Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt “Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

Bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO sau ba tuần hút mạnh

Qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, trong tuần qua từ ngày 22/6 đến ngày 26/6, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 30.961,15 tỷ đồng, ở kỳ hạn 35 ngày và 56 ngày, với lãi suất giữ nguyên 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn lên tới 27.000 tỷ đồng, khiến lượng vốn bơm ròng qua thị trường mở (OMO) đạt khoảng 3.961,15 tỷ đồng.

Tính đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở đạt khoảng 229.651,98 tỷ đồng, tăng nhẹ so với cuối tuần trước. Đồng thời, đảo chiều so với xu hướng hút ròng mạnh ba tuần liên tiếp đầu tháng gần 110.000 tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy Ngân hàng Nhà nước tiếp tục sử dụng OMO theo hướng linh hoạt để bổ sung thanh khoản ngắn hạn cho hệ thống trong bối cảnh nhu cầu vốn tăng lên đầu tuần.

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần
Nguồn: Chứng khoán Yuanta.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm tăng mạnh lên 6,2%/năm trong phiên đầu tuần (ngày 22/6) trước khi giảm nhanh về 3,2%/năm vào ngày 25/6, thấp hơn 1,21 điểm phần trăm so với cuối tuần trước.

Trong khi đó, lãi suất các kỳ hạn dài phần lớn nhích tăng. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng lên 7,75%/năm, tăng 2,45 điểm phần trăm; kỳ hạn 2 tuần lên 7,8%/năm, tăng 0,26 điểm phần trăm; kỳ hạn 1 tháng giảm xuống 7,8%/năm, giảm 0,37 điểm phần trăm; còn kỳ hạn 3 tháng tăng lên 8,10%/năm, tăng 0,27 điểm phần trăm.

Diễn biến này cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn tập trung chủ yếu trong những phiên đầu tuần, khiến Ngân hàng Nhà nước đẩy mạnh phát hành OMO với quy mô lớn ngay ngày 22/6. Sau khi thanh khoản được cải thiện, lãi suất qua đêm nhanh chóng hạ nhiệt.

Trong khi đó, doanh số giao dịch qua đêm vẫn duy trì ổn định ở mức dưới 800 nghìn tỷ đồng, còn doanh số kỳ hạn 1 tuần tăng mạnh lên khoảng 40 nghìn tỷ đồng và kỳ hạn 2 tuần vượt 50 nghìn tỷ đồng, phản ánh nhu cầu cân đối nguồn vốn có kỳ hạn của các ngân hàng gia tăng.

Chia sẻ tại sự kiện Data Talk | Market Insight vừa tổ chức, bà Đỗ Minh Trang - Giám đốc Phòng Phân tích và Chiến lược Thị trường, Công ty Chứng khoán ACB (ACBS) cho rằng, nhìn lại bức tranh 6 tháng đầu năm, lãi suất tuy có tăng, nhưng vẫn ở mức nền kinh tế có thể chấp nhận được, trong khi tỷ giá đáng mừng là gần như đi ngang so với đầu năm. Đây có thể xem là kết quả tích cực trong công tác điều hành của Ngân hàng Nhà nước.

Bà Trang cũng đánh giá cao sự linh hoạt của cơ quan điều hành trong việc ứng phó với các tín hiệu từ thị trường thông qua những công cụ chính sách mới, thậm chí chưa từng có tiền lệ như: nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ (FX Swap), bên cạnh kênh OMO truyền thống. Công cụ này giúp các ngân hàng bổ sung thanh khoản bằng đồng Việt Nam trong những thời điểm căng thẳng, qua đó góp phần hạ nhiệt lãi suất trên thị trường liên ngân hàng.

Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, DXY duy trì trên 101 điểm

Cũng theo bà Nguyễn Thị Phương Lam - Giám đốc Phân tích Công ty Cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), một điểm tích cực từ đầu năm đến nay là mặt bằng tỷ giá tương đối ổn định. Thậm chí, trên thị trường tự do, tỷ giá USD cũng đã tiệm cận với mức niêm yết tại các ngân hàng thương mại.

