Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026 Áp lực đè nặng, ngân hàng “xoay xở” nhiều kênh huy động vốn

Tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử sau 11 tuần tăng liên tiếp

Tuần qua từ ngày 20/7 đến ngày 24/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tiếp tục tăng 29 đồng, lên 25.283 đồng vào phiên cuối tuần, tăng ròng rã tuần thứ 11 liên tiếp. Đây cũng là mức cao nhất kể từ cuối tháng 8/2025 và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 25.298 đồng được thiết lập ngày 25/8/2025 đúng 15 đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng. Ảnh minh họa.

Nhiều ngân hàng thương mại tiếp tục điều chỉnh tăng giá USD sau giai đoạn đi ngang, mức tăng còn cao hơn mức điều chỉnh của tỷ giá trung tâm. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.100 - 26.510 VND/USD (mua vào - bán ra), cùng tăng 40 đồng so với cuối tuần trước. Trong khi đó, BIDV niêm yết 26.130 - 26.510 VND/USD, đồng thời tăng 60 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.

Ở chiều ngược lại, tỷ giá USD trên thị trường tự do giảm 60 đồng hai chiều, xuống còn 26.330 -26.360 đồng, thậm chí thấp hơn tỷ giá bán ra ngân hàng thương mại. Diễn biến này cho thấy nhu cầu trên thị trường tự do có phần hạ nhiệt, trái ngược với xu hướng tăng của tỷ giá niêm yết tại hệ thống ngân hàng.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, diễn biến này cho thấy áp lực ngoại tệ ngoài hệ thống vẫn khá thấp, trong khi tỷ giá chính thức chủ yếu tăng theo điều chỉnh của tỷ giá trung tâm và xu hướng USD quốc tế.

“Trong ngắn hạn, tỷ giá USD/VND tại kênh ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục nhích nhẹ, khi DXY vẫn được hỗ trợ bởi rủi ro địa chính trị. Tỷ giá tự do có thể tiếp tục ổn định nhờ sự điều chỉnh của giá vàng” - Chứng khoán Yuanta nêu góc nhìn.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - hiện quanh 101,4 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025 đến nay.

Chuyên gia kinh tế của Commerzbank (Đức) dự báo Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách trong biên độ 3,5% - 3,75% tại cuộc họp sắp tới.

Mặc dù thị trường bắt đầu xuất hiện các cuộc tranh luận về khả năng Fed phải tăng lãi suất nếu lạm phát tiếp tục dai dẳng, kịch bản cơ sở của Commerzbank vẫn là lạm phát lõi sẽ dần quay về mục tiêu 2%, giúp Fed tránh phải thắt chặt thêm và có thể bắt đầu chu kỳ giảm lãi suất từ giữa năm 2027.

Với mức tăng bình quân của lạm phát lõi khoảng 0,35% mỗi tháng từ đầu năm 2026 đến nay, lạm phát cũng khó quay về mục tiêu 2% trước năm 2027.

Dù các ý kiến ủng hộ tăng lãi suất đang xuất hiện nhiều hơn, Fed sẽ cần thêm bằng chứng rõ ràng về xu hướng lạm phát trước khi cân nhắc một đợt tăng mới.

Dù hút ròng hơn 26.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn hạ về quanh 3%

Về diễn biến trên thị trường mở (OMO), Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 13.943,9 tỷ đồng qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, ở kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 63 ngày, với lãi suất giữ nguyên 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn lên tới 40.296,6 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng
Nguồn: Techcombank.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 26.352,7 tỷ đồng khỏi hệ thống, nối dài chuỗi hút ròng lên 3 tuần liên tiếp với tổng quy mô khoảng 77.653,9 tỷ đồng. Đến cuối tuần, dư nợ lưu hành trên kênh thị trường mở giảm còn 160.207,4 tỷ đồng.

Quy mô OMO lưu hành co hẹp kể từ đỉnh đầu tháng 2/2026

Kể từ mức đỉnh thiết lập vào đầu tháng 2/2026, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng hơn 329 nghìn tỷ đồng, cho thấy xu hướng thu hẹp dần lượng tiền hỗ trợ thanh khoản trên kênh OMO vẫn đang được duy trì.

Thanh khoản hệ thống vẫn duy trì ổn định dù Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm chốt phiên 23/7 ở mức 2,97%/năm, giảm 0,9 điểm phần trăm so với cuối tuần trước; kỳ hạn 1 tuần giảm 0,81 điểm phần trăm xuống 3,81%/năm.

Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 2 tuần tăng nhẹ 0,22 điểm phần trăm lên 5,60%/năm, còn kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng lần lượt giảm 0,44 điểm phần trăm xuống 6,65% và 7,63%/năm.

Doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tiếp tục dao động quanh 800.000 - 850.000 tỷ đồng, cho thấy thanh khoản toàn hệ thống vẫn ở trạng thái ổn định.

Chứng khoán Yuanta cho rằng, thanh khoản ngắn hạn cải thiện, nhưng áp lực cân đối vốn trung dài hạn vẫn ở mức cao.

“Lãi suất liên ngân hàng khả năng tiếp tục ổn định với kỳ hạn ngắn duy trì mức thấp trong khi kỳ hạn 1 - 9 tháng vẫn ở mức cao. Chúng tôi cho rằng lãi suất huy động và cho vay tiếp tục duy trì ở mức cao trong quý III/2026” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm.

