Fed giữ nguyên lãi suất 3,5% - 3,75% lần thứ 5 liên tiếp, ba phiếu phản đối phát tín hiệu "diều hâu"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Fed giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 3,5% - 3,75% trong kỳ họp thứ 5 liên tiếp, nhưng kết quả biểu quyết 9 - 3 với ba thành viên ủng hộ tăng thêm 0,25 điểm phần trăm phát đi tín hiệu chính sách vẫn nghiêng về hướng "diều hâu". Lạm phát còn cao hơn mục tiêu 2%, để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt nếu áp lực giá cả chưa giảm như kỳ vọng.
aa

Thế khó của tân Chủ tịch Fed tại cuộc họp quyết định lãi suất

Điều hành chính sách tiền tệ trong thế đa “biến số”, đa mục tiêu

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) quyết định giữ nguyên phạm vi lãi suất quỹ liên bang ở mức 3,5% - 3,75% tại cuộc họp chính sách tháng 7, đánh dấu lần thứ 5 liên tiếp không điều chỉnh lãi suất.

Quyết định được thông qua với tỷ lệ 9 phiếu thuận - 3 phiếu chống, khi ba thành viên của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) là Beth Hammack, Neel Kashkari và Lorie Logan bỏ phiếu ủng hộ tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm ngay tại cuộc họp. Đây là mức độ bất đồng lớn nhất trong nhiều năm, cho thấy nội bộ Fed đang xuất hiện quan điểm cứng rắn hơn về chính sách tiền tệ.

Dù giữ nguyên lãi suất, kết quả biểu quyết phát đi tín hiệu rằng Fed chưa khép lại chu kỳ tăng lãi suất, mà chỉ đang lùi thời điểm hành động.

Ba phiếu phản đối theo hướng “diều hâu” phản ánh áp lực ngày càng lớn trong nội bộ FOMC về việc cần tiếp tục thắt chặt chính sách để đưa lạm phát trở về mục tiêu.

FOMC đánh giá nền kinh tế Mỹ vẫn tăng trưởng với tốc độ ổn định, dù mức độ bất định gia tăng, một phần do xung đột tại Trung Đông. Năng suất lao động và đầu tư vốn tiếp tục tăng mạnh. Thị trường lao động duy trì ổn định khi tốc độ tạo việc làm tương xứng với mức tăng của lực lượng lao động, trong khi tỷ lệ thất nghiệp hầu như không thay đổi.

Về lạm phát, FOMC cho biết mức tăng giá vẫn cao hơn mục tiêu 2%, một phần do các cú sốc về nguồn cung khiến giá cả tăng ở một số lĩnh vực, trong đó có năng lượng. Đây tiếp tục là rủi ro lớn nhất đối với chính sách tiền tệ và là lý do Fed duy trì lập trường thận trọng. Ủy ban tái khẳng định cam kết đưa lạm phát trở lại, với mục tiêu ổn định giá cả.

Fed giữ nguyên lãi suất 3,5% - 3,75% lần thứ 5 liên tiếp, ba phiếu phản đối phát tín hiệu
Chủ tịch Fed Kevin Warsh trả lời báo giới sau cuộc họp. Nguồn: CNN.

Phát biểu sau cuộc họp, Chủ tịch Fed Kevin Warsh tìm cách giảm nhẹ ý nghĩa của ba phiếu phản đối khi cho biết các cuộc thảo luận trong FOMC diễn ra tích cực, sâu sắc và có sự đồng thuận rộng rãi về những thách thức mà nền kinh tế đang đối mặt. Theo Chủ tịch Fed, các phiếu bất đồng không phản ánh đầy đủ quá trình trao đổi chính sách trong cuộc họp.

Dù vậy, ông Warsh vẫn phát đi thông điệp cứng rắn về lạm phát. Chủ tịch Kevin Warsh khẳng định Fed không chấp nhận mục tiêu lạm phát cao hơn 2% và sẽ không ngần ngại hành động nếu cần thiết để đưa lạm phát trở lại mục tiêu.

Sau nhiều năm lạm phát duy trì ở mức cao, thị trường có thể cho rằng Fed đã chấp nhận mức lạm phát cao hơn, nhưng Chủ tịch Fed nhấn mạnh điều đó là không đúng.

