Nới trần vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn:

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
aa

“Lấy ngắn nuôi dài” trước cơn khát vốn đầu tư

Các ngân hàng bơm vốn ngày càng nhiều cho những khoản vay trung - dài hạn, phục vụ đầu tư hạ tầng, phát triển bất động sản, mở rộng sản xuất và các dự án có thời gian thu hồi vốn dài. Số liệu tổng hợp của phóng viên cho thấy, đến cuối quý I/2026, dư nợ cho vay dài hạn tăng 33,3% so với cùng kỳ; trung hạn tăng 27,6%; trong khi cho vay ngắn hạn chỉ tăng 9,4%.

Cơ cấu tín dụng cũng cho thấy xu hướng rõ nét. Nếu không tính các khoản cho vay giao dịch ký quỹ và ứng trước cho khách hàng, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 51,9% tổng dư nợ. Tuy nhiên, cho vay trung - dài hạn chiếm tới 47,4%; trong đó, cho vay trung hạn chiếm 14% và cho vay dài hạn chiếm 33,4%.

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng
Nhiều ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay dài hạn bứt phá trong quý I/2026. Ảnh: Đức Thanh

Nhiều ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay dài hạn bứt phá trong quý I/2026. ABBank dẫn đầu khi dư nợ dài hạn tăng tới 255,2% so với cùng kỳ, lên 73.765,5 tỷ đồng; KienlongBank tăng 114,2%, đạt hơn 7.000 tỷ đồng; NCB tăng 67,7%, lên 36.921 tỷ đồng; VPBank tăng 56,2%, đưa dư nợ dài hạn lên gần 282.000 tỷ đồng.

Không chỉ tăng nhanh về quy mô, một số ngân hàng có tỷ trọng cho vay dài hạn cao trong quý I/2026, như ABBank (62,9%), Techcombank (49,6%), VIB (46,2%), OCB (45,9%)...

Số liệu từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt cũng cho thấy, nhu cầu vay vốn trung - dài hạn duy trì đà tăng tích cực hơn so với cho vay ngắn hạn kể từ quý III/2025. Tăng trưởng tín dụng doanh nghiệp đạt khoảng 5% từ đầu năm đến cuối quý I/2026, cao hơn đáng kể mức khoảng 2% của tín dụng bán lẻ.

Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích Chứng khoán Rồng Việt, diễn biến trên phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất, triển khai dự án của doanh nghiệp tăng mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản.

Sự linh hoạt cần thiết cho tăng trưởng

Ông Nguyễn Minh Tuấn - Tổng Giám đốc AFA Capital ví việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn như nới các “con ốc” của hệ thống quản trị rủi ro thanh khoản. “Tuy nhiên, khi bước vào một giai đoạn tăng trưởng, đồng thời phải đối mặt với các cú sốc từ bên ngoài, đây là một sự linh hoạt cần thiết của chính sách” - ông Tuấn nhận định.

“Xu hướng này cho thấy, các ngân hàng tận dụng diễn biến thị trường và chủ động cấu trúc lại kỳ hạn danh mục tín dụng nhằm bảo vệ biên lãi ròng (NIM) trước sức ép về chi phí vốn” - ông Tùng nhận định. Tuy nhiên, việc tín dụng trung - dài hạn tiếp tục tăng nhanh cũng cho thấy áp lực thanh khoản và lãi suất khó hạ nhiệt trong ngắn hạn.

Áp lực cũng được phản ánh qua việc nhiều ngân hàng gia tăng sử dụng vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay trung - dài hạn. Cuối năm 2025, tỷ lệ này tại OCB tiến sát ngưỡng 30%, tiếp đến là VPBank (27,48%), BIDV (27,08%), VIB (27%)...

Đáng chú ý, chỉ sau một năm, nhiều ngân hàng ghi nhận mức tăng mạnh. ACB tăng 5,62 điểm phần trăm, từ 18,78% lên 24,4%; VIB tăng 5,06 điểm phần trăm, từ 21,94% lên 27%; VietinBank tăng 3,55 điểm phần trăm; BIDV tăng 2,81 điểm phần trăm. ABBank là trường hợp ngoại lệ khi tỷ lệ này giảm mạnh từ 25,94% xuống 1,77%.

