Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026 Áp lực đè nặng, ngân hàng “xoay xở” nhiều kênh huy động vốn

Tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử sau 11 tuần tăng liên tiếp

Tuần qua từ ngày 20/7 đến ngày 24/7, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tiếp tục tăng 29 đồng, lên 25.283 đồng vào phiên cuối tuần, tăng ròng rã tuần thứ 11 liên tiếp. Đây cũng là mức cao nhất kể từ cuối tháng 8/2025 và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 25.298 đồng được thiết lập ngày 25/8/2025 đúng 15 đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng. Ảnh minh họa.

Nhiều ngân hàng thương mại tiếp tục điều chỉnh tăng giá USD sau giai đoạn đi ngang, mức tăng còn cao hơn mức điều chỉnh của tỷ giá trung tâm. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.100 - 26.510 VND/USD (mua vào - bán ra), cùng tăng 40 đồng so với cuối tuần trước. Trong khi đó, BIDV niêm yết 26.130 - 26.510 VND/USD, đồng thời tăng 60 đồng ở cả hai chiều mua vào và bán ra.

Ở chiều ngược lại, tỷ giá USD trên thị trường tự do giảm 60 đồng hai chiều, xuống còn 26.330 -26.360 đồng, thậm chí thấp hơn tỷ giá bán ra ngân hàng thương mại. Diễn biến này cho thấy nhu cầu trên thị trường tự do có phần hạ nhiệt, trái ngược với xu hướng tăng của tỷ giá niêm yết tại hệ thống ngân hàng.

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, diễn biến này cho thấy áp lực ngoại tệ ngoài hệ thống vẫn khá thấp, trong khi tỷ giá chính thức chủ yếu tăng theo điều chỉnh của tỷ giá trung tâm và xu hướng USD quốc tế.

“Trong ngắn hạn, tỷ giá USD/VND tại kênh ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục nhích nhẹ, khi DXY vẫn được hỗ trợ bởi rủi ro địa chính trị. Tỷ giá tự do có thể tiếp tục ổn định nhờ sự điều chỉnh của giá vàng” - Chứng khoán Yuanta nêu góc nhìn.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - hiện quanh 101,4 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025 đến nay.

Chuyên gia kinh tế của Commerzbank (Đức) dự báo Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ giữ nguyên lãi suất chính sách trong biên độ 3,5% - 3,75% tại cuộc họp sắp tới.

Mặc dù thị trường bắt đầu xuất hiện các cuộc tranh luận về khả năng Fed phải tăng lãi suất nếu lạm phát tiếp tục dai dẳng, kịch bản cơ sở của Commerzbank vẫn là lạm phát lõi sẽ dần quay về mục tiêu 2%, giúp Fed tránh phải thắt chặt thêm và có thể bắt đầu chu kỳ giảm lãi suất từ giữa năm 2027.

Với mức tăng bình quân của lạm phát lõi khoảng 0,35% mỗi tháng từ đầu năm 2026 đến nay, lạm phát cũng khó quay về mục tiêu 2% trước năm 2027.

Dù các ý kiến ủng hộ tăng lãi suất đang xuất hiện nhiều hơn, Fed sẽ cần thêm bằng chứng rõ ràng về xu hướng lạm phát trước khi cân nhắc một đợt tăng mới.

Dù hút ròng hơn 26.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn hạ về quanh 3%

Về diễn biến trên thị trường mở (OMO), Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 13.943,9 tỷ đồng qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, ở kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 63 ngày, với lãi suất giữ nguyên 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn lên tới 40.296,6 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng
Nguồn: Techcombank.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 26.352,7 tỷ đồng khỏi hệ thống, nối dài chuỗi hút ròng lên 3 tuần liên tiếp với tổng quy mô khoảng 77.653,9 tỷ đồng. Đến cuối tuần, dư nợ lưu hành trên kênh thị trường mở giảm còn 160.207,4 tỷ đồng.

