Điều hành chính sách tiền tệ trong thế đa "biến số", đa mục tiêu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam đang đối mặt nhiều "biến số", tác động đến các chỉ tiêu cân đối lớn như: lạm phát, tỷ giá, lãi suất, thanh khoản, tăng trưởng tín dụng... Nửa cuối năm, bài toán không chỉ là giữ nhịp tăng trưởng, mà còn phải phối hợp linh hoạt các công cụ để giữ ổn định hệ thống.
aa

Giữ nhịp tăng trưởng khi nhiều chỉ tiêu trở nên nhạy cảm hơn

Kinh tế toàn cầu tiếp tục đối mặt với nhiều bất định và khó lường do tác động của căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự, tranh chấp thương mại. Những yếu tố này gây áp lực lớn lên thị trường hàng hóa, tài chính toàn cầu, đồng thời khiến các ngân hàng trung ương lớn thận trọng hơn trong điều hành chính sách tiền tệ.

Trong tuần này, thị trường đặc biệt quan tâm đến quyết định chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE), đồng thời theo dõi tín hiệu về lộ trình điều hành những tháng tới.

Điều hành chính sách tiền tệ trong thế đa
Điều hành tiền tệ trong giai đoạn này phải rất “vi phẫu”, không nới lỏng đại trà, mà nới đúng nơi, đúng thời điểm, đúng đối tượng”. Ảnh: An Thư

Theo công cụ CME FedWatch, nhà đầu tư đang nghiêng về kịch bản Fed tiếp tục duy trì lập trường “diều hâu”, với 80,8% xác suất tăng lãi suất vào tháng 9/2026. Đây là sự đảo chiều đáng kể so với kỳ vọng hồi đầu năm, khi thị trường còn dự báo Fed sẽ sớm nới lỏng chính sách tiền tệ trước khi các rủi ro địa chính trị và xung đột leo thang.

Bối cảnh này tạo thêm áp lực đối với việc điều hành chính sách tiền tệ của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển có độ mở lớn như Việt Nam. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn cho thấy khả năng chống chịu tích cực, duy trì nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, tạo dư địa hỗ trợ tăng trưởng GDP ở mức cao.

Dù vậy, nền kinh tế vẫn phải đối mặt với không ít thách thức cần được tháo gỡ để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm nay.

Chia sẻ gần đây, ông Vũ Bình Minh - Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Khối Thị trường vốn và dịch vụ chứng khoán (HSBC Việt Nam) cho rằng, khi nền kinh tế đi nhanh hơn, các cân đối về lạm phát, tỷ giá và lãi suất trở nên nhạy cảm hơn và bài toán ổn định vĩ mô cũng trở nên khó hơn. Vì vậy, trong nửa cuối năm sẽ không chỉ là câu chuyện tăng trưởng, mà còn là bài kiểm tra về chất lượng tăng trưởng và khả năng giữ nhịp ổn định.

Có thể thấy, dưới tác động của những biến động trên thị trường quốc tế, trong nửa đầu năm 2026, thị trường tiền tệ trong nước ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý khi mặt bằng lãi suất tiếp tục neo ở mức cao, thanh khoản hệ thống liên tục biến động, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) vượt ngưỡng quy định 85% tại nhiều nhà băng.

Trong khi đó, tỷ giá USD/VND vẫn tương đối ổn định dù chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - có xu hướng tăng trở lại và đang neo ở vùng cao nhất trên 101 điểm từ cuối tháng 3/2025 đến nay. Nếu xem xét riêng từng hiện tượng, việc lý giải không quá khó; tuy nhiên, điều đáng chú ý hơn là tất cả đều được kết nối đến tình trạng mất cân đối của hệ thống do chênh lệch kỳ hạn.

Định hướng điều hành theo cách “vi phẫu”

Chia sẻ với phóng viên, PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, bài toán điều hành của Việt Nam khó hơn rất nhiều, cùng lúc phải giữ tỷ giá, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, trong khi dư địa hạ lãi suất gần như không còn rộng như giai đoạn trước.

Ông Huân phân tích, tác động lớn nhất là áp lực tỷ giá sẽ còn kéo dài. Khi Fed và các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn giảm lãi suất vì rủi ro lạm phát từ giá dầu, chiến sự và chi phí logistics, chênh lệch lãi suất VND - USD tiếp tục là một điểm nhạy cảm. Điều này khiến Việt Nam khó nới lỏng tiền tệ mạnh, vì nếu lãi suất VND giảm quá nhanh sẽ tạo áp lực lên tỷ giá, kỳ vọng găm giữ ngoại tệ và dòng vốn ngắn hạn.

