ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

(TBTCO) - Bảo hiểm Agribank (ABIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 227,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 24,6% và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Kết quả được hỗ trợ bởi phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, chi phí bồi thường được kiểm soát hiệu quả, cùng hoạt động đầu tư tài chính khởi sắc khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cải thiện, góp phần gia tăng nguồn thu tài chính.
aa

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Bổ nhiệm tân Tổng Giám đốc, liệu Bảo hiểm ABIC có thể khôi phục đà tăng trưởng? Hàng nghìn hộ dân tham gia bảo hiểm nông nghiệp, đề xuất mở rộng “lá chắn” rủi ro

Công ty cổ phần Bảo hiểm Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (Bảo hiểm Agribank - ABIC, mã CK: ABI) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 và 6 tháng đầu năm 2026.

Theo báo cáo, quý II/2026, ABIC ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 109 tỷ đồng, tăng 33,4% so với cùng kỳ.

Dù phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, lên 763,5 tỷ đồng, thấp hơn mức tăng bình quân 13,5% của toàn ngành, ABIC vẫn cải thiện hiệu quả khai thác bảo hiểm do chi bồi thường bảo hiểm gốc giảm 5,8%. Nhờ đó, lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm duy trì đà tăng tăng 6,3% so với cùng kỳ, đạt 224,6 tỷ đồng.

Lũy kế 6 tháng đầu năm, lợi nhuận trước thuế của ABIC đạt 227,7 tỷ đồng, tăng 24,6% so với cùng kỳ năm trước và hoàn thành 65% kế hoạch Đại hội đồng cổ đông đề ra (350 tỷ đồng).

Kết quả này chủ yếu được hỗ trợ bởi đà tăng trưởng doanh thu bảo hiểm, chi phí bồi thường được kiểm soát tương đối tốt, cùng hiệu quả đầu tư tài chính cải thiện khi lãi suất tiền gửi nhích tăng lên 4,5 - 8,2%/năm, cao hơn đáng kể so với đầu năm.

Lũy kế 6 tháng đầu năm, tăng trưởng của ABIC được thúc đẩy bởi việc mở rộng quy mô khai thác.

Theo đó, phí bảo hiểm gốc đạt 1.393,5 tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ, trong khi phí nhận tái bảo hiểm tăng mạnh 70,9%, lên 157,4 tỷ đồng, phản ánh hoạt động nhận tái bảo hiểm được đẩy mạnh.

Ở chiều chi phí, tổng chi bồi thường gần như đi ngang, chỉ tăng 1%, lên 360,2 tỷ đồng, thấp hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu. Bên cạnh đó, thu bồi thường nhượng tái bảo hiểm đạt 67,1 tỷ đồng, tăng 41,3%, góp phần bù đắp chi phí bồi thường phát sinh và cải thiện hiệu quả khai thác bảo hiểm.

Tính chung, chi trực tiếp hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng 8,7%, qua đó giúp lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm của ABIC đạt 456,3 tỷ đồng, tăng 9,5% so với cùng kỳ.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Bên cạnh hoạt động bảo hiểm, hoạt động tài chính tiếp tục đóng góp tích cực vào tăng trưởng lợi nhuận của ABIC khi mang về 92,4 tỷ đồng, tăng 29,6% so với cùng kỳ.

ABIC tiếp tục duy trì danh mục đầu tư tài chính an toàn với đầu tư tài chính ngắn hạn đạt 3.774,3 tỷ đồng tại thời điểm 30/6/2026, tăng khoảng 4% so với đầu năm. Danh mục này chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn ngắn hạn tại Agribank, đạt 3.681,7 tỷ đồng.

Đáng chú ý, mức lãi suất tiền gửi đã được cải thiện lên 4,5 - 8,2%/năm, cao hơn đáng kể so với mức 4,5 - 5,5%/năm hồi đầu năm, góp phần tạo nguồn thu tài chính ổn định và hỗ trợ tăng trưởng lợi nhuận của doanh nghiệp.

Trong bản giải trình lợi nhuận quý II và 6 tháng đầu năm 2026, ông Nguyễn Hồng Thái - Tổng Giám đốc ABIC cho biết, lợi nhuận sau thuế quý II/2026 tăng cao so với cùng kỳ năm 2025 chủ yếu do chi bồi thường giảm 26 tỷ đồng so với quý II/2025. Ngoài ra, doanh thu tài chính cũng tăng 12 tỷ đồng so với cùng kỳ.