Tuy nhiên, để đạt được sự ổn định này, Việt Nam phải chấp nhận mặt bằng lãi suất cao hơn so với những năm trước, đồng thời liên tục duy trì chênh lệch lãi suất giữa VND và USD ở mức đủ hấp dẫn nhằm giữ chân dòng vốn ngoại tệ.

giao dịch tại một chi nhánh của ngân hàng SHB ở Hà Nội ảnh Đức Thanh
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần. Ảnh: Đức Thanh.

Có thể chấp nhận tỷ giá biến động lớn hơn nửa cuối năm, để hạ nhiệt lãi suất

“Với triển vọng biến động tỷ giá từ đầu năm đến nay, VND gần như chưa mất giá, rất có khả năng trong nửa cuối năm khi môi trường địa chính trị quốc tế ổn định trở lại, Ngân hàng Nhà nước có thể sẽ chấp nhận mức biến động nhiều hơn của tỷ giá, thay vào đó là hỗ trợ thanh khoản, để giúp hạ nhiệt lãi suất trong nền kinh tế”.

Bà Nguyễn Thị Phương Lam -

Giám đốc Phân tích VDSC.

Cùng chung quan điểm, bà Đỗ Minh Trang đánh giá, Ngân hàng Nhà nước vẫn thể hiện một quan điểm rất là nhất quán trong chiến lược phát triển chung, đó là sẽ ổn định tâm lý thị trường, cam kết hỗ trợ thanh khoản, thúc đẩy tăng trưởng nhưng tránh tăng trưởng nóng.

Trong tuần qua, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 14 đồng so với cuối tuần trước, lên 25.195 đồng, đánh dấu đà tăng liên tiếp 7 tuần.

Tuy nhiên, so với đầu năm, tỷ giá trung tâm mới tăng 74 đồng, tương ứng mức tăng 0,3%.

Tại các ngân hàng thương mại, tỷ giá USD tại Vietcombank là 26.084 - 26.454 VND/USD, giảm 6 đồng ở chiều mua vào và tăng 14 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước. Tại BIDV, tỷ giá USD là 26.134 - 26.454 VND/USD, cùng tăng 14 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD lên 26.000 - 26.640 VND/USD, tăng 80 đồng ở chiều mua và 100 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, mức tăng này vẫn thấp hơn nhiều so với mức tăng 270 đồng của tuần trước, cho thấy áp lực trên thị trường tự do đã phần nào hạ nhiệt. Đáng chú ý, tỷ giá USD tự do đã giảm về cuối tuần khi giá vàng thế giới và trong nước lao dốc, trong đó giá vàng thế giới đánh mất mốc 4.000 USD/ounce, làm giảm nhu cầu nắm giữ USD để phục vụ hoạt động đầu cơ và giao dịch vàng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - lên 101,4 điểm và ở mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.

Các nhà phân tích của Commerzbank (Đức) cho rằng, thị trường vàng đang chịu áp lực suy yếu khi giá có thời điểm giảm xuống dưới 4.000 USD/ounce trước khi phục hồi trở lại. Theo Commerzbank, nguyên nhân chính là kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.

Dữ liệu kinh tế Mỹ vừa công bố cũng chưa tạo điều kiện thuận lợi cho vàng. Chỉ số giá Chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCE) - thước đo lạm phát ưa thích của Fed - tăng lên trên 4% trong tháng 5, mức cao nhất trong 03 năm và phù hợp với dự báo. Điều này cho thấy áp lực lạm phát vẫn ở mức cao, củng cố kỳ vọng Fed sẽ duy trì lãi suất ở mức cao hoặc tiếp tục tăng lãi suất.

Commerzbank nhận định, nếu nền kinh tế Mỹ tiếp tục duy trì tăng trưởng vững chắc, thị trường sẽ còn giữ kỳ vọng về việc Fed thắt chặt chính sách tiền tệ, qua đó, tiếp tục gây sức ép lên giá vàng. Tuy nhiên, nếu báo cáo việc làm của Mỹ công bố vào tuần tới cho thấy tốc độ tạo việc làm chậm lại, lo ngại về lãi suất có thể giảm bớt, giúp đà giảm của giá vàng tạm thời ổn định.

