Nới trần vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn:

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
aa

“Lấy ngắn nuôi dài” trước cơn khát vốn đầu tư

Các ngân hàng bơm vốn ngày càng nhiều cho những khoản vay trung - dài hạn, phục vụ đầu tư hạ tầng, phát triển bất động sản, mở rộng sản xuất và các dự án có thời gian thu hồi vốn dài. Số liệu tổng hợp của phóng viên cho thấy, đến cuối quý I/2026, dư nợ cho vay dài hạn tăng 33,3% so với cùng kỳ; trung hạn tăng 27,6%; trong khi cho vay ngắn hạn chỉ tăng 9,4%.

Cơ cấu tín dụng cũng cho thấy xu hướng rõ nét. Nếu không tính các khoản cho vay giao dịch ký quỹ và ứng trước cho khách hàng, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 51,9% tổng dư nợ. Tuy nhiên, cho vay trung - dài hạn chiếm tới 47,4%; trong đó, cho vay trung hạn chiếm 14% và cho vay dài hạn chiếm 33,4%.

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng
Nhiều ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay dài hạn bứt phá trong quý I/2026. Ảnh: Đức Thanh

Nhiều ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay dài hạn bứt phá trong quý I/2026. ABBank dẫn đầu khi dư nợ dài hạn tăng tới 255,2% so với cùng kỳ, lên 73.765,5 tỷ đồng; KienlongBank tăng 114,2%, đạt hơn 7.000 tỷ đồng; NCB tăng 67,7%, lên 36.921 tỷ đồng; VPBank tăng 56,2%, đưa dư nợ dài hạn lên gần 282.000 tỷ đồng.

Không chỉ tăng nhanh về quy mô, một số ngân hàng có tỷ trọng cho vay dài hạn cao trong quý I/2026, như ABBank (62,9%), Techcombank (49,6%), VIB (46,2%), OCB (45,9%)...

Số liệu từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt cũng cho thấy, nhu cầu vay vốn trung - dài hạn duy trì đà tăng tích cực hơn so với cho vay ngắn hạn kể từ quý III/2025. Tăng trưởng tín dụng doanh nghiệp đạt khoảng 5% từ đầu năm đến cuối quý I/2026, cao hơn đáng kể mức khoảng 2% của tín dụng bán lẻ.

Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích Chứng khoán Rồng Việt, diễn biến trên phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất, triển khai dự án của doanh nghiệp tăng mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản.

Sự linh hoạt cần thiết cho tăng trưởng

Ông Nguyễn Minh Tuấn - Tổng Giám đốc AFA Capital ví việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn như nới các “con ốc” của hệ thống quản trị rủi ro thanh khoản. “Tuy nhiên, khi bước vào một giai đoạn tăng trưởng, đồng thời phải đối mặt với các cú sốc từ bên ngoài, đây là một sự linh hoạt cần thiết của chính sách” - ông Tuấn nhận định.

“Xu hướng này cho thấy, các ngân hàng tận dụng diễn biến thị trường và chủ động cấu trúc lại kỳ hạn danh mục tín dụng nhằm bảo vệ biên lãi ròng (NIM) trước sức ép về chi phí vốn” - ông Tùng nhận định. Tuy nhiên, việc tín dụng trung - dài hạn tiếp tục tăng nhanh cũng cho thấy áp lực thanh khoản và lãi suất khó hạ nhiệt trong ngắn hạn.

Áp lực cũng được phản ánh qua việc nhiều ngân hàng gia tăng sử dụng vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay trung - dài hạn. Cuối năm 2025, tỷ lệ này tại OCB tiến sát ngưỡng 30%, tiếp đến là VPBank (27,48%), BIDV (27,08%), VIB (27%)...

Đáng chú ý, chỉ sau một năm, nhiều ngân hàng ghi nhận mức tăng mạnh. ACB tăng 5,62 điểm phần trăm, từ 18,78% lên 24,4%; VIB tăng 5,06 điểm phần trăm, từ 21,94% lên 27%; VietinBank tăng 3,55 điểm phần trăm; BIDV tăng 2,81 điểm phần trăm. ABBank là trường hợp ngoại lệ khi tỷ lệ này giảm mạnh từ 25,94% xuống 1,77%.

Không khó để nhận thấy, áp lực cân đối kỳ hạn nguồn vốn ngày càng lớn khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn, khiến chênh lệch giữa hai chỉ tiêu nới rộng lên hơn 1,9 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026 (theo dữ liệu của Chứng khoán SHS). Trong khi gần một nửa dư nợ là các khoản vay trung và dài hạn, khoảng 80% nguồn vốn huy động vẫn mang tính ngắn hạn. Sự lệch pha này làm gia tăng áp lực thanh khoản và làm nóng “cuộc đua” lãi suất huy động. Đồng thời, dư địa vốn dành cho các dự án đầu tư dài hạn của nền kinh tế cũng bị thu hẹp.

Cơ hội và đánh đổi khi nới “chốt” tín dụng trung - dài hạn

Để tạo dư địa cho tín dụng trung - dài hạn, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài vừa được ban hành, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Điểm đáng chú ý của Thông tư là tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được nâng từ mức 30% lên 40%.

Cần phải nhắc lại rằng, mức 40% từng được áp dụng trong năm 2020, trước khi được điều chỉnh giảm dần xuống 37%, 34% và 30%, nhằm kiểm soát tình trạng ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”. Bởi khi người gửi tiền rút vốn hoặc thị trường biến động, ngân hàng có thể gặp áp lực thanh khoản do nguồn vốn đã bị “khóa” trong các khoản vay có thể kéo dài 20 - 30 năm chưa thu hồi được. Vì vậy, tỷ lệ này là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ an toàn thanh khoản và cân đối kỳ hạn của hệ thống.

