HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
aa

HDBank gia nhập nhóm tài sản “triệu tỷ”, đưa dòng vốn sâu hơn vào sản xuất kinh doanh

Ngày 11/8, Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - mã Ck: HDB) vừa tổ chức Hội nghị Nhà đầu tư bán niên 2026, nhằm cập nhật kết quả kinh doanh, triển vọng lãi suất, tín dụng và các động lực tăng trưởng trong nửa cuối năm.

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm
Hội nghị Nhà đầu tư HDBank bán niên 2026.

Trong 6 tháng đầu năm, HDBank đạt lợi nhuận trước thuế 13.202 tỷ đồng, tăng 31% so với cùng kỳ trên nền tổng thu nhập hoạt động đạt 22.684 tỷ đồng, tăng 8,8%. Đáng chú ý, thu nhập ngoài lãi tăng 23,1%, góp phần củng cố kết quả kinh doanh và cho thấy cơ cấu nguồn thu ngày càng đa dạng.

Cùng với đà tăng trưởng này, tổng tài sản đạt 1,045 triệu tỷ đồng, tăng 12,3% so với đầu năm, đưa HDBank chính thức gia nhập nhóm ngân hàng có quy mô tài sản “triệu tỷ” tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, hiệu quả sinh lời duy trì ở mức cao, với tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) đạt 2,17% và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) đạt 25,4%.

Biên lãi ròng (NIM) riêng lẻ đạt 3,5%, hợp nhất đạt 4,1%; tỷ lệ an toàn vốn (CAR) ở mức 14,3%; tỷ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) 24,9%, trong khi hạn mức tăng trưởng tín dụng năm 2026 lên tới 35%.

Chia sẻ tại hội nghị, Ban lãnh đạo HDBank cho biết ngân hàng đang có vị thế thanh khoản thuận lợi, khi tiền gửi khách hàng tăng 20,6% trong 6 tháng đầu năm, đưa tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) xuống khoảng 72%, thấp hơn đáng kể so với trần 85% quy định; các tỷ lệ thanh khoản theo Basel III đều vượt 100%.

Trên thị trường liên ngân hàng, HDBank cũng duy trì vị thế cho vay ròng, góp phần cân đối thanh khoản chung của hệ thống.

Song song với nguồn vốn trong nước, HDBank tiếp tục đa dạng hóa các nguồn vốn quốc tế. Ngân hàng vừa huy động thành công khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế 721 triệu USD - lớn nhất từ trước đến nay do một tổ chức Việt Nam huy động - cùng 100 triệu USD trái phiếu xanh từ các định chế quốc tế.

Các nguồn vốn trung, dài hạn này giúp mở rộng khả năng tài trợ cho tín dụng xanh, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ và các hoạt động sản xuất kinh doanh bền vững. HDBank đồng thời triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp với lãi suất từ 8%/năm, góp phần giảm chi phí vốn và hỗ trợ nhu cầu sản xuất kinh doanh.

Tại hội nghị, Ban lãnh đạo HDBank cũng chia sẻ cụ thể về cấu trúc tăng trưởng tín dụng. Trong nửa đầu năm, tín dụng tăng 18,9%, với hơn 107.000 tỷ đồng tăng thêm từ cho vay khách hàng, tập trung vào xây dựng - hạ tầng, thương mại, bán buôn bán lẻ, lưu trú, dịch vụ và sản xuất kinh doanh.

Trong khi đó, tín dụng bất động sản chỉ tăng khoảng 1.300 tỷ đồng và hiện chỉ chiếm khoảng 12% tổng danh mục.

Trong bối cảnh các giải pháp giảm lãi suất cho vay và tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp tiếp cận tín dụng đang được đẩy mạnh, Ban lãnh đạo HDBank kỳ vọng, thanh khoản dồi dào cùng nguồn vốn quốc tế ngày càng mở rộng đang tạo thêm điều kiện để ngân hàng cung ứng vốn với chi phí hợp lý, hỗ trợ doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất kinh doanh và nắm bắt cơ hội thị trường.

Trong nửa cuối năm, HDBank tiếp tục ưu tiên doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh, nông nghiệp, xuất khẩu, bán lẻ và tài trợ chuỗi giá trị. Với các dự án hạ tầng lớn, ngân hàng lựa chọn cách tiếp cận theo chuỗi, tài trợ nhà thầu, nhà cung cấp, doanh nghiệp vừa và nhỏ, cùng khách hàng cá nhân, thay vì tập trung những khoản tín dụng trực tiếp quy mô lớn cho chủ đầu tư. Cách tiếp cận này giúp dòng vốn lan tỏa sâu hơn vào hoạt động sản xuất kinh doanh, đồng thời phân tán rủi ro.