Quy mô OMO lưu hành co hẹp kể từ đỉnh đầu tháng 2/2026

Kể từ mức đỉnh thiết lập vào đầu tháng 2/2026, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng hơn 329 nghìn tỷ đồng, cho thấy xu hướng thu hẹp dần lượng tiền hỗ trợ thanh khoản trên kênh OMO vẫn đang được duy trì.

Thanh khoản hệ thống vẫn duy trì ổn định dù Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm chốt phiên 23/7 ở mức 2,97%/năm, giảm 0,9 điểm phần trăm so với cuối tuần trước; kỳ hạn 1 tuần giảm 0,81 điểm phần trăm xuống 3,81%/năm.

Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 2 tuần tăng nhẹ 0,22 điểm phần trăm lên 5,60%/năm, còn kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng lần lượt giảm 0,44 điểm phần trăm xuống 6,65% và 7,63%/năm.

Doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng tiếp tục dao động quanh 800.000 - 850.000 tỷ đồng, cho thấy thanh khoản toàn hệ thống vẫn ở trạng thái ổn định.

Chứng khoán Yuanta cho rằng, thanh khoản ngắn hạn cải thiện, nhưng áp lực cân đối vốn trung dài hạn vẫn ở mức cao.

“Lãi suất liên ngân hàng khả năng tiếp tục ổn định với kỳ hạn ngắn duy trì mức thấp trong khi kỳ hạn 1 - 9 tháng vẫn ở mức cao. Chúng tôi cho rằng lãi suất huy động và cho vay tiếp tục duy trì ở mức cao trong quý III/2026” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm.

Theo tính toán của Chứng khoán Yuanta, Ngân hàng Nhà nước dành gói tín dụng ưu đãi quy mô khoảng 830.000 tỷ đồng cho lĩnh vực nông - lâm - thủy sản, nhà ở xã hội (không tính vào room tín dụng) và hạ tầng chiến lược và công nghệ số, với lãi suất ưu đãi thấp hơn thị trường 1 - 2%/năm. Phần tính vào room tín dụng chiếm khoảng khoảng 25% tổng room năm 2026, cho thấy định hướng điều hành tín dụng phục vụ lĩnh vực ưu tiên sẽ được thúc đẩy.

Ngoài ra, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xác nhận lãi suất huy động tăng do nhu cầu vốn nền kinh tế lớn, đồng thời, Ngân hàng Nhà nước đang phối hợp các bộ, ngành tính toán phương án giảm áp lực vốn trung dài cho kênh ngân hàng như: huy động vốn nước ngoài, mở rộng đối tượng vay ngoại tệ và cho phép ngân hàng thương mại quản lý tài sản bảo đảm cho trái phiếu doanh nghiệp.

Còn theo Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, mặc dù lãi suất liên ngân hàng có thể ghi nhận những phiên biến động mạnh mang tính thời điểm, chủ yếu do ảnh hưởng từ việc đáo hạn các nguồn hỗ trợ thanh khoản, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng bình quân sẽ tiếp tục đi ngang hoặc chỉ giảm nhẹ. Điều này được hỗ trợ bởi thanh khoản hệ thống vẫn được hỗ trợ bởi nhiều yếu tố thuận lợi./.

Ba lực đỡ giúp thanh khoản hệ thống duy trì ổn định

Chỉ rõ yếu tố hỗ trợ thanh khoản hệ thống, nhóm phân tích Techcombank cho rằng, thứ nhất, nguồn tiền gửi của Kho bạc Nhà nước duy trì ổn định tại hệ thống ngân hàng, tạo bộ đệm tốt cho hệ thống.