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Trong bối cảnh thanh khoản chịu áp lực và chi phí vốn đầu vào đắt đỏ hơn, lãnh đạo một ngân hàng thương mại đánh giá, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn là giải pháp hỗ trợ cần thiết. Chính sách này không chỉ giúp giảm áp lực cho các ngân hàng có tỷ lệ tiệm cận giới hạn, góp phần ổn định lãi suất và thanh khoản hệ thống, mà còn gián tiếp hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn.

Trong đó, những ngân hàng chủ động chuẩn bị nguồn vốn từ sớm sẽ có lợi thế lớn trong việc nắm bắt cơ hội kinh doanh và duy trì thanh khoản ổn định.

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, một chuyên gia tài chính - ngân hàng cũng đánh giá, việc tạo thêm dư địa để gia tăng nguồn vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế, đặc biệt là các dự án đầu tư quy mô lớn, mang ý nghĩa tích cực. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách phụ thuộc vào việc kiểm soát chặt chẽ dòng tín dụng, bảo đảm nguồn vốn được phân bổ đúng vào các danh mục, lĩnh vực và dự án theo định hướng.

“Điều này sẽ giúp giảm bớt áp lực thanh khoản và phần nào hạ nhiệt cuộc đua huy động vốn, khi các ngân hàng không còn phải tìm mọi cách để đáp ứng các chỉ tiêu an toàn. Qua đó, áp lực cạnh tranh lãi suất nhằm gia tăng nguồn huy động cũng được giảm bớt" - vị chuyên gia này nêu quan điểm.

Đây được xem là một “bước lùi mang tính chiến thuật” trong quá trình tái cấu trúc và phát triển bền vững hệ thống ngân hàng, nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Ở chiều ngược lại, chuyên gia này cho rằng, hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục gánh áp lực cung ứng vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế. Khi vai trò của ngân hàng được mở rộng, “không gian” phát triển của các kênh dẫn vốn khác như thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính... có thể bị thu hẹp, qua đó, làm chậm quá trình tái cấu trúc thị trường tài chính.

Hệ quả là áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng có thể kéo dài hơn, trong khi mục tiêu nâng cao chất lượng tài sản và quản trị rủi ro tín dụng khó đạt được trong ngắn hạn.

“Nếu không được kiểm soát tốt, một số tổ chức có thể lợi dụng “kẽ hở” để chuyển các khoản vay ngắn hạn sang trung - dài hạn, nhằm che giấu nợ xấu hoặc làm méo mó chất lượng tín dụng thực tế. Đây là rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra, nếu công tác giám sát không thực hiện chặt chẽ” - vị chuyên gia lưu ý.

Thông tư số 25/2026/TT-NHNN chủ yếu nhằm tháo gỡ áp lực vốn trung - dài hạn và thanh khoản trước mắt. Theo các chuyên gia, quy định này chỉ nên duy trì khoảng 2 - 3 năm, sau đó cần có lộ trình quay lại các tỷ lệ an toàn trước đây, bảo đảm ngân hàng phát triển bền vững và tiệm cận chuẩn mực Basel III./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

(TBTCO) - Sáng 24/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.192 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đạt 101,44 điểm, tăng 0,03% khi kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách gia tăng; xác suất nâng lãi suất trong tháng 9 đã tăng lên 70,2%. Trong khi đó, đồng yên suy yếu mạnh, làm gia tăng lo ngại Nhật Bản có thể can thiệp.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▼100K 13,500 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▼100K 13,450 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,790 ▼100K 14,490 ▼100K
Trang sức 99.99 13,800 ▼100K 14,500 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 24/06/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17887 18460
CAD 17968 18243 18858
CHF 31778 32159 32797
CNY 0 3827 3919
EUR 29250 29471 30548
GBP 33908 34297 35239
HKD 0 3228 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14543 15130
SGD 19744 20025 20600
THB 703 766 820
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26152 26451
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,131 26,131 26,451
USD(1-2-5) 25,086 - -
USD(10-20) 25,086 - -
EUR 29,452 29,476 30,808
JPY 158.58 158.87 168.06
GBP 34,153 34,245 35,343
AUD 17,873 17,938 18,573
CAD 18,188 18,246 18,871
CHF 32,095 32,195 33,058
SGD 19,898 19,960 20,698
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,293 3,303 3,434
KRW 15.73 16.4 17.8
THB 752.94 762.24 813.9
NZD 14,582 14,717 15,114
SEK - 2,658 2,745
DKK - 3,940 4,069
NOK - 2,639 2,726
LAK - 0.91 1.27
MYR 5,948.8 - 6,699.53
TWD 749.79 - 906.17
SAR - 6,902.31 7,252.78
KWD - 83,298 88,418
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,131 26,451
EUR 29,387 29,505 30,684
GBP 34,121 34,258 35,268
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,944 32,072 32,985
JPY 158.76 159.40 167.20
AUD 17,866 17,938 18,524
SGD 19,946 20,026 20,602
THB 771 774 809
CAD 18,191 18,264 18,824
NZD 14,667 15,197
KRW 16.42 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26451
AUD 17859 17959 18887
CAD 18170 18270 19285
CHF 32083 32113 33695
CNY 3816.5 3841.5 3976.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29480 29510 31235
GBP 34223 34273 36033
HKD 0 3355 0
JPY 159.37 159.87 170.4
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14703 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19909 20039 20767
THB 0 734 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,161 26,101 26,451
USD20 26,161 26,101 26,451
USD1 26,161 26,101 26,451
AUD 17,855 17,955 19,068
EUR 29,588 29,588 30,997
CAD 18,103 18,203 19,509
SGD 19,986 20,136 20,699
JPY 159.78 161.28 165.85
GBP 34,123 34,473 35,345
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/06/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80