“Doanh thu tài chính tăng, cùng với tốc độ tăng trưởng của doanh thu thuần trong 6 tháng đầu năm 2026 cũng là nguyên nhân chính giúp lợi nhuận sau thuế của Công ty tăng 24% so với 6 tháng năm 2025” - lãnh đạo ABIC nêu rõ.

Trên nền tảng phí bảo hiểm gốc tăng 8,2% trong 6 tháng đầu năm 2026, ABIC tiếp tục theo đuổi mục tiêu tăng trưởng doanh thu hai con số, khoảng 10,8%, trong giai đoạn 2026 - 2030, bảo đảm tăng trưởng lợi nhuận gắn với hiệu quả kinh doanh.

Lãnh đạo ABIC cho biết, động lực tăng trưởng trọng tâm trong giai đoạn này là tiếp tục củng cố và phát triển kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) thông qua Agribank, triển khai các đề án lớn phát triển nông nghiệp, phát huy lợi thế cạnh tranh cốt lõi từ mạng lưới rộng khắp của Agribank để tiếp cận khách hàng khu vực “tam nông”.

ABIC cũng dự kiến đa dạng hóa sản phẩm bảo hiểm, lấy sản phẩm Bảo an tín dụng làm nền tảng để phát triển các gói giải pháp bảo hiểm tích hợp, kết hợp bảo vệ người vay vốn, tài sản bảo đảm, tài sản hình thành từ vốn vay và các rủi ro phát sinh trong quá trình sản xuất, kinh doanh.

Về cơ cấu cổ đông, Agribank tiếp tục là cổ đông chi phối, nắm giữ 52,08% vốn điều lệ của ABIC. Tổng Công ty Tài chính Bảo hiểm Quốc gia Việt Nam (VINARE) sở hữu 8,55%, trong khi các cổ đông khác nắm giữ 39,37% vốn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

ACB và UEH mở đầu hành trình Học bổng ACB - Trần Mộng Hùng: Tiếp nối niềm tin vào con người

ACB và UEH mở đầu hành trình Học bổng ACB - Trần Mộng Hùng: Tiếp nối niềm tin vào con người

(TBTCO) - Ngày 9/9, tại TP. Hồ Chí Minh, Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) và Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh (UEH) chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình Học bổng ACB - Trần Mộng Hùng.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tăng cường trao đổi kinh nghiệm quản lý

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tăng cường trao đổi kinh nghiệm quản lý

(TBTCO) - Đoàn công tác Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới Việt Nam vừa thăm, làm việc với Hiệp hội Bảo hiểm Trung Quốc, Công ty Bảo hiểm Thái Bình Dương CPIC và tìm hiểu hoạt động của Trung tâm sửa chữa ô tô điện Lý Tưởng tại Bắc Kinh. Chuyến công tác tập trung trao đổi kinh nghiệm về quản lý bảo hiểm xe cơ giới, giám định, bồi thường, phòng chống trục lợi và ứng dụng dữ liệu.
Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

Tỷ giá USD hôm nay (10/9): Tỷ giá trung tâm giảm, thị trường chờ ECB tăng lãi suất lần hai thêm 25 điểm cơ bản

(TBTCO) - Sáng 10/9, tỷ giá trung tâm giảm 3 đồng xuống 25.591 đồng, trong khi chỉ số DXY dao động quanh 98,79 điểm. Tâm điểm thị trường là cuộc họp của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), với kỳ vọng tăng lãi suất lần thứ hai trong năm nay, thêm 25 điểm cơ bản lên 2,5% khi lạm phát khu vực đồng euro vượt 3%.
Dư địa tỷ USD của y tế tư nhân, cho thuê tài chính nhiều lợi thế "mở khóa” dòng vốn

Dư địa tỷ USD của y tế tư nhân, cho thuê tài chính nhiều lợi thế "mở khóa” dòng vốn

(TBTCO) - Lĩnh vực y tế tư nhân Việt Nam đang có dư địa phát triển lớn khi nhu cầu chăm sóc sức khỏe, khám, chữa bệnh kết hợp du lịch gia tăng, kéo theo thị trường thiết bị y tế có thể đạt 4 tỷ USD/năm trong thời gian tới. Trong khi khả năng tiếp cận vốn trung - dài hạn của bệnh viện, phòng khám tư nhân còn hạn chế, cho thuê tài chính nổi lên với nhiều lợi thế trong việc giải bài toán vốn.
Tập đoàn Sun Life ghi nhận tăng trưởng tích cực, tiếp tục mở rộng mạng lưới tại Việt Nam

Tập đoàn Sun Life ghi nhận tăng trưởng tích cực, tiếp tục mở rộng mạng lưới tại Việt Nam

