HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank; HOSE: HDB) công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 với ba dấu mốc nổi bật: gia nhập nhóm ngân hàng có quy mô tài sản trên 1 triệu tỷ đồng; lợi nhuận trước thuế vượt 13.200 tỷ đồng với ROE đạt 25,4% thuộc nhóm cao nhất toàn ngành; đồng thời tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường vốn quốc tế thông qua khoản vay hợp vốn Social Loan trị giá 721 triệu USD và lần đầu tiên được Fitch Ratings xếp hạng tín nhiệm BB-, thuộc nhóm cao nhất đối với các ngân hàng Việt Nam.
aa

Kết thúc quý II/2026, HDBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 7.095 tỷ đồng, nâng lợi nhuận lũy kế 6 tháng lên 13.202 tỷ đồng, tăng 31% so với cùng kỳ năm trước. Tổng tài sản đạt 1,045 triệu tỷ đồng, tăng 12,3% so với đầu năm, chính thức đưa HDBank gia nhập nhóm ngân hàng có quy mô tài sản trên một triệu tỷ đồng tại Việt Nam.

Hiệu quả sinh lời tiếp tục thuộc nhóm dẫn đầu

HDBank tiếp tục duy trì hiệu quả hoạt động vượt trội với ROE đạt 25,4% và ROA đạt 2,17%, thuộc nhóm cao nhất hệ thống ngân hàng.

Không chỉ nổi bật trong năm 2026, HDBank còn duy trì hiệu quả sinh lời hàng đầu trong nhiều năm liên tiếp. Giai đoạn 2022-2025, ROE bình quân đạt khoảng 25%, thuộc nhóm cao nhất trong các ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân dẫn đầu. Tốc độ tăng trưởng kép lợi nhuận (CAGR) giai đoạn 2021-2025 đạt khoảng 27,5%/năm, phản ánh nền tảng tăng trưởng ổn định và bền vững.

Tổng thu nhập hoạt động đạt 22.684 tỷ đồng, tăng 8,8% so với cùng kỳ. Trong đó, thu nhập ngoài lãi tăng 23,1%, tiếp tục khẳng định hiệu quả chiến lược đa dạng hóa nguồn thu.

Hệ số chi phí trên thu nhập (CIR) giảm còn 24,9%, thuộc nhóm thấp nhất trong các ngân hàng tư nhân, phản ánh hiệu quả của chiến lược chuyển đổi số, tự động hóa vận hành và nâng cao năng suất.

Hiện nay, hơn 94% giao dịch của khách hàng cá nhân được thực hiện trên nền tảng số và các kênh số đóng góp trên 60% lượng khách hàng mới, tạo nền tảng cho tăng trưởng hiệu quả trong dài hạn.

Gia nhập nhóm ngân hàng quy mô triệu tỷ, phát huy sức mạnh hệ sinh thái

Đến ngày 30/6/2026, tổng tài sản HDBank đạt 1,045 triệu tỷ đồng, tăng 12,3% so với đầu năm.

Dư nợ tín dụng đạt 698.355 tỷ đồng, tăng 18,76%, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên của nền kinh tế như sản xuất - kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, nông nghiệp, hạ tầng, chuỗi cung ứng và tiêu dùng thiết yếu.

Huy động vốn đạt 932.437 tỷ đồng, tăng 12,1%, trong đó tiền gửi từ tổ chức kinh tế và dân cư tăng trên 20%.

HDBank vượt mốc 1 triệu tỷ đồng tài sản, ROE 25,4% thuộc nhóm cao nhất, tiếp tục nâng tầm vị thế quốc tế
Khách hàng giao dịch tại HDBank

Động lực tăng trưởng của HDBank đến từ hệ sinh thái tài chính - ngân hàng số - chứng khoán - bảo hiểm - quản lý quỹ - tài chính tiêu dùng cùng các lĩnh vực hàng không, bất động sản, hạ tầng, công nghệ và giáo dục.