Ưu tiên ổn định kỳ vọng tỷ giá, duy trì tín dụng có chọn lọc

“Ưu tiên chính sách của Việt Nam nên là ổn định kỳ vọng tỷ giá trước, kiểm soát lạm phát nền, nhưng vẫn duy trì tín dụng có chọn lọc cho khu vực sản xuất - xuất khẩu - hạ tầng - chuyển đổi xanh - doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tăng trưởng hai con số không thể dựa vào tín dụng rẻ đại trà, mà phải dựa vào phân bổ vốn hiệu quả hơn, đầu tư công dẫn dắt, thị trường vốn phát triển hơn và thu hút vốn quốc tế dài hạn thông qua các cơ chế mới như Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC)”.

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân

Bên cạnh đó, lạm phát nhập khẩu sẽ trở thành rủi ro đáng chú ý hơn. PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân cho rằng, Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên vật liệu, xăng dầu, thiết bị và logistics quốc tế.

Khi giá dầu, vận tải và USD cùng tăng, chi phí đầu vào sẽ truyền vào giá thành sản xuất, giá tiêu dùng và biên lợi nhuận doanh nghiệp. Các ngân hàng trung ương lớn hiện cũng đang rất thận trọng với cú sốc năng lượng vì lo ngại có thể chuyển từ “tạm thời” sang “dai dẳng”.

Trước nhiều “biến số” khi điều hành, Ngân hàng Nhà nước phối hợp nhiều công cụ linh hoạt hơn.

Theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân, việc bán dự trữ ngoại hối chỉ nên là biện pháp can thiệp khi thị trường căng thẳng, không thể là công cụ sử dụng kéo dài. Vì vậy, kênh thị trường mở (OMO), tín phiếu, hoán đổi ngoại tệ (swap), điều tiết thanh khoản liên ngân hàng và định hướng kỳ vọng thị trường sẽ ngày càng quan trọng. Một số báo cáo thị trường cũng ghi nhận định hướng duy trì OMO chủ động và phối hợp các công cụ như hoán đổi ngoại tệ, tái cấp vốn trong năm 2026.

“Tuy nhiên, điểm khó là nếu thắt thanh khoản quá mạnh để giữ tỷ giá thì lãi suất liên ngân hàng và chi phí vốn có thể tăng, ảnh hưởng đến khả năng giảm lãi suất cho vay và phục hồi của doanh nghiệp” - ông Huân chỉ rõ.

Ngược lại, nếu bơm thanh khoản quá nhiều để hỗ trợ tăng trưởng thì tỷ giá và lạm phát lại chịu áp lực. “Vì vậy, điều hành tiền tệ trong giai đoạn này phải rất “vi phẫu”, không nới lỏng đại trà, mà nới đúng nơi, đúng thời điểm, đúng đối tượng” - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân khuyến nghị.

Trong bối cảnh hiện tại, chuyên gia Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, bên cạnh việc xem xét lại các tỷ lệ như tỷ lệ LDR, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, Ngân hàng Nhà nước có thể cân nhắc tiếp tục duy trì chênh lệch lãi suất VND - USD ở mức đủ hấp dẫn để hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Đồng thời, kết hợp sử dụng các công cụ như kênh thị trường mở, mở rộng kênh hoán đổi ngoại tệ, tính thêm lượng tiền gửi Kho bạc từ nguồn ngân sách nhàn rỗi sang cho hệ thống; hoặc tái cấp vốn nhưng phải điều tiết cẩn thận, để cung ứng thanh khoản khi cần thiết.

“Cách tiếp cận này có thể giúp giải quyết nhu cầu thanh khoản của hệ thống, hỗ trợ giảm lãi suất mà không làm suy giảm đáng kể hiệu quả ổn định tỷ giá” - chuyên gia VDSC nêu quan điểm.

Trước dự báo vẫn còn rất nhiều khó khăn, thách thức và áp lực từ cả kinh tế thế giới lẫn trong nước, ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lưu ý, diễn biến lạm phát có thể tiếp tục biến động yêu cầu nâng cao chất lượng công tác dự báo, thường xuyên theo dõi, bám sát các mục tiêu điều hành kinh tế vĩ mô.

Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, chủ động sử dụng các biện pháp và công cụ.

Theo đó, mặt bằng lãi suất sẽ được điều hành phù hợp với nhu cầu vốn của nền kinh tế. Đối với tỷ giá, việc điều hành sẽ được thực hiện đồng bộ giữa cung - cầu ngoại tệ và thanh khoản tiền đồng nhằm giữ ổn định thị trường ngoại hối, bảo đảm thanh khoản thông suốt.

