Nới trần vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn:

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
aa

“Lấy ngắn nuôi dài” trước cơn khát vốn đầu tư

Các ngân hàng bơm vốn ngày càng nhiều cho những khoản vay trung - dài hạn, phục vụ đầu tư hạ tầng, phát triển bất động sản, mở rộng sản xuất và các dự án có thời gian thu hồi vốn dài. Số liệu tổng hợp của phóng viên cho thấy, đến cuối quý I/2026, dư nợ cho vay dài hạn tăng 33,3% so với cùng kỳ; trung hạn tăng 27,6%; trong khi cho vay ngắn hạn chỉ tăng 9,4%.

Cơ cấu tín dụng cũng cho thấy xu hướng rõ nét. Nếu không tính các khoản cho vay giao dịch ký quỹ và ứng trước cho khách hàng, cho vay ngắn hạn vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 51,9% tổng dư nợ. Tuy nhiên, cho vay trung - dài hạn chiếm tới 47,4%; trong đó, cho vay trung hạn chiếm 14% và cho vay dài hạn chiếm 33,4%.

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng
Nhiều ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay dài hạn bứt phá trong quý I/2026. Ảnh: Đức Thanh

Nhiều ngân hàng ghi nhận tăng trưởng cho vay dài hạn bứt phá trong quý I/2026. ABBank dẫn đầu khi dư nợ dài hạn tăng tới 255,2% so với cùng kỳ, lên 73.765,5 tỷ đồng; KienlongBank tăng 114,2%, đạt hơn 7.000 tỷ đồng; NCB tăng 67,7%, lên 36.921 tỷ đồng; VPBank tăng 56,2%, đưa dư nợ dài hạn lên gần 282.000 tỷ đồng.

Không chỉ tăng nhanh về quy mô, một số ngân hàng có tỷ trọng cho vay dài hạn cao trong quý I/2026, như ABBank (62,9%), Techcombank (49,6%), VIB (46,2%), OCB (45,9%)...

Số liệu từ Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt cũng cho thấy, nhu cầu vay vốn trung - dài hạn duy trì đà tăng tích cực hơn so với cho vay ngắn hạn kể từ quý III/2025. Tăng trưởng tín dụng doanh nghiệp đạt khoảng 5% từ đầu năm đến cuối quý I/2026, cao hơn đáng kể mức khoảng 2% của tín dụng bán lẻ.

Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Trưởng phòng cao cấp Trung tâm phân tích Chứng khoán Rồng Việt, diễn biến trên phản ánh nhu cầu mở rộng sản xuất, triển khai dự án của doanh nghiệp tăng mạnh, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản.

Sự linh hoạt cần thiết cho tăng trưởng

Ông Nguyễn Minh Tuấn - Tổng Giám đốc AFA Capital ví việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn như nới các “con ốc” của hệ thống quản trị rủi ro thanh khoản. “Tuy nhiên, khi bước vào một giai đoạn tăng trưởng, đồng thời phải đối mặt với các cú sốc từ bên ngoài, đây là một sự linh hoạt cần thiết của chính sách” - ông Tuấn nhận định.

“Xu hướng này cho thấy, các ngân hàng tận dụng diễn biến thị trường và chủ động cấu trúc lại kỳ hạn danh mục tín dụng nhằm bảo vệ biên lãi ròng (NIM) trước sức ép về chi phí vốn” - ông Tùng nhận định. Tuy nhiên, việc tín dụng trung - dài hạn tiếp tục tăng nhanh cũng cho thấy áp lực thanh khoản và lãi suất khó hạ nhiệt trong ngắn hạn.

Áp lực cũng được phản ánh qua việc nhiều ngân hàng gia tăng sử dụng vốn ngắn hạn để tài trợ cho các khoản vay trung - dài hạn. Cuối năm 2025, tỷ lệ này tại OCB tiến sát ngưỡng 30%, tiếp đến là VPBank (27,48%), BIDV (27,08%), VIB (27%)...