Hệ sinh thái hiện phục vụ trên 34 triệu khách hàng trong lĩnh vực tài chính và có khả năng tiếp cận thêm trên 20 triệu khách hàng từ các đối tác chiến lược, tạo lợi thế lớn trong phát triển khách hàng, khai thác chéo sản phẩm và mở rộng nguồn thu bền vững.

Các đơn vị thành viên tiếp tục ghi nhận kết quả tăng trưởng tích cực trong nửa đầu năm 2026.

Theo đó, HD SAISON đạt lợi nhuận trước thuế trên 804 tỷ đồng, ROE đạt 22,3%, tiếp tục thuộc nhóm dẫn đầu thị trường tài chính tiêu dùng, phục vụ hơn 17,5 triệu khách hàng thông qua 28.600 điểm bán trên toàn quốc.

HD Securities (HDS) đạt lợi nhuận trước thuế 1.470 tỷ đồng, tăng 286%, thuộc Top 10 công ty chứng khoán có lợi nhuận cao nhất Việt Nam, với ROE trên 28% - thuộc nhóm dẫn đầu toàn ngành.

Vikki Digital Bank tiếp tục tăng trưởng mạnh sau hơn một năm chuyển đổi, với hơn 1,6 triệu lượt tải ứng dụng chỉ trong 6 tháng đầu năm, nâng tổng số người dùng lên trên 3,5 triệu. Ứng dụng Vikki Bank liên tục nằm trong nhóm ngân hàng số được người dùng đánh giá cao nhất với 4,7/5 điểm, trong khi quy mô tiền gửi trên cả kênh số và mạng lưới vật lý đều tăng trưởng vượt trội so với cùng kỳ năm trước.

Khẳng định vị thế quốc tế và tiên phong phát triển bền vững

Song hành cùng tăng trưởng kinh doanh, HDBank tiếp tục duy trì nền tảng vốn và các chỉ tiêu an toàn thuộc nhóm dẫn đầu hệ thống.

Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) theo Basel II đạt trên 14%, cao hơn nhiều so với mức tối thiểu theo quy định. Tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) chỉ 72%, trong khi các chỉ tiêu thanh khoản theo chuẩn Basel III như LCR và NSFR đều trên 100%, phản ánh năng lực vốn và thanh khoản vững chắc.

Cũng trong quý II/2026, Moody’s Ratings nâng triển vọng xếp hạng của HDBank từ “Ổn định” lên “Tích cực”. Cùng thời điểm, Fitch Ratings lần đầu tiên xếp hạng tín nhiệm HDBank ở mức BB-, thuộc nhóm cao nhất các ngân hàng Việt Nam.

HDBank vừa huy động thành công 721 triệu USD khoản vay hợp vốn quốc tế theo chuẩn Social Loan, vượt khoảng 60% quy mô dự kiến ban đầu. Đây là khoản vay hợp vốn xã hội lớn nhất từ trước đến nay do một tổ chức Việt Nam huy động trên thị trường quốc tế, thể hiện niềm tin mạnh mẽ của các định chế tài chính toàn cầu đối với năng lực quản trị, triển vọng phát triển và chiến lược tài chính bền vững của HDBank.

Bên cạnh đó, ngân hàng đang tiếp tục triển khai chương trình phát hành 500 triệu USD trái phiếu xanh quốc tế, khẳng định vai trò tiên phong trong huy động nguồn vốn phục vụ tăng trưởng xanh, phát triển xã hội và phát triển bền vững theo các chuẩn mực quốc tế.

Hướng tới hoàn thành vượt kế hoạch năm 2026

Với nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả hoạt động dẫn đầu, quy mô ngày càng lớn, hệ sinh thái khách hàng rộng khắp và vị thế quốc tế ngày càng được củng cố, HDBank đang có nhiều thuận lợi để hoàn thành và vượt các mục tiêu kinh doanh năm 2026 được Đại hội đồng cổ đông giao, hướng tới lợi nhuận trước thuế trên 30.100 tỷ đồng, tăng 41% so với năm trước.