Theo tính toán của Chứng khoán Yuanta, Ngân hàng Nhà nước dành gói tín dụng ưu đãi quy mô khoảng 830.000 tỷ đồng cho lĩnh vực nông - lâm - thủy sản, nhà ở xã hội (không tính vào room tín dụng) và hạ tầng chiến lược và công nghệ số, với lãi suất ưu đãi thấp hơn thị trường 1 - 2%/năm. Phần tính vào room tín dụng chiếm khoảng khoảng 25% tổng room năm 2026, cho thấy định hướng điều hành tín dụng phục vụ lĩnh vực ưu tiên sẽ được thúc đẩy.

Ngoài ra, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xác nhận lãi suất huy động tăng do nhu cầu vốn nền kinh tế lớn, đồng thời, Ngân hàng Nhà nước đang phối hợp các bộ, ngành tính toán phương án giảm áp lực vốn trung dài cho kênh ngân hàng như: huy động vốn nước ngoài, mở rộng đối tượng vay ngoại tệ và cho phép ngân hàng thương mại quản lý tài sản bảo đảm cho trái phiếu doanh nghiệp.

Còn theo Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, mặc dù lãi suất liên ngân hàng có thể ghi nhận những phiên biến động mạnh mang tính thời điểm, chủ yếu do ảnh hưởng từ việc đáo hạn các nguồn hỗ trợ thanh khoản, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng bình quân sẽ tiếp tục đi ngang hoặc chỉ giảm nhẹ. Điều này được hỗ trợ bởi thanh khoản hệ thống vẫn được hỗ trợ bởi nhiều yếu tố thuận lợi./.

Ba lực đỡ giúp thanh khoản hệ thống duy trì ổn định

Chỉ rõ yếu tố hỗ trợ thanh khoản hệ thống, nhóm phân tích Techcombank cho rằng, thứ nhất, nguồn tiền gửi của Kho bạc Nhà nước duy trì ổn định tại hệ thống ngân hàng, tạo bộ đệm tốt cho hệ thống.

Thứ hai, việc hoãn thu khoảng 125 nghìn tỷ đồng tiền thuế giúp giảm bớt áp lực hút tiền khỏi hệ thống trong 1 - 3 tháng tới. Mặc dù khoản thu này dự kiến sẽ được thực hiện vào giai đoạn cuối năm tháng 11 - 12, tác động của việc này lên thanh khoản nhiều khả năng sẽ được bù đắp bởi sự gia tăng giải ngân đầu tư công mang tính mùa vụ trong cùng giai đoạn, qua đó, hạn chế nguy cơ gây áp lực tăng lên lãi suất liên ngân hàng.

Cuối cùng, Ngân hàng Nhà nước vẫn còn dư địa điều tiết và hỗ trợ thanh khoản thông qua các công cụ như nghiệp vụ OMO và hoán đổi ngoại tệ (FX Swap)./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 75 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt lao dốc, nhiều thương hiệu điều chỉnh giảm tới 7 triệu đồng/lượng chỉ sau một phiên giao dịch.
Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

(TBTCO) - Các chuyên gia đánh giá, mặt bằng lãi suất nhiều khả năng sẽ đi ngang hoặc tăng nhẹ trong nửa cuối năm. Dù thanh khoản được kỳ vọng cải thiện nhờ các chính sách hỗ trợ, rủi ro về nguồn vốn và thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 23/7: Vàng thế giới tăng lên 4.123 USD/ounce, vàng trong nước giảm trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 23/7: Vàng thế giới tăng lên 4.123 USD/ounce, vàng trong nước giảm trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh 43 USD/ounce lên 4.123,3 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với mức điều chỉnh cao nhất lên đến 1,4 triệu đồng/lượng.
Áp lực đè nặng, ngân hàng "xoay xở" nhiều kênh huy động vốn

Áp lực đè nặng, ngân hàng "xoay xở" nhiều kênh huy động vốn

(TBTCO) - Trong bối cảnh "độ chênh" khoảng 2 điểm phần trăm giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn vẫn duy trì, nhiều ngân hàng đẩy mạnh mở rộng các kênh huy động ngoài tiền gửi truyền thống. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất trên các kênh huy động đồng loạt neo ở mức cao, khiến chi phí vốn gia tăng và dư địa giảm thêm lãi suất không dễ dàng.
ACB lãi hơn 10.700 tỷ đồng trong nửa đầu năm nhờ NIM cải thiện, tín dụng tăng vượt bình quân ngành

ACB lãi hơn 10.700 tỷ đồng trong nửa đầu năm nhờ NIM cải thiện, tín dụng tăng vượt bình quân ngành

(TBTCO) - ACB lãi trước thuế 10.735 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, hoàn thành 107% kế hoạch bán niên. NIM cải thiện lên 3,02%, dư nợ cho vay khách hàng đạt gần 746 nghìn tỷ đồng, tăng 8,6% so với đầu năm, vượt mức tăng trưởng tín dụng bình quân của toàn ngành.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 135,500 ▲500K 140,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,550 ▲50K 14,050 ▲50K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900
Trang sức 99.9 13,240 ▲50K 13,940 ▲50K
Trang sức 99.99 13,250 ▲50K 13,950 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,355 ▲1220K 14,052 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,355 ▲1220K 14,053 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 ▲1K 1,401 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 132 ▲1K 138 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 ▲990K 136,634 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 ▲75K 10,366 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 ▲680K 93,999 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 ▲610K 84,338 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 ▲583K 80,612 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 ▲417K 57,702 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,365 ▲1230K 1,415 ▲1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,355 ▲1220K 1,405 ▲1265K
Cập nhật: 24/07/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17870 18144 18723
CAD 18165 18441 19060
CHF 31577 31957 32601
CNY 0 3846 3939
EUR 29332 29552 30633
GBP 34260 34651 35592
HKD 0 3226 3429
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14919 15510
SGD 19852 20134 20704
THB 697 760 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/07/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80