Không khó để nhận thấy, áp lực cân đối kỳ hạn nguồn vốn ngày càng lớn khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn, khiến chênh lệch giữa hai chỉ tiêu nới rộng lên hơn 1,9 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026 (theo dữ liệu của Chứng khoán SHS). Trong khi gần một nửa dư nợ là các khoản vay trung và dài hạn, khoảng 80% nguồn vốn huy động vẫn mang tính ngắn hạn. Sự lệch pha này làm gia tăng áp lực thanh khoản và làm nóng “cuộc đua” lãi suất huy động. Đồng thời, dư địa vốn dành cho các dự án đầu tư dài hạn của nền kinh tế cũng bị thu hẹp.

Cơ hội và đánh đổi khi nới “chốt” tín dụng trung - dài hạn

Để tạo dư địa cho tín dụng trung - dài hạn, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài vừa được ban hành, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Điểm đáng chú ý của Thông tư là tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được nâng từ mức 30% lên 40%.

Cần phải nhắc lại rằng, mức 40% từng được áp dụng trong năm 2020, trước khi được điều chỉnh giảm dần xuống 37%, 34% và 30%, nhằm kiểm soát tình trạng ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”. Bởi khi người gửi tiền rút vốn hoặc thị trường biến động, ngân hàng có thể gặp áp lực thanh khoản do nguồn vốn đã bị “khóa” trong các khoản vay có thể kéo dài 20 - 30 năm chưa thu hồi được. Vì vậy, tỷ lệ này là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ an toàn thanh khoản và cân đối kỳ hạn của hệ thống.

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Trong bối cảnh thanh khoản chịu áp lực và chi phí vốn đầu vào đắt đỏ hơn, lãnh đạo một ngân hàng thương mại đánh giá, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn là giải pháp hỗ trợ cần thiết. Chính sách này không chỉ giúp giảm áp lực cho các ngân hàng có tỷ lệ tiệm cận giới hạn, góp phần ổn định lãi suất và thanh khoản hệ thống, mà còn gián tiếp hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn.

Trong đó, những ngân hàng chủ động chuẩn bị nguồn vốn từ sớm sẽ có lợi thế lớn trong việc nắm bắt cơ hội kinh doanh và duy trì thanh khoản ổn định.

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, một chuyên gia tài chính - ngân hàng cũng đánh giá, việc tạo thêm dư địa để gia tăng nguồn vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế, đặc biệt là các dự án đầu tư quy mô lớn, mang ý nghĩa tích cực. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách phụ thuộc vào việc kiểm soát chặt chẽ dòng tín dụng, bảo đảm nguồn vốn được phân bổ đúng vào các danh mục, lĩnh vực và dự án theo định hướng.

“Điều này sẽ giúp giảm bớt áp lực thanh khoản và phần nào hạ nhiệt cuộc đua huy động vốn, khi các ngân hàng không còn phải tìm mọi cách để đáp ứng các chỉ tiêu an toàn. Qua đó, áp lực cạnh tranh lãi suất nhằm gia tăng nguồn huy động cũng được giảm bớt" - vị chuyên gia này nêu quan điểm.

Đây được xem là một “bước lùi mang tính chiến thuật” trong quá trình tái cấu trúc và phát triển bền vững hệ thống ngân hàng, nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Ở chiều ngược lại, chuyên gia này cho rằng, hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục gánh áp lực cung ứng vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế. Khi vai trò của ngân hàng được mở rộng, “không gian” phát triển của các kênh dẫn vốn khác như thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính... có thể bị thu hẹp, qua đó, làm chậm quá trình tái cấu trúc thị trường tài chính.

Hệ quả là áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng có thể kéo dài hơn, trong khi mục tiêu nâng cao chất lượng tài sản và quản trị rủi ro tín dụng khó đạt được trong ngắn hạn.

“Nếu không được kiểm soát tốt, một số tổ chức có thể lợi dụng “kẽ hở” để chuyển các khoản vay ngắn hạn sang trung - dài hạn, nhằm che giấu nợ xấu hoặc làm méo mó chất lượng tín dụng thực tế. Đây là rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra, nếu công tác giám sát không thực hiện chặt chẽ” - vị chuyên gia lưu ý.

Thông tư số 25/2026/TT-NHNN chủ yếu nhằm tháo gỡ áp lực vốn trung - dài hạn và thanh khoản trước mắt. Theo các chuyên gia, quy định này chỉ nên duy trì khoảng 2 - 3 năm, sau đó cần có lộ trình quay lại các tỷ lệ an toàn trước đây, bảo đảm ngân hàng phát triển bền vững và tiệm cận chuẩn mực Basel III./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 28/09/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 28/09/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30