Đối với tín dụng, 6 tháng cuối năm thường là giai đoạn nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng cao hơn. Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát tăng trưởng tín dụng để phân bổ hạn mức phù hợp, bảo đảm tín dụng tăng hợp lý, nâng cao chất lượng và kiểm soát nợ xấu.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

(TBTCO) - Trên hành trình đồng hành cùng cộng đồng, những giá trị bền vững thường được tạo nên từ sự thấu hiểu nhu cầu địa phương và những hành động thiết thực.
Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Asahi Mutual Life (Nhật Bản) vừa hoàn tất mua lại 100% vốn MVI Life, đồng thời đổi tên doanh nghiệp thành Asahi Life. Thương vụ đánh dấu bước ngoặt mới trong hành trình nhiều lần thay đổi chủ sở hữu và thương hiệu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ này. Nửa đầu năm 2026, doanh nghiệp lãi trước thuế 191,2 tỷ đồng, với danh mục đầu tư hơn 16.300 tỷ đồng.
Dư nợ cho vay BIDV tăng gần 8% sau 9 tháng, tổng tài sản tiến sát 3,5 triệu tỷ đồng

Dư nợ cho vay BIDV tăng gần 8% sau 9 tháng, tổng tài sản tiến sát 3,5 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng 2026, BIDV lãi trước thuế 29.483,5 tỷ đồng, tăng 24,8% cùng kỳ, nhờ tăng trưởng thu nhập lãi thuần và đẩy mạnh thu hồi nợ đã xử lý rủi ro. Trong bối cảnh tổng tài sản đạt 3,49 triệu tỷ đồng; dư nợ cho vay đạt 2,56 triệu tỷ đồng, tăng gần 8%, ngân hàng tiếp tục chú trọng kiểm soát chất lượng tài sản.
Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, ngân hàng MB báo lãi trước thuế đạt 30.518,4 tỷ đồng, tăng 31,9% cùng kỳ, với động lực từ thu nhập lãi thuần. Đáng chú ý, thu nhập lãi và các khoản tương tự lần đầu vượt 100.000 tỷ đồng, cao hơn cả năm 2025, trong bối cảnh tổng tín dụng đạt hơn 1,31 triệu tỷ đồng, tăng 18,9% so với đầu năm.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Hà Nội - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Đà Nẵng - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Miền Tây - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Tây Nguyên - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Đông Nam Bộ - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
Trang sức 99.9 13,180 ▲100K 13,780 ▲100K
Trang sức 99.99 13,190 ▲100K 13,790 ▲100K
Vàng 99.9 12,650 ▲100K
Vàng 99.99 12,800 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 ▲1K 14,002 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 ▲1K 14,003 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,328 ▲10K 1,368 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,328 ▲10K 1,369 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,308 ▲10K 1,358 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 127,455 ▲990K 134,455 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,221 ▲75K 10,201 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,703 ▲680K 92,503 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 73,196 ▲610K 82,996 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 69,529 ▲583K 79,329 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,984 ▲417K 56,784 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Cập nhật: 02/11/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17572 17844 18419
CAD 17925 18200 18813
CHF 30755 31132 31767
CNY 0 3837 3932
EUR 28262 28478 29554
GBP 33807 34196 35121
HKD 0 3155 3357
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14203 14787
SGD 19626 19907 20474
THB 678 742 795
USD (1,2) 25521 0 0
USD (5,10,20) 25559 0 0
USD (50,100) 25586 25600 25964
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,605 25,605 25,985
USD(1-2-5) 24,581 - -
USD(10-20) 24,581 - -
EUR 28,276 28,299 29,643
JPY 158.92 159.21 168.85
GBP 33,933 34,025 35,220
AUD 17,760 17,824 18,499
CAD 18,098 18,156 18,829
CHF 30,935 31,031 31,945
SGD 19,747 19,808 20,593
CNY - 3,805 3,952
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.69 18.45 20.08
THB 727.78 736.77 788.72
NZD 14,164 14,296 14,719
SEK - 2,586 2,678
DKK - 3,793 3,927
NOK - 2,751 2,849
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,920.63 - 6,686.79
TWD 713.93 - 865.04
SAR - 6,754.63 7,116.3
KWD - 81,450 86,680
AED - 6,768 7,294
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,221 28,363 29,591
GBP 33,895 34,065 35,100
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,727 30,881 31,829
JPY 158.68 160.28 168.26
AUD 17,756 17,881 18,479
SGD 19,728 19,907 20,504
THB 732 747 784
CAD 18,082 18,209 18,807
NZD 14,263 14,818
KRW 18.60 20.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25570 25600 25970
AUD 17757 17857 18779
CAD 18089 18189 19201
CHF 30840 30870 32451
CNY 3813.8 3838.8 3974.3
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28330 28360 30086
GBP 33989 34039 35801
HKD 0 3300 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14259 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19765 19895 20617
THB 0 708.2 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,500 25,620 25,920
USD20 25,470 25,620 25,920
USD1 25,450 25,620 25,920
AUD 17,715 17,865 18,697
EUR 28,152 28,252 29,924
CAD 18,054 18,154 19,466
SGD 19,866 20,016 20,900
JPY 160.41 161.91 167.53
GBP 33,928 34,078 35,461
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,795 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/11/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30