Điều hành chính sách tiền tệ trong thế đa "biến số", đa mục tiêu

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam đang đối mặt nhiều "biến số", tác động đến các chỉ tiêu cân đối lớn như: lạm phát, tỷ giá, lãi suất, thanh khoản, tăng trưởng tín dụng... Nửa cuối năm, bài toán không chỉ là giữ nhịp tăng trưởng, mà còn phải phối hợp linh hoạt các công cụ để giữ ổn định hệ thống.
aa

Giữ nhịp tăng trưởng khi nhiều chỉ tiêu trở nên nhạy cảm hơn

Kinh tế toàn cầu tiếp tục đối mặt với nhiều bất định và khó lường do tác động của căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự, tranh chấp thương mại. Những yếu tố này gây áp lực lớn lên thị trường hàng hóa, tài chính toàn cầu, đồng thời khiến các ngân hàng trung ương lớn thận trọng hơn trong điều hành chính sách tiền tệ.

Trong tuần này, thị trường đặc biệt quan tâm đến quyết định chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE), đồng thời theo dõi tín hiệu về lộ trình điều hành những tháng tới.

Điều hành chính sách tiền tệ trong thế đa
Điều hành tiền tệ trong giai đoạn này phải rất “vi phẫu”, không nới lỏng đại trà, mà nới đúng nơi, đúng thời điểm, đúng đối tượng”. Ảnh: An Thư

Theo công cụ CME FedWatch, nhà đầu tư đang nghiêng về kịch bản Fed tiếp tục duy trì lập trường “diều hâu”, với 80,8% xác suất tăng lãi suất vào tháng 9/2026. Đây là sự đảo chiều đáng kể so với kỳ vọng hồi đầu năm, khi thị trường còn dự báo Fed sẽ sớm nới lỏng chính sách tiền tệ trước khi các rủi ro địa chính trị và xung đột leo thang.

Bối cảnh này tạo thêm áp lực đối với việc điều hành chính sách tiền tệ của các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển có độ mở lớn như Việt Nam. Tuy nhiên, kinh tế Việt Nam vẫn cho thấy khả năng chống chịu tích cực, duy trì nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, tạo dư địa hỗ trợ tăng trưởng GDP ở mức cao.

Dù vậy, nền kinh tế vẫn phải đối mặt với không ít thách thức cần được tháo gỡ để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm nay.

Chia sẻ gần đây, ông Vũ Bình Minh - Giám đốc Kinh doanh vốn và tiền tệ, Khối Thị trường vốn và dịch vụ chứng khoán (HSBC Việt Nam) cho rằng, khi nền kinh tế đi nhanh hơn, các cân đối về lạm phát, tỷ giá và lãi suất trở nên nhạy cảm hơn và bài toán ổn định vĩ mô cũng trở nên khó hơn. Vì vậy, trong nửa cuối năm sẽ không chỉ là câu chuyện tăng trưởng, mà còn là bài kiểm tra về chất lượng tăng trưởng và khả năng giữ nhịp ổn định.

Có thể thấy, dưới tác động của những biến động trên thị trường quốc tế, trong nửa đầu năm 2026, thị trường tiền tệ trong nước ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý khi mặt bằng lãi suất tiếp tục neo ở mức cao, thanh khoản hệ thống liên tục biến động, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) vượt ngưỡng quy định 85% tại nhiều nhà băng.

Trong khi đó, tỷ giá USD/VND vẫn tương đối ổn định dù chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - có xu hướng tăng trở lại và đang neo ở vùng cao nhất trên 101 điểm từ cuối tháng 3/2025 đến nay. Nếu xem xét riêng từng hiện tượng, việc lý giải không quá khó; tuy nhiên, điều đáng chú ý hơn là tất cả đều được kết nối đến tình trạng mất cân đối của hệ thống do chênh lệch kỳ hạn.

Định hướng điều hành theo cách “vi phẫu”

Chia sẻ với phóng viên, PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, bài toán điều hành của Việt Nam khó hơn rất nhiều, cùng lúc phải giữ tỷ giá, kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, trong khi dư địa hạ lãi suất gần như không còn rộng như giai đoạn trước.

