Nới trần vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn:

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
aa

“Lấy ngắn nuôi dài” trước cơn khát vốn đầu tư

Các ngân hàng bơm vốn ngày càng nhiều cho những khoản vay trung - dài hạn, phục vụ đầu tư hạ tầng, phát triển bất động sản, mở rộng sản xuất và các dự án có thời gian thu hồi vốn dài. Số liệu tổng hợp của phóng viên cho thấy, đến cuối quý I/2026, dư nợ cho vay dài hạn tăng 33,3% so với cùng kỳ; trung hạn tăng 27,6%; trong khi cho vay ngắn hạn chỉ tăng 9,4%.

Cơ cấu tín dụng cũng cho thấy xu hướng rõ nét. Nếu không tính các khoản cho vay giao dịch ký quỹ và ứng trước cho khách hàng, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 51,9% tổng dư nợ. Tuy nhiên, cho vay trung - dài hạn chiếm tới 47,4%; trong đó, cho vay trung hạn chiếm 14% và cho vay dài hạn chiếm 33,4%.

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng
Nhiều ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay dài hạn bứt phá trong quý I/2026. Ảnh: Đức Thanh

Nhiều ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay dài hạn bứt phá trong quý I/2026. ABBank dẫn đầu khi dư nợ dài hạn tăng tới 255,2% so với cùng kỳ, lên 73.765,5 tỷ đồng; KienlongBank tăng 114,2%, đạt hơn 7.000 tỷ đồng; NCB tăng 67,7%, lên 36.921 tỷ đồng; VPBank tăng 56,2%, đưa dư nợ dài hạn lên gần 282.000 tỷ đồng.

Không chỉ tăng nhanh về quy mô, một số ngân hàng có tỷ trọng cho vay dài hạn cao trong quý I/2026, như ABBank (62,9%), Techcombank (49,6%), VIB (46,2%), OCB (45,9%)...

Số liệu từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt cũng cho thấy, nhu cầu vay vốn trung - dài hạn duy trì đà tăng tích cực hơn so với cho vay ngắn hạn kể từ quý III/2025. Tăng trưởng tín dụng doanh nghiệp đạt khoảng 5% từ đầu năm đến cuối quý I/2026, cao hơn đáng kể mức khoảng 2% của tín dụng bán lẻ.

Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích Chứng khoán Rồng Việt, diễn biến trên phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất, triển khai dự án của doanh nghiệp tăng mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản.

Sự linh hoạt cần thiết cho tăng trưởng

Ông Nguyễn Minh Tuấn - Tổng Giám đốc AFA Capital ví việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn như nới các “con ốc” của hệ thống quản trị rủi ro thanh khoản. “Tuy nhiên, khi bước vào một giai đoạn tăng trưởng, đồng thời phải đối mặt với các cú sốc từ bên ngoài, đây là một sự linh hoạt cần thiết của chính sách” - ông Tuấn nhận định.

“Xu hướng này cho thấy, các ngân hàng tận dụng diễn biến thị trường và chủ động cấu trúc lại kỳ hạn danh mục tín dụng nhằm bảo vệ biên lãi ròng (NIM) trước sức ép về chi phí vốn” - ông Tùng nhận định. Tuy nhiên, việc tín dụng trung - dài hạn tiếp tục tăng nhanh cũng cho thấy áp lực thanh khoản và lãi suất khó hạ nhiệt trong ngắn hạn.

Áp lực cũng được phản ánh qua việc nhiều ngân hàng gia tăng sử dụng vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay trung - dài hạn. Cuối năm 2025, tỷ lệ này tại OCB tiến sát ngưỡng 30%, tiếp đến là VPBank (27,48%), BIDV (27,08%), VIB (27%)...

Đáng chú ý, chỉ sau một năm, nhiều ngân hàng ghi nhận mức tăng mạnh. ACB tăng 5,62 điểm phần trăm, từ 18,78% lên 24,4%; VIB tăng 5,06 điểm phần trăm, từ 21,94% lên 27%; VietinBank tăng 3,55 điểm phần trăm; BIDV tăng 2,81 điểm phần trăm. ABBank là trường hợp ngoại lệ khi tỷ lệ này giảm mạnh từ 25,94% xuống 1,77%.

Không khó để nhận thấy, áp lực cân đối kỳ hạn nguồn vốn ngày càng lớn khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn, khiến chênh lệch giữa hai chỉ tiêu nới rộng lên hơn 1,9 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026 (theo dữ liệu của Chứng khoán SHS). Trong khi gần một nửa dư nợ là các khoản vay trung và dài hạn, khoảng 80% nguồn vốn huy động vẫn mang tính ngắn hạn. Sự lệch pha này làm gia tăng áp lực thanh khoản và làm nóng “cuộc đua” lãi suất huy động. Đồng thời, dư địa vốn dành cho các dự án đầu tư dài hạn của nền kinh tế cũng bị thu hẹp.

Cơ hội và đánh đổi khi nới “chốt” tín dụng trung - dài hạn

Để tạo dư địa cho tín dụng trung - dài hạn, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài vừa được ban hành, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Điểm đáng chú ý của Thông tư là tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được nâng từ mức 30% lên 40%.

Cần phải nhắc lại rằng, mức 40% từng được áp dụng trong năm 2020, trước khi được điều chỉnh giảm dần xuống 37%, 34% và 30%, nhằm kiểm soát tình trạng ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”. Bởi khi người gửi tiền rút vốn hoặc thị trường biến động, ngân hàng có thể gặp áp lực thanh khoản do nguồn vốn đã bị “khóa” trong các khoản vay có thể kéo dài 20 - 30 năm chưa thu hồi được. Vì vậy, tỷ lệ này là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ an toàn thanh khoản và cân đối kỳ hạn của hệ thống.