Về triển vọng chính sách, Chủ tịch Fed cho biết cơ quan này không cam kết trước một lộ trình lãi suất cụ thể, mà sẽ tiếp tục phụ thuộc vào dữ liệu kinh tế. Fed sẽ theo dõi diễn biến lạm phát, mức độ lan rộng của các cú sốc nguồn cung cũng như các tín hiệu từ thị trường tài chính trước khi đưa ra quyết định tại cuộc họp tiếp theo trong khoảng 7 - 8 tuần tới.

Mặc dù các số liệu lạm phát gần đây đã có những tín hiệu tích cực, Fed cho rằng vẫn còn quá sớm để kết luận quá trình kiểm soát lạm phát đã hoàn tất.

Cuộc họp lần này cho thấy Fed vẫn duy trì lập trường “diều hâu”. Việc giữ nguyên lãi suất không đồng nghĩa với việc chu kỳ thắt chặt đã kết thúc. Ba phiếu phản đối, thông điệp cứng rắn về lạm phát và sự sẵn sàng hành động của Chủ tịch Kevin Warsh đều cho thấy Fed vẫn để ngỏ khả năng tăng lãi suất trong các cuộc họp tới nếu áp lực lạm phát không giảm như kỳ vọng.

Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế và thị trường lao động vẫn vững chắc, Fed có thêm dư địa để tiếp tục ưu tiên mục tiêu khôi phục ổn định giá cả./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bỏ trứng nhiều "giỏ", danh mục đầu tư đa dạng giúp Tái bảo hiểm VINARE báo lãi hơn 290 tỷ đồng

Bỏ trứng nhiều "giỏ", danh mục đầu tư đa dạng giúp Tái bảo hiểm VINARE báo lãi hơn 290 tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2026 của Tổng công ty cổ phần Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE) đạt 290,5 tỷ đồng, tăng 17,1% cùng kỳ, nhờ hoạt động tài chính khởi sắc với lợi nhuận gộp trên 257 tỷ đồng. Tổng công ty duy trì danh mục đầu tư tài chính gần 6.400 tỷ đồng, phân bổ đa dạng nhằm tối ưu hiệu quả đầu tư và quản trị rủi ro.
Định hình hệ thống ngân hàng hiện đại đến năm 2045, phát triển sàn giao dịch nợ, sở giao dịch vàng

Định hình hệ thống ngân hàng hiện đại đến năm 2045, phát triển sàn giao dịch nợ, sở giao dịch vàng

(TBTCO) - Một trong những nội dung trọng tâm của Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính Việt Nam là hướng đến phát triển hệ thống ngân hàng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả dựa trên nền tảng công nghệ số đến năm 2045. Trong đó, Đề án định hướng phát triển Sàn giao dịch nợ quốc gia trên nền tảng số, xây dựng sàn/sở giao dịch vàng, khả năng triển khai đồng tiền kỹ thuật số quốc gia...
Yếu tố nào sẽ tác động lên xu hướng của giá vàng?

Yếu tố nào sẽ tác động lên xu hướng của giá vàng?

(TBTCO) - Theo ông Phan Dũng Khánh - Chuyên gia tư vấn đầu tư độc lập, thị trường vàng chịu tác động từ nhiều yếu tố quốc tế như chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, đồng USD và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ, cùng các yếu tố trong nước như tâm lý nhà đầu tư và quan hệ cung - cầu. Tuy nhiên, xu hướng giá vàng vẫn chủ yếu phụ thuộc vào diễn biến của thị trường thế giới.
Giá vàng hôm nay ngày 29/7: Vàng thế giới mất gần 60 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 29/7: Vàng thế giới mất gần 60 USD/ounce, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 60 USD/ounce, lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm từ 1 - 1,5 triệu đồng/lượng.
Phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2045: Mở đường sandbox, xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia

Phát triển thị trường bảo hiểm đến năm 2045: Mở đường sandbox, xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia

(TBTCO) - Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính định hướng phát triển thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn, bền vững. Bên cạnh nghiên cứu triển khai sandbox với một số mô hình kinh doanh bảo hiểm ứng dụng công nghệ mới, Đề án cũng hướng tới xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia, ứng dụng blockchain để lưu vết hồ sơ bồi thường, cảnh báo trục lợi...
Khi quyền lợi bảo hiểm đến đúng lúc