Đáng chú ý, chỉ sau một năm, nhiều ngân hàng ghi nhận mức tăng mạnh. ACB tăng 5,62 điểm phần trăm, từ 18,78% lên 24,4%; VIB tăng 5,06 điểm phần trăm, từ 21,94% lên 27%; VietinBank tăng 3,55 điểm phần trăm; BIDV tăng 2,81 điểm phần trăm. ABBank là trường hợp ngoại lệ khi tỷ lệ này giảm mạnh từ 25,94% xuống 1,77%.

Không khó để nhận thấy, áp lực cân đối kỳ hạn nguồn vốn ngày càng lớn khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn, khiến chênh lệch giữa hai chỉ tiêu nới rộng lên hơn 1,9 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026 (theo dữ liệu của Chứng khoán SHS). Trong khi gần một nửa dư nợ là các khoản vay trung và dài hạn, khoảng 80% nguồn vốn huy động vẫn mang tính ngắn hạn. Sự lệch pha này làm gia tăng áp lực thanh khoản và làm nóng “cuộc đua” lãi suất huy động. Đồng thời, dư địa vốn dành cho các dự án đầu tư dài hạn của nền kinh tế cũng bị thu hẹp.

Cơ hội và đánh đổi khi nới “chốt” tín dụng trung - dài hạn

Để tạo dư địa cho tín dụng trung - dài hạn, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài vừa được ban hành, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Điểm đáng chú ý của Thông tư là tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn được nâng từ mức 30% lên 40%.

Cần phải nhắc lại rằng, mức 40% từng được áp dụng trong năm 2020, trước khi được điều chỉnh giảm dần xuống 37%, 34% và 30%, nhằm kiểm soát tình trạng ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”. Bởi khi người gửi tiền rút vốn hoặc thị trường biến động, ngân hàng có thể gặp áp lực thanh khoản do nguồn vốn đã bị “khóa” trong các khoản vay có thể kéo dài 20 - 30 năm chưa thu hồi được. Vì vậy, tỷ lệ này là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ an toàn thanh khoản và cân đối kỳ hạn của hệ thống.

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Trong bối cảnh thanh khoản chịu áp lực và chi phí vốn đầu vào đắt đỏ hơn, lãnh đạo một ngân hàng thương mại đánh giá, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn là giải pháp hỗ trợ cần thiết. Chính sách này không chỉ giúp giảm áp lực cho các ngân hàng có tỷ lệ tiệm cận giới hạn, góp phần ổn định lãi suất và thanh khoản hệ thống, mà còn gián tiếp hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn với chi phí hợp lý hơn.

Trong đó, những ngân hàng chủ động chuẩn bị nguồn vốn từ sớm sẽ có lợi thế lớn trong việc nắm bắt cơ hội kinh doanh và duy trì thanh khoản ổn định.

Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, một chuyên gia tài chính - ngân hàng cũng đánh giá, việc tạo thêm dư địa để gia tăng nguồn vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế, đặc biệt là các dự án đầu tư quy mô lớn, mang ý nghĩa tích cực. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách phụ thuộc vào việc kiểm soát chặt chẽ dòng tín dụng, bảo đảm nguồn vốn được phân bổ đúng vào các danh mục, lĩnh vực và dự án theo định hướng.

“Điều này sẽ giúp giảm bớt áp lực thanh khoản và phần nào hạ nhiệt cuộc đua huy động vốn, khi các ngân hàng không còn phải tìm mọi cách để đáp ứng các chỉ tiêu an toàn. Qua đó, áp lực cạnh tranh lãi suất nhằm gia tăng nguồn huy động cũng được giảm bớt" - vị chuyên gia này nêu quan điểm.

Đây được xem là một “bước lùi mang tính chiến thuật” trong quá trình tái cấu trúc và phát triển bền vững hệ thống ngân hàng, nhằm phục vụ mục tiêu tăng trưởng.