Giá vàng đi xuống cũng làm giảm nhu cầu nắm giữ USD trên thị trường tự do để phục vụ hoạt động đầu cơ và giao dịch vàng, qua đó góp phần kéo tỷ giá USD tự do hạ nhiệt trong những phiên gần đây./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), trong bối cảnh thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý, lãi suất qua đêm duy trì 4,16%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng 10 tuần liên tiếp, sát đỉnh lịch sử, còn tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do hạ nhiệt.
ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ông Trương Minh Cát Nguyên - Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn pháp lý bảo hiểm Tila cho rằng, những doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với tâm lý khách hàng, để đẩy mạnh chuyển dịch sản phẩm và tái cấu trúc kênh phân phối, đặc biệt là bancassurance, sẽ dẫn dắt quá trình phục hồi, tạo động lực để thị trường bảo hiểm nhân thọ sớm tăng trưởng dương vào cuối năm.
Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng theo hướng đồng bộ với Luật Xây dựng, bổ sung quy định về mức phí, mức khấu trừ nhiều công trình. Nhiều nội dung được làm rõ, góp phần tăng trách nhiệm, tính tự chủ của doanh nghiệp, chuyển mạnh sang hậu kiểm và tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Hôm nay, giá vàng thế giới giảm mạnh xuống 3.976 USD/ounce, đánh mất mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, mở cửa phiên sáng, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng xuôi chiều giảm khá mạnh. Ở nhiều "nhà vàng" lớn, mức giảm đang ở mức 1,5 - 1,7 triệu đồng/lượng.
PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

(TBTCO) - PVcomBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu, đồng thời lên kế hoạch tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ giữ nguyên vốn điều lệ. Dù lợi nhuận gần đây khởi sắc, ngân hàng này vẫn đối mặt bài toán xử lý nợ xấu và hàng loạt cảnh báo về nợ xấu, tăng trưởng tín dụng, giới hạn cấp tín dụng và dư nợ bất động sản.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 146,500
Hà Nội - PNJ 142,500 146,500
Đà Nẵng - PNJ 142,500 146,500
Miền Tây - PNJ 142,500 146,500
Tây Nguyên - PNJ 142,500 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 14,750
Miếng SJC Nghệ An 14,450 14,750
Miếng SJC Thái Bình 14,450 14,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,340 14,690
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,340 14,690
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,340 14,690
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,880 14,580
Trang sức 99.99 13,890 14,590
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 14,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 14,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 1,465
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 1,466
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 1,475
Cập nhật: 20/07/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17818 18092 18679
CAD 18218 18494 19113
CHF 31910 32291 32944
CNY 0 3838 3932
EUR 29444 29665 30746
GBP 34567 34960 35898
HKD 0 3222 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15643
SGD 19810 20092 20674
THB 696 759 814
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,557 29,581 30,990
JPY 157.47 157.75 167.26
GBP 34,753 34,847 36,053
AUD 18,015 18,080 18,760
CAD 18,368 18,427 19,105
CHF 32,112 32,212 33,157
SGD 19,937 19,999 20,786
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.36 17.06 18.57
THB 745.85 755.06 808.82
NZD 15,010 15,149 15,604
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,665 2,763
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.91 - 6,788.09
TWD 732.76 - 887.63
SAR - 6,873.09 7,239.41
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,040 26,060 26,440
EUR 29,491 29,609 30,802
GBP 34,757 34,897 35,931
HKD 3,280 3,293 3,410
CHF 31,928 32,056 32,987
JPY 157.56 158.19 166.09
AUD 18,029 18,101 18,698
SGD 19,996 20,076 20,666
THB 762 765 801
CAD 18,372 18,446 19,026
NZD 15,106 15,651
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26490
AUD 17972 18072 19003
CAD 18386 18486 19502
CHF 32146 32176 33754
CNY 3819.3 3844.3 3979.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29619 29649 31374
GBP 34830 34880 36638
HKD 0 3355 0
JPY 158.41 158.91 169.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15128 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19983 20113 20840
THB 0 727 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,105 26,155 26,516
USD20 26,105 26,155 26,516
USD1 23,992 26,155 26,516
AUD 17,950 18,064 19,244
EUR 29,350 29,450 31,199
CAD 18,250 18,350 19,751
SGD 20,001 20,150 20,783
JPY 158.24 159.74 166.01
GBP 34,650 34,806 35,967
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 20/07/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80