác điều hành của Ngân hàng Nhà nước.

Bà Trang cũng đánh giá cao sự linh hoạt của cơ quan điều hành trong việc ứng phó với các tín hiệu từ thị trường thông qua những công cụ chính sách mới, thậm chí chưa từng có tiền lệ như: nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (FX Swap), bên cạnh kênh OMO truyền thống. Công cụ này giúp các ngân hàng bổ sung thanh khoản bằng đồng Việt Nam trong những thời điểm căng thẳng, qua đó góp phần hạ nhiệt lãi suất trên thị trường liên ngân hàng.

Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, DXY duy trì trên 101 điểm

Cũng theo bà Nguyễn Thị Phương Lam - Giám đốc Phân tích Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), một điểm tích cực từ đầu năm đến nay là mặt bằng tỷ giá tương đối ổn định. Thậm chí, trên thị trường tự do, tỷ giá USD cũng đã tiệm cận với mức niêm yết tại các ngân hàng thương mại.

Tuy nhiên, để đạt được sự ổn định này, Việt Nam phải chấp nhận mặt bằng lãi suất cao hơn so với những năm trước, đồng thời liên tục duy trì chênh lệch lãi suất giữa VND và USD ở mức đủ hấp dẫn nhằm giữ chân dòng vốn ngoại tệ.

giao dịch tại một chi nhánh của ngân hàng SHB ở Hà Nội ảnh Đức Thanh
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần. Ảnh: Đức Thanh.

Có thể chấp nhận tỷ giá biến động lớn hơn nửa cuối năm, để hạ nhiệt lãi suất

“Với triển vọng biến động tỷ giá từ đầu năm đến nay, VND gần như chưa mất giá, rất có khả năng trong nửa cuối năm khi môi trường địa chính trị quốc tế ổn định trở lại, Ngân hàng Nhà nước có thể sẽ chấp nhận mức biến động nhiều hơn của tỷ giá, thay vào đó là hỗ trợ thanh khoản, để giúp hạ nhiệt lãi suất trong nền kinh tế”.

Bà Nguyễn Thị Phương Lam -

Giám đốc Phân tích VDSC.

Cùng chung quan điểm, bà Đỗ Minh Trang đánh giá, Ngân hàng Nhà nước vẫn thể hiện một quan điểm rất là nhất quán trong chiến lược phát triển chung, đó là sẽ ổn định tâm lý thị trường, cam kết hỗ trợ thanh khoản, thúc đẩy tăng trưởng nhưng tránh tăng trưởng nóng.

Trong tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 14 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.195 đồng, đánh dấu đà tăng liên tiếp 7 tuần.

Tuy nhiên, so với đầu năm, tỷ giá trung tâm mới tăng 74 đồng, tương ứng mức tăng 0,3%.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD tại Vietcombank là 26.084 - 26.454 VND/USD, giảm 6 đồng ở chiều mua vào và tăng 14 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD là 26.134 - 26.454 VND/USD, cùng tăng 14 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD lên 26.000 - 26.640 VND/USD, tăng 80 đồng ở chiều mua và 100 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn thấp hơn nhiều so với mức tăng 270 đồng của tuần trước, cho thấy áp lực trên thị trường tự do đã phần nào hạ nhiệt. Đáng chú ý, tỷ giá USD tự do đã giảm về cuối tuần khi giá vàng thế giới và trong nước lao dốc, trong đó giá vàng thế giới đánh mất mốc 4.000 USD/ounce, làm giảm nhu cầu nắm giữ USD để phục vụ hoạt động đầu cơ và giao dịch vàng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - lên 101,4 điểm và ở mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.

Các nhà phân tích của Commerzbank (Đức) cho rằng, thị trường vàng đang chịu áp lực suy yếu khi giá có thời điểm giảm xuống dưới 4.000 USD/ounce trước khi phục hồi trở lại. Theo Commerzbank, nguyên nhân chính là kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.

Dữ liệu kinh tế Mỹ vừa công bố cũng chưa tạo điều kiện thuận lợi cho vàng. Chỉ số giá Chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) - thước đo lạm phát ưa thích của Fed - tăng lên trên 4% trong tháng 5, mức cao nhất trong 03 năm và phù hợp với dự báo. Điều này cho thấy áp lực lạm phát vẫn ở mức cao, củng cố kỳ vọng Fed sẽ duy trì lãi suất ở mức cao hoặc tiếp tục tăng lãi suất.

Commerzbank nhận định, nếu nền kinh tế Mỹ tiếp tục duy trì tăng trưởng vững chắc, thị trường sẽ còn giữ kỳ vọng về việc Fed thắt chặt chính sách tiền tệ, qua đó, tiếp tục gây sức ép lên giá vàng. Tuy nhiên, nếu báo cáo việc làm của Mỹ công bố vào tuần tới cho thấy tốc độ tạo việc làm chậm lại, lo ngại về lãi suất có thể giảm bớt, giúp đà giảm của giá vàng tạm thời ổn định.

Giá vàng đi xuống cũng làm giảm nhu cầu nắm giữ USD trên thị trường tự do để phục vụ hoạt động đầu cơ và giao dịch vàng, qua đó góp phần kéo tỷ giá USD tự do hạ nhiệt trong những phiên gần đây./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 ▲100K 14,700 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,400 ▲100K 14,700 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 ▲100K 14,700 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,150 ▲50K 13,350 ▲50K
Nguyên Liệu 99.9 13,100 ▲50K 13,300 ▲50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 ▼50K 14,150 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 ▼50K 14,100 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 ▼50K 14,080 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Hà Nội - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Đà Nẵng - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Miền Tây - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Tây Nguyên - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 ▲800K 146,800 ▲800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 ▲150K 14,700 ▲80K
Miếng SJC Nghệ An 14,400 ▲150K 14,700 ▲80K
Miếng SJC Thái Bình 14,400 ▲150K 14,700 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲100K 14,650 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲100K 14,650 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲100K 14,650 ▲100K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 ▲100K 14,540 ▲100K
Trang sức 99.99 13,850 ▲100K 14,550 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 ▼1288K 14,702 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 ▼1288K 14,703 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 ▲8K 1,469 ▲8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 ▲8K 147 ▼1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▲8K 1,454 ▲8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 ▼122472K 14,396 ▼128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 ▲600K 109,211 ▲600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 ▲544K 99,032 ▲544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 ▲488K 88,853 ▲488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 ▲67931K 84,927 ▲76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 ▲334K 60,788 ▲334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 ▼1288K 147 ▼1315K
Cập nhật: 26/06/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18474
CAD 18012 18287 18905
CHF 31875 32256 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33969 34359 35293
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14557 15149
SGD 19782 20064 20642
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/06/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80