Ông Huân phân tích, tác động lớn nhất là áp lực tỷ giá sẽ còn kéo dài. Khi Fed và các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn giảm lãi suất vì rủi ro lạm phát từ giá dầu, chiến sự và chi phí logistics, chênh lệch lãi suất VND - USD tiếp tục là một điểm nhạy cảm. Điều này khiến Việt Nam khó nới lỏng tiền tệ mạnh, vì nếu lãi suất VND giảm quá nhanh sẽ tạo áp lực lên tỷ giá, kỳ vọng găm giữ ngoại tệ và dòng vốn ngắn hạn.

Ưu tiên ổn định kỳ vọng tỷ giá, duy trì tín dụng có chọn lọc

“Ưu tiên chính sách của Việt Nam nên là ổn định kỳ vọng tỷ giá trước, kiểm soát lạm phát nền, nhưng vẫn duy trì tín dụng có chọn lọc cho khu vực sản xuất - xuất khẩu - hạ tầng - chuyển đổi xanh - doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tăng trưởng hai con số không thể dựa vào tín dụng rẻ đại trà, mà phải dựa vào phân bổ vốn hiệu quả hơn, đầu tư công dẫn dắt, thị trường vốn phát triển hơn và thu hút vốn quốc tế dài hạn thông qua các cơ chế mới như Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC)”.

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân

Bên cạnh đó, lạm phát nhập khẩu sẽ trở thành rủi ro đáng chú ý hơn. PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân cho rằng, Việt Nam là nền kinh tế có độ mở lớn, phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên vật liệu, xăng dầu, thiết bị và logistics quốc tế.

Khi giá dầu, vận tải và USD cùng tăng, chi phí đầu vào sẽ truyền vào giá thành sản xuất, giá tiêu dùng và biên lợi nhuận doanh nghiệp. Các ngân hàng trung ương lớn hiện cũng đang rất thận trọng với cú sốc năng lượng vì lo ngại có thể chuyển từ “tạm thời” sang “dai dẳng”.

Trước nhiều “biến số” khi điều hành, Ngân hàng Nhà nước phối hợp nhiều công cụ linh hoạt hơn.

Theo PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân, việc bán dự trữ ngoại hối chỉ nên là biện pháp can thiệp khi thị trường căng thẳng, không thể là công cụ sử dụng kéo dài. Vì vậy, kênh thị trường mở (OMO), tín phiếu, hoán đổi ngoại tệ (swap), điều tiết thanh khoản liên ngân hàng và định hướng kỳ vọng thị trường sẽ ngày càng quan trọng. Một số báo cáo thị trường cũng ghi nhận định hướng duy trì OMO chủ động và phối hợp các công cụ như hoán đổi ngoại tệ, tái cấp vốn trong năm 2026.

“Tuy nhiên, điểm khó là nếu thắt thanh khoản quá mạnh để giữ tỷ giá thì lãi suất liên ngân hàng và chi phí vốn có thể tăng, ảnh hưởng đến khả năng giảm lãi suất cho vay và phục hồi của doanh nghiệp” - ông Huân chỉ rõ.

Ngược lại, nếu bơm thanh khoản quá nhiều để hỗ trợ tăng trưởng thì tỷ giá và lạm phát lại chịu áp lực. “Vì vậy, điều hành tiền tệ trong giai đoạn này phải rất “vi phẫu”, không nới lỏng đại trà, mà nới đúng nơi, đúng thời điểm, đúng đối tượng” - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân khuyến nghị.

Trong bối cảnh hiện tại, chuyên gia Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, bên cạnh việc xem xét lại các tỷ lệ như tỷ lệ LDR, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, Ngân hàng Nhà nước có thể cân nhắc tiếp tục duy trì chênh lệch lãi suất VND - USD ở mức đủ hấp dẫn để hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Đồng thời, kết hợp sử dụng các công cụ như kênh thị trường mở, mở rộng kênh hoán đổi ngoại tệ, tính thêm lượng tiền gửi Kho bạc từ nguồn ngân sách nhàn rỗi sang cho hệ thống; hoặc tái cấp vốn nhưng phải điều tiết cẩn thận, để cung ứng thanh khoản khi cần thiết.

“Cách tiếp cận này có thể giúp giải quyết nhu cầu thanh khoản của hệ thống, hỗ trợ giảm lãi suất mà không làm suy giảm đáng kể hiệu quả ổn định tỷ giá” - chuyên gia VDSC nêu quan điểm.