Điểm nhấn xuyên suốt của 6 tháng đầu năm 2026 là HDBank không chỉ tăng trưởng nhanh về quy mô, mà còn duy trì hiệu quả sinh lời hàng đầu, đẩy mạnh chuyển đổi số, mở rộng sức mạnh hệ sinh thái và nâng tầm vị thế trên thị trường vốn quốc tế. Đây là nền tảng quan trọng để ngân hàng tiếp tục tạo ra tăng trưởng bền vững và gia tăng giá trị cho cổ đông, khách hàng và cộng đồng./.

Hải Băng

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

(TBTCO) - Sáng 31/7, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 18 đồng lên 25.338 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm và thị trường tự do lùi về 26.250 - 26.280 VND/USD. Diễn biến trái chiều xuất hiện khi Fed giữ nguyên lãi suất, chỉ số DXY có thời điểm mất mốc 100 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc họp của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và khả năng can thiệp tỷ giá.
Giá vàng hôm nay ngày 31/7: Vàng thế giới vượt mốc 4.100 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 31/7: Vàng thế giới vượt mốc 4.100 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng và vượt ngưỡng 4.100 USD/ounce. Cùng với đó, giá vàng trong nước đồng loạt đi lên khi nhiều doanh nghiệp điều chỉnh tăng cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Nguồn thu ngoài lãi bứt tốc, OCB lãi trước thuế gần 2.500 tỷ đồng sau 6 tháng

Nguồn thu ngoài lãi bứt tốc, OCB lãi trước thuế gần 2.500 tỷ đồng sau 6 tháng

(TBTCO) - Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, OCB ghi nhận lợi nhuận trước thuế 2.470 tỷ đồng, tăng 30,5% so với cùng kỳ. Kết quả được hỗ trợ bởi nguồn thu ngoài lãi tăng 78%, trong khi lãi thuần duy trì đà tăng nhờ tín dụng tiếp tục mở rộng. Dư nợ thị trường 1 của OCB đạt 227.554 tỷ đồng, cao hơn mức tăng toàn ngành.
Hanoi Re  - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

Hanoi Re - Dấu ấn thành công từ quyết định tái cấu trúc chiến lược của PVI

(TBTCO) - Có thể đánh giá, việc PVI tái cấu trúc năm 2011 theo mô hình công ty mẹ - công ty con là một quyết định chiến lược đúng đắn, tạo nền tảng để PVI chuyển từ một doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ thành định chế tài chính - bảo hiểm hoạt động theo mô hình đa trụ cột chuyên nghiệp.
Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

Eximbank: Tối ưu hiệu quả hoạt động, tăng cường trích lập dự phòng

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank - HOSE: EIB) công bố kết quả kinh doanh hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026 với lợi nhuận trước thuế đạt 678,5 tỷ đồng sau khi đã trích đầy đủ dự phòng theo quy định, hoàn thành gần 45% kế hoạch năm đã được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

Quốc hội cần giám sát làm rõ trách nhiệm quản lý thị trường vàng

(TBTCO) - Đánh giá thị trường vàng, đá quý vừa qua diễn biến phức tạp, xâm phạm nghiêm trọng quyền lợi hợp pháp của người dân, đại biểu Quốc hội Tô Ái Vang đề nghị Quốc hội giám sát làm rõ trách nhiệm về quản lý thị trường vàng, từ đó làm căn cứ hoàn thiện hành lang pháp lý, tăng khung xử phạt với các hành vi làm giả vàng, đá quý.
Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

(TBTCO) - Trước quyết định giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chuyên gia từ SSI Research nhận định, các quyết định chính sách của Fed trong thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào diễn biến dữ liệu kinh tế, trong khi khả năng tăng lãi suất từ nay đến cuối năm vẫn cần được theo dõi.
Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