Ở chiều ngược lại, chuyên gia này cho rằng, hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục gánh áp lực cung ứng vốn trung - dài hạn cho nền kinh tế. Khi vai trò của ngân hàng được mở rộng, “không gian” phát triển của các kênh dẫn vốn khác như thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư, cho thuê tài chính... có thể bị thu hẹp, qua đó, làm chậm quá trình tái cấu trúc thị trường tài chính.

Hệ quả là áp lực thanh khoản của hệ thống ngân hàng có thể kéo dài hơn, trong khi mục tiêu nâng cao chất lượng tài sản và quản trị rủi ro tín dụng khó đạt được trong ngắn hạn.

“Nếu không được kiểm soát tốt, một số tổ chức có thể lợi dụng “kẽ hở” để chuyển các khoản vay ngắn hạn sang trung - dài hạn, nhằm che giấu nợ xấu hoặc làm méo mó chất lượng tín dụng thực tế. Đây là rủi ro tiềm ẩn có thể xảy ra, nếu công tác giám sát không thực hiện chặt chẽ” - vị chuyên gia lưu ý.

Thông tư số 25/2026/TT-NHNN chủ yếu nhằm tháo gỡ áp lực vốn trung - dài hạn và thanh khoản trước mắt. Theo các chuyên gia, quy định này chỉ nên duy trì khoảng 2 - 3 năm, sau đó cần có lộ trình quay lại các tỷ lệ an toàn trước đây, bảo đảm ngân hàng phát triển bền vững và tiệm cận chuẩn mực Basel III./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▼200K 13,400 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▼200K 13,350 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▼200K 14,590 ▼200K
Trang sức 99.99 13,900 ▼200K 14,600 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▼15K 14,842 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▼15K 14,843 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,444 ▼20K 1,479 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,444 ▼20K 148 ▼1347K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▼20K 1,459 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,455 ▼1486K 144,455 ▼1486K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,786 ▼1125K 109,586 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,572 ▼1020K 99,372 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,358 ▼915K 89,158 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,418 ▼875K 85,218 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,196 ▼626K 60,996 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cập nhật: 13/07/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17702 17976 18555
CAD 18052 18327 18946
CHF 31799 32180 32832
CNY 0 3833 3926
EUR 29394 29614 30695
GBP 34377 34768 35706
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14870 15457
SGD 19781 20063 20639
THB 702 766 819
USD (1,2) 25991 0 0
USD (5,10,20) 26032 0 0
USD (50,100) 26061 26075 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,540 29,564 30,972
JPY 157.6 157.88 167.43
GBP 34,565 34,659 35,850
AUD 17,900 17,965 18,644
CAD 18,234 18,293 18,967
CHF 32,101 32,201 33,157
SGD 19,906 19,968 20,752
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.19 16.88 18.37
THB 751.28 760.56 813.98
NZD 14,859 14,997 15,444
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,642 2,740
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,024.54 - 6,800.66
TWD 739.3 - 894.99
SAR - 6,877.37 7,243.3
KWD - 83,069 88,379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,080 26,460
EUR 29,367 29,485 30,675
GBP 34,506 34,645 35,674
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 32,862 31,990 32,917
JPY 157.99 158.62 166.54
AUD 17,865 17,937 18,530
SGD 19,956 20,036 20,623
THB 767 770 807
CAD 18,205 18,278 18,850
NZD 14,863 15,404
KRW 16.72 18.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26027 26027 26481
AUD 17873 17973 18896
CAD 18215 18315 19328
CHF 32036 32066 33644
CNY 3813.1 3838.1 3973.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34657 34707 36459
HKD 0 3355 0
JPY 158.54 159.04 169.56
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14972 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20795
THB 0 732 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 17,927 18,027 19,134
EUR 29,384 29,484 31,140
CAD 18,173 18,273 19,579
SGD 20,019 20,169 20,723
JPY 158.93 160.43 166
GBP 34,578 34,728 35,790
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/07/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80