Khi quyền lợi bảo hiểm đến đúng lúc

(TBTCO) - Việc Prudential hoàn tất thẩm định và quyết định chi trả gần 200 triệu đồng cho gia đình một khách hàng gặp nạn trong trận lũ tại tỉnh Lai Châu một lần nữa cho thấy giá trị thiết thực của bảo hiểm nhân thọ khi rủi ro xảy ra. Trên thị trường, nhiều doanh nghiệp cũng đang đẩy nhanh quá trình giải quyết quyền lợi bảo hiểm, qua đó hỗ trợ khách hàng và gia đình giảm bớt gánh nặng tài chính, từng bước vượt qua biến cố.
Ngân hàng Nhà nước cảnh báo tình trạng đánh tráo chip thẻ, yêu cầu minh bạch phí thẻ tín dụng

Ngân hàng Nhà nước cảnh báo tình trạng đánh tráo chip thẻ, yêu cầu minh bạch phí thẻ tín dụng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán khi xuất hiện nhiều thủ đoạn gian lận mới. Đáng chú ý là tình trạng bóc tách, đánh tráo chip trên thẻ vật lý để làm giả, chiếm đoạt tài sản; một số tổ chức phát hành thẻ chưa công khai, minh bạch các loại phí, lãi suất với thẻ tín dụng.
Hai thủ tục hành chính mới trong hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội

Hai thủ tục hành chính mới trong hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội

(TBTCO) - Tại Quyết định số 1997/QĐ-BTC vừa ban hành, Bộ Tài chính đã công bố 2 thủ tục hành chính mới trong lĩnh vực đăng ký hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,500 141,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 136,500 141,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 136,500 141,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 136,500 141,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 136,500 141,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,500 141,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,800 14,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,800 14,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,800 14,200
NL 99.99 12,950
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,850
Trang sức 99.9 13,390 14,090
Trang sức 99.99 13,400 14,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,385 ▲10K 14,252 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,385 ▲10K 14,253 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,385 ▲10K 1,425 ▲10K
Cập nhật: 30/07/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18624
CAD 18202 18478 19091
CHF 31639 32019 32660
CNY 0 3848 3941
EUR 29509 29730 30808
GBP 34334 34725 35659
HKD 0 3225 3427
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14960 15545
SGD 19870 20152 20718
THB 701 765 818
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26130 26495
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,140 26,140 26,520
USD(1-2-5) 25,095 - -
USD(10-20) 25,095 - -
EUR 29,609 29,633 31,048
JPY 156.68 156.96 166.43
GBP 34,534 34,627 35,821
AUD 17,983 18,048 18,735
CAD 18,400 18,459 19,136
CHF 31,926 32,025 32,967
SGD 20,001 20,063 20,846
CNY - 3,817 3,962
HKD 3,289 3,299 3,437
KRW 16.83 17.55 19.09
THB 749.86 759.12 812.66
NZD 14,941 15,080 15,525
SEK - 2,682 2,776
DKK - 3,967 4,107
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.16 - 6,797.72
TWD 734.02 - 889.12
SAR - 6,893.38 7,259.92
KWD - 83,233 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,125 26,145 26,525
EUR 29,436 29,554 30,746
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,290 3,303 3,421
CHF 31,612 31,739 32,653
JPY 156.83 157.46 165.36
AUD 18,009 18,081 18,677
SGD 20,030 20,110 20,699
THB 765 768 804
CAD 18,344 18,418 18,995
NZD 14,984 15,527
KRW 17.32 19.21
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26520
AUD 17953 18053 18978
CAD 18388 18488 19500
CHF 31894 31924 33506
CNY 3829.8 3854.8 3990
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29702 29732 31457
GBP 34645 34695 36453
HKD 0 3355 0
JPY 157.51 158.01 168.53
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.5 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15058 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20033 20163 20884
THB 0 730.2 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,164 26,214 26,550
USD20 26,114 26,214 26,567
USD1 26,064 26,214 26,571
AUD 17,989 18,089 19,202
EUR 29,368 29,468 31,127
CAD 18,286 18,386 19,692
SGD 20,073 20,223 20,788
JPY 157.96 159.46 164.98
GBP 34,411 34,561 35,780
XAU 13,648,000 0 14,052,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/07/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80