Giá vàng hôm nay ngày 30/7: Giá vàng thế giới tăng mạnh, vàng trong nước lại quay đầu tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 76 USD/ounce lên 4.094 USD/ounce sau khi Fed giữ nguyên lãi suất. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng điều chỉnh tăng trở lại.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,500 ▲800K 142,000 ▲400K
Hà Nội - PNJ 137,500 ▲800K 142,000 ▲400K
Đà Nẵng - PNJ 137,500 ▲800K 142,000 ▲400K
Miền Tây - PNJ 137,500 ▲800K 142,000 ▲400K
Tây Nguyên - PNJ 137,500 ▲800K 142,000 ▲400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,500 ▲800K 142,000 ▲400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 ▲100K 14,270 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 13,870 ▲100K 14,270 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 13,870 ▲100K 14,270 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,870 ▲100K 14,270 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,870 ▲100K 14,270 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,870 ▲100K 14,270 ▲100K
NL 99.99 13,000 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▲50K
Trang sức 99.9 13,460 ▲100K 14,160 ▲100K
Trang sức 99.99 13,470 ▲100K 14,170 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲5K 1,422 ▲5K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,382 ▲5K 14,222 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,382 ▲5K 14,223 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,377 ▲5K 1,417 ▲5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,377 ▲5K 1,418 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,347 ▲5K 1,397 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,317 ▲495K 138,317 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,135 ▲85659K 104,935 ▲94479K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,356 ▲341K 95,156 ▲341K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,576 ▲68049K 85,376 ▲76869K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,803 ▲291K 81,603 ▲291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,611 ▲209K 58,411 ▲209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲5K 1,422 ▲5K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲5K 1,422 ▲5K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲5K 1,422 ▲5K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲5K 1,422 ▲5K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲5K 1,422 ▲5K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲5K 1,422 ▲5K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲5K 1,422 ▲5K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲5K 1,422 ▲5K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲5K 1,422 ▲5K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲5K 1,422 ▲5K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲5K 1,422 ▲5K
Cập nhật: 31/07/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17921 18195 18770
CAD 18205 18481 19093
CHF 31894 32275 32922
CNY 0 3851 3944
EUR 29603 29824 30905
GBP 34517 34909 35845
HKD 0 3218 3420
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15101 15688
SGD 19916 20198 20764
THB 701 764 817
USD (1,2) 26000 0 0
USD (5,10,20) 26041 0 0
USD (50,100) 26070 26079 26444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,659 29,683 31,087
JPY 159.14 159.43 169.04
GBP 34,708 34,802 36,011
AUD 18,122 18,187 18,879
CAD 18,394 18,453 19,134
CHF 32,157 32,257 33,215
SGD 20,041 20,103 20,899
CNY - 3,820 3,965
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.87 17.59 19.14
THB 748.87 758.12 811.61
NZD 15,088 15,228 15,680
SEK - 2,706 2,801
DKK - 3,979 4,118
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,004.76 - 6,776.61
TWD 732.67 - 887.5
SAR - 6,879.09 7,245.46
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,070 26,095 26,475
EUR 29,717 29,836 31,032
GBP 34,756 34,896 35,929
HKD 3,283 3,296 3,413
CHF 32,055 32,184 33,119
JPY 159.63 160.27 168.23
AUD 18,136 18,209 18,807
SGD 20,126 20,207 20,801
THB 767 770 806
CAD 18,421 18,495 19,078
NZD 15,183 15,730
KRW 17.52 19.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26060 26060 26460
AUD 18092 18192 19118
CAD 18382 18482 19498
CHF 32136 32166 33752
CNY 3830.5 3855.5 3991.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29775 29805 31533
GBP 34817 34867 36628
HKD 0 3355 0
JPY 159.91 160.41 170.92
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.5 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15199 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20069 20199 20925
THB 0 730.3 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,500
USD20 26,050 26,150 26,554
USD1 26,000 26,150 26,604
AUD 18,149 18,249 19,368
EUR 29,597 29,697 31,366
CAD 18,340 18,440 19,754
SGD 20,161 20,311 20,877
JPY 160.58 162.08 167.68
GBP 34,738 34,888 36,059
XAU 13,768,000 0 14,172,000
CNY 0 3,741 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/07/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80