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Trong bối cảnh thanh khoản chịu áp lực và chi phí vốn đầu vào đắt đỏ hơn, lãnh đạo một ngân hàng thương mại đánh giá, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn là giải pháp hỗ trợ cần thiết. Chính sách này không chỉ giúp giảm áp lực cho các ngân hàng có tỷ lệ tiệm cận giới hạn, góp phần ổn định lãi suất và thanh khoản hệ thống, mà còn gián tiếp hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn.

Trong đó, những ngân hàng chủ động chuẩn bị nguồn vốn từ sớm sẽ có lợi thế lớn trong việc nắm bắt cơ hội kinh doanh và duy trì thanh khoản ổn định.

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, một chuyên gia tài chính - ngân hàng cũng đánh giá, việc tạo thêm dư địa để gia tăng nguồn vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế, đặc biệt là các dự án đầu tư quy mô lớn, mang ý nghĩa tích cực. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách phụ thuộc vào việc kiểm soát chặt chẽ dòng tín dụng, bảo đảm nguồn vốn được phân bổ đúng vào các danh mục, lĩnh vực và dự án theo định hướng.

“Điều này sẽ giúp giảm bớt áp lực thanh khoản và phần nào hạ nhiệt cuộc đua huy động vốn, khi các ngân hàng không còn phải tìm mọi cách để đáp ứng các chỉ tiêu an toàn. Qua đó, áp lực cạnh tranh lãi suất nhằm gia tăng nguồn huy động cũng được giảm bớt" - vị chuyên gia này nêu quan điểm.

Đây được xem là một “bước lùi mang tính chiến thuật” trong quá trình tái cấu trúc và phát triển bền vững hệ thống ngân hàng, nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Ở chiều ngược lại, chuyên gia này cho rằng, hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục gánh áp lực cung ứng vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế. Khi vai trò của ngân hàng được mở rộng, “không gian” phát triển của các kênh dẫn vốn khác như thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính... có thể bị thu hẹp, qua đó, làm chậm quá trình tái cấu trúc thị trường tài chính.

Hệ quả là áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng có thể kéo dài hơn, trong khi mục tiêu nâng cao chất lượng tài sản và quản trị rủi ro tín dụng khó đạt được trong ngắn hạn.

“Nếu không được kiểm soát tốt, một số tổ chức có thể lợi dụng “kẽ hở” để chuyển các khoản vay ngắn hạn sang trung - dài hạn, nhằm che giấu nợ xấu hoặc làm méo mó chất lượng tín dụng thực tế. Đây là rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra, nếu công tác giám sát không thực hiện chặt chẽ” - vị chuyên gia lưu ý.

Thông tư số 25/2026/TT-NHNN chủ yếu nhằm tháo gỡ áp lực vốn trung - dài hạn và thanh khoản trước mắt. Theo các chuyên gia, quy định này chỉ nên duy trì khoảng 2 - 3 năm, sau đó cần có lộ trình quay lại các tỷ lệ an toàn trước đây, bảo đảm ngân hàng phát triển bền vững và tiệm cận chuẩn mực Basel III./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VIB sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 9,5% vào ngày 11/9, tổng giá trị phát hành 3.233,8 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên gần 37.274 tỷ đồng. Việc tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô cho vay khách hàng của VIB đã tiến sát 400.000 tỷ đồng, nhằm tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng và hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

(TBTCO) - VPBankS dự báo, tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể tăng 16,5%, vượt mục tiêu 15% của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản cải thiện tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc, song huy động vẫn chưa bắt kịp, khiến lãi suất khó giảm mạnh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,160 ▲30K 14,460 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 14,160 ▲30K 14,460 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 14,160 ▲30K 14,460 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▲50K 14,550 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▲50K 14,550 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▲50K 14,550 ▲50K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,860 ▲50K 14,460 ▲50K
Trang sức 99.99 13,870 ▲50K 14,470 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,416 ▲3K 14,462 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,416 ▲3K 14,463 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,411 ▲3K 1,441 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,411 ▲3K 1,442 ▲3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 ▲3K 1,426 ▲3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 ▲297K 141,188 ▲297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 ▲225K 107,111 ▲225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 ▲204K 97,128 ▲204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 ▲183K 87,145 ▲183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 ▲175K 83,294 ▲175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 ▼44713K 5,962 ▼53533K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Cập nhật: 13/08/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17823 18097 18681
CAD 18130 18405 19022
CHF 31339 31718 32362
CNY 0 3830 3940
EUR 29363 29584 30661
GBP 34307 34698 35635
HKD 0 3186 3389
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14923 15509
SGD 19791 20073 20642
THB 702 765 818
USD (1,2) 25767 0 0
USD (5,10,20) 25806 0 0
USD (50,100) 25834 25848 26215
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25870 25870 26240
AUD 18047 18147 19070
CAD 18335 18435 19449
CHF 31644 31674 33260
CNY 3803.2 3828.2 3963.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29584 29614 31339
GBP 34661 34711 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.04 160.54 171.08
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15063 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19982 20112 20833
THB 0 732.2 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14100000 14100000 14500000
SBJ 12500000 12500000 14500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,951 26,001 26,330
USD20 25,901 26,001 26,765
USD1 25,851 26,001 26,815
AUD 18,134 18,234 19,341
EUR 29,478 29,578 31,237
CAD 18,353 18,453 19,756
SGD 20,096 20,246 20,801
JPY 160.89 162.39 167.95
GBP 34,674 34,824 36,150
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80