(TBTCO) - Tập đoàn Sun Life vừa công bố kết quả kinh doanh quý II/2026 với nhiều điểm sáng trên toàn cầu và tại khu vực châu Á, tiếp tục khẳng định hiệu quả của chiến lược phát triển bền vững, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và đẩy mạnh đổi mới sáng tạo. Tại Việt Nam, Sun Life Việt Nam cũng ghi nhận những kết quả khả quan trong nửa đầu năm 2026, đồng thời tăng cường năng lực tài chính để thực hiện cam kết đồng hành và bảo vệ khách hàng trước những rủi ro trong cuộc sống.
Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 9/9: Vàng thế giới giảm mạnh, vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 55 USD, xuống còn 4.356 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng quay đầu giảm từ 1,1 - 1,2 triệu đồng/lượng.
Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng 60,2 nghìn tỷ đồng trong tháng 8, khi nhu cầu vốn ngắn hạn tăng. Cùng với các điều chỉnh về LDR, cơ cấu nguồn vốn và tiền gửi Kho bạc Nhà nước, cơ chế tái cấp vốn dự kiến tiếp tục hỗ trợ thanh khoản, khi vốn trung và dài hạn chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn huy động.
Shinhan hợp tác cùng Công ty Quản lý và Kinh doanh chợ Bình Điền, mở rộng giải pháp tài chính cho thương nhân

Shinhan hợp tác cùng Công ty Quản lý và Kinh doanh chợ Bình Điền, mở rộng giải pháp tài chính cho thương nhân

(TBTCO) - Ngày 8/9, tại TP. Hồ Chí Minh, Ngân hàng TNHH MTV Shinhan Việt Nam và Công ty Quản lý và Kinh doanh Chợ Bình Điền chính thức ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác, hướng đến mở rộng khả năng tiếp cận các giải pháp tài chính phù hợp cho thương nhân và hộ kinh doanh đang hoạt động tại chợ Bình Điền.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 146,500
Hà Nội - PNJ 143,200 146,500
Đà Nẵng - PNJ 143,200 146,500
Miền Tây - PNJ 143,200 146,500
Tây Nguyên - PNJ 143,200 146,500
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 146,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 14,660
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 10/09/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18127 18402 18978
CAD 18227 18503 19122
CHF 31308 31687 32335
CNY 0 3823 3919
EUR 29508 29729 30810
GBP 34283 34674 35623
HKD 0 3175 3377
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14816 15404
SGD 19938 20220 20790
THB 701 764 818
USD (1,2) 25660 0 0
USD (5,10,20) 25698 0 0
USD (50,100) 25726 25740 26110
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,720 25,720 26,100
USD(1-2-5) 24,692 - -
USD(10-20) 24,692 - -
EUR 29,561 29,585 30,988
JPY 164.25 164.55 174.53
GBP 34,496 34,589 35,787
AUD 18,363 18,429 19,129
CAD 18,414 18,473 19,158
CHF 31,631 31,729 32,669
SGD 20,077 20,139 20,929
CNY - 3,788 3,933
HKD 3,237 3,247 3,384
KRW 17.85 18.62 20.25
THB 751.04 760.32 814.39
NZD 14,828 14,966 15,411
SEK - 2,656 2,751
DKK - 3,965 4,106
NOK - 2,767 2,870
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.87 - 6,718.86
TWD 742 - 899.01
SAR - 6,779.73 7,146.27
KWD - 82,216 87,489
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,690 25,720 26,100
EUR 29,582 29,701 30,892
GBP 34,480 34,618 35,648
HKD 3,236 3,249 3,366
CHF 31,450 31,576 32,506
JPY 164.56 165.22 173.18
AUD 18,347 18,421 19,017
SGD 20,142 20,223 20,820
THB 767 770 807
CAD 18,424 18,498 19,092
NZD 14,906 15,447
KRW 18.51 20.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25740 25740 26100
AUD 18338 18438 19364
CAD 18419 18519 19530
CHF 31568 31598 33180
CNY 3803.9 3828.9 3964
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29705 29735 31458
GBP 34614 34664 36416
HKD 0 3330 0
JPY 165.12 165.62 176.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20107 20237 20958
THB 0 731.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,681 25,731 26,110
USD20 25,651 25,731 26,110
USD1 25,631 25,731 26,110
AUD 18,395 18,495 19,603
EUR 29,488 29,588 31,248
CAD 18,354 18,454 19,762
SGD 20,183 20,333 20,898
JPY 165.75 167.25 172.81
GBP 34,496 34,646 35,970
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/09/2026 22:00
Ngân hàng