Trước dự báo vẫn còn rất nhiều khó khăn, thách thức và áp lực từ cả kinh tế thế giới lẫn trong nước, ông Phạm Thanh Hà - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam lưu ý, diễn biến lạm phát có thể tiếp tục biến động yêu cầu nâng cao chất lượng công tác dự báo, thường xuyên theo dõi, bám sát các mục tiêu điều hành kinh tế vĩ mô.

Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, chủ động sử dụng các biện pháp và công cụ.

Theo đó, mặt bằng lãi suất sẽ được điều hành phù hợp với nhu cầu vốn của nền kinh tế. Đối với tỷ giá, việc điều hành sẽ được thực hiện đồng bộ giữa cung - cầu ngoại tệ và thanh khoản tiền đồng nhằm giữ ổn định thị trường ngoại hối, bảo đảm thanh khoản thông suốt.

Đối với tín dụng, 6 tháng cuối năm thường là giai đoạn nhu cầu vốn của nền kinh tế tăng cao hơn. Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát tăng trưởng tín dụng để phân bổ hạn mức phù hợp, bảo đảm tín dụng tăng hợp lý, nâng cao chất lượng và kiểm soát nợ xấu.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

(TBTCO) - Hưởng ứng tích cực định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, ngay từ đầu năm 2026, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã chủ động lập kế hoạch kinh doanh, trong đó dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất giảm tới 2%/năm. Để tiếp tục thúc đẩy tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, SHB bổ sung thêm 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo… với mức giảm lãi suất 0,5-0,7% so với hiện hành.
Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Hà Nội - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Miền Tây - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
NL 99.99 13,500 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲50K
Trang sức 99.9 13,790 ▲10K 14,390 ▲10K
Trang sức 99.99 13,800 ▲10K 14,400 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▲1K 14,432 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▲1K 14,433 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▲1K 1,438 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▲1K 1,439 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 ▲1K 1,423 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 ▲99K 140,891 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 ▲75K 106,886 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 ▲68K 96,924 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 ▲61K 86,962 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 ▲58K 83,119 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 ▲42K 59,495 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cập nhật: 18/08/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18070 18345 18924
CAD 18341 18617 19234
CHF 31588 31968 32616
CNY 0 3830 3940
EUR 29673 29895 30979
GBP 34605 34997 35938
HKD 0 3207 3410
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15671
SGD 19948 20230 20801
THB 707 770 823
USD (1,2) 25917 0 0
USD (5,10,20) 25957 0 0
USD (50,100) 25986 26000 26370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,995 25,995 26,375
USD(1-2-5) 24,956 - -
USD(10-20) 24,956 - -
EUR 29,708 29,732 31,140
JPY 159.64 159.93 169.57
GBP 34,808 34,902 36,105
AUD 18,256 18,322 19,015
CAD 18,523 18,582 19,266
CHF 31,870 31,969 32,912
SGD 20,067 20,129 20,915
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.11 17.84 19.41
THB 755.63 764.96 818.99
NZD 15,077 15,217 15,669
SEK - 2,703 2,799
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,729 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,031.54 - 6,813.12
TWD 742.37 - 899.32
SAR - 6,854.96 7,220.03
KWD - 82,987 88,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,970 26,000 26,380
EUR 29,747 29,866 31,062
GBP 34,825 34,965 36,000
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 31,718 31,845 32,769
JPY 159.96 160.60 168.54
AUD 18,253 18,326 18,925
SGD 20,139 20,220 20,817
THB 772 775 812
CAD 18,534 18,608 19,201
NZD 15,157 15,703
KRW 17.72 19.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18250 18350 19281
CAD 18525 18625 19639
CHF 31844 31874 33452
CNY 3822.6 3847.6 3982.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29855 29885 31610
GBP 34920 34970 36728
HKD 0 3330 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15188 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20104 20234 20966
THB 0 736.1 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,008 26,058 26,380
USD20 25,958 26,058 26,809
USD1 25,908 26,058 26,859
AUD 18,289 18,389 19,494
EUR 29,643 29,743 31,399
CAD 18,468 18,568 19,880
SGD 20,182 20,332 20,886
JPY 160.9 162.4 167.93
GBP 34,798 34,948 36,023
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/08/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80