Tín dụng xanh và tài chính bền vững cũng tiếp tục được đẩy mạnh, với các nguồn vốn quốc tế gắn tiêu chí xanh và xã hội góp phần mở rộng nguồn tài chính dài hạn cho doanh nghiệp và các dự án đáp ứng tiêu chí phát triển bền vững.

Hướng tới lợi nhuận hơn 30.000 tỷ đồng, loạt lợi thế cùng hội tụ

Từ kết quả nửa đầu năm, Ban lãnh đạo HDBank cho biết có cơ sở để hoàn thành mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng năm 2026, tăng 41% so với năm trước.

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

Nhiều lợi thế cùng hội tụ, giúp HDBank hướng đến mục tiêu lợi nhuận 2026.

Cơ sở này không chỉ nằm ở kết quả đã đạt được, mà còn đến từ nhiều động lực đang cùng cộng hưởng giá trị trong nửa cuối năm.

Theo đó, hoạt động ngân hàng cốt lõi còn khả năng mở rộng khi hạn mức tín dụng ở mức cao (35%), trong khi thanh khoản, vốn và hiệu quả vận hành tạo điều kiện để tăng trưởng tiếp tục đi cùng chất lượng.

Kết nối hệ sinh thái, khai thác lợi thế 34 triệu khách hàng

Ở chiều sâu, hệ sinh thái tài chính hơn 34 triệu khách hàng đang trở thành một lợi thế ngày càng rõ nét. Sự kết nối giữa HDBank, HD SAISON, HD Securities, Vikki Digital Bank cùng các mảng bảo hiểm và quản lý tài sản giúp ngân hàng gia tăng khả năng bán chéo, mở rộng sản phẩm và khai thác sâu hơn giá trị trên mỗi khách hàng.

Chất lượng tài sản tiếp tục được quản trị thận trọng. Hơn 85% danh mục tín dụng có tài sản bảo đảm, với giá trị tương đương khoảng 282% dư nợ.

Ban lãnh đạo kỳ vọng, sự cải thiện của dòng tiền doanh nghiệp và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế trong nửa cuối năm sẽ hỗ trợ chất lượng tài sản tiếp tục chuyển biến tích cực, thêm cơ sở để giảm tỷ lệ nợ xấu về mức 2% vào cuối năm.

Các công ty thành viên cũng ngày càng đóng góp rõ nét hơn vào kết quả hợp nhất. HD Securities đã đạt lợi nhuận trước thuế 1.470 tỷ đồng sau 6 tháng và được kỳ vọng có thể vượt 3.300 tỷ đồng cả năm; HD SAISON tiếp tục duy trì hiệu quả cao; Vikki Digital Bank gia tăng động lực tăng trưởng mới.

Sự cộng hưởng giữa ngân hàng mẹ và các đơn vị trong hệ sinh thái đang giúp HDBank hình thành cấu trúc tăng trưởng đa tầng, với nguồn thu và động lực lợi nhuận ngày càng đa dạng.

Cùng với đó, kế hoạch tăng vốn thông qua cổ tức và cổ phiếu thưởng tổng tỷ lệ 30% và phát hành riêng lẻ 700 triệu cổ phiếu cho nhà đầu tư chuyên nghiệp, ưu tiên các đối tác quốc tế có khả năng đồng hành dài hạn, được kỳ vọng tiếp tục gia tăng nguồn lực cho chặng đường phía trước.

Ở quy mô trên 1 triệu tỷ đồng, sự kết hợp giữa tăng trưởng tín dụng có chọn lọc, nguồn vốn thuận lợi, chuyển đổi số và sức mạnh hợp lực của hệ sinh thái đang tạo cho HDBank nhiều động lực để hướng tới mục tiêu lợi nhuận 2026, đồng thời nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của tăng trưởng trong những năm tiếp theo./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank chốt ngày 7/10/2026 để cổ đông thực hiện quyền mua 150 triệu cổ phiếu đợt 1 với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, với tỷ lệ 20,472%. Đây là bước đầu trong kế hoạch phát hành hơn 267 triệu cổ phiếu, qua đó, đưa vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng, hiện thực hóa mục tiêu ngân hàng theo đuổi nhiều năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 27/09/2026 02:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 27/09/2026 02:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30