Thứ hai, việc hoãn thu khoảng 125 nghìn tỷ đồng tiền thuế giúp giảm bớt áp lực hút tiền khỏi hệ thống trong 1 - 3 tháng tới. Mặc dù khoản thu này dự kiến sẽ được thực hiện vào giai đoạn cuối năm tháng 11 - 12, tác động của việc này lên thanh khoản nhiều khả năng sẽ được bù đắp bởi sự gia tăng giải ngân đầu tư công mang tính mùa vụ trong cùng giai đoạn, qua đó, hạn chế nguy cơ gây áp lực tăng lên lãi suất liên ngân hàng.

Cuối cùng, Ngân hàng Nhà nước vẫn còn dư địa điều tiết và hỗ trợ thanh khoản thông qua các công cụ như nghiệp vụ OMO và hoán đổi ngoại tệ (FX Swap)./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

(TBTCO) - Trên hành trình đồng hành cùng cộng đồng, những giá trị bền vững thường được tạo nên từ sự thấu hiểu nhu cầu địa phương và những hành động thiết thực.
Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Asahi Mutual Life (Nhật Bản) vừa hoàn tất mua lại 100% vốn MVI Life, đồng thời đổi tên doanh nghiệp thành Asahi Life. Thương vụ đánh dấu bước ngoặt mới trong hành trình nhiều lần thay đổi chủ sở hữu và thương hiệu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ này. Nửa đầu năm 2026, doanh nghiệp lãi trước thuế 191,2 tỷ đồng, với danh mục đầu tư hơn 16.300 tỷ đồng.
Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

Tín dụng MB tăng gần 19% vượt 1,3 triệu tỷ đồng, thu nhập lãi thuần dẫn dắt tăng trưởng

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, ngân hàng MB báo lãi trước thuế đạt 30.518,4 tỷ đồng, tăng 31,9% cùng kỳ, với động lực từ thu nhập lãi thuần. Đáng chú ý, thu nhập lãi và các khoản tương tự lần đầu vượt 100.000 tỷ đồng, cao hơn cả năm 2025, trong bối cảnh tổng tín dụng đạt hơn 1,31 triệu tỷ đồng, tăng 18,9% so với đầu năm.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Hà Nội - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Đà Nẵng - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Miền Tây - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Tây Nguyên - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Đông Nam Bộ - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
Trang sức 99.9 13,180 ▲100K 13,780 ▲100K
Trang sức 99.99 13,190 ▲100K 13,790 ▲100K
Vàng 99.9 12,650 ▲100K
Vàng 99.99 12,800 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 ▲1K 14,002 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 ▲1K 14,003 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,328 ▲10K 1,368 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,328 ▲10K 1,369 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,308 ▲10K 1,358 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 127,455 ▲990K 134,455 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,221 ▲75K 10,201 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,703 ▲680K 92,503 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 73,196 ▲610K 82,996 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 69,529 ▲583K 79,329 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,984 ▲417K 56,784 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Cập nhật: 02/11/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17572 17844 18419
CAD 17925 18200 18813
CHF 30755 31132 31767
CNY 0 3837 3932
EUR 28262 28478 29554
GBP 33807 34196 35121
HKD 0 3155 3357
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14203 14787
SGD 19626 19907 20474
THB 678 742 795
USD (1,2) 25521 0 0
USD (5,10,20) 25559 0 0
USD (50,100) 25586 25600 25964
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,605 25,605 25,985
USD(1-2-5) 24,581 - -
USD(10-20) 24,581 - -
EUR 28,276 28,299 29,643
JPY 158.92 159.21 168.85
GBP 33,933 34,025 35,220
AUD 17,760 17,824 18,499
CAD 18,098 18,156 18,829
CHF 30,935 31,031 31,945
SGD 19,747 19,808 20,593
CNY - 3,805 3,952
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.69 18.45 20.08
THB 727.78 736.77 788.72
NZD 14,164 14,296 14,719
SEK - 2,586 2,678
DKK - 3,793 3,927
NOK - 2,751 2,849
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,920.63 - 6,686.79
TWD 713.93 - 865.04
SAR - 6,754.63 7,116.3
KWD - 81,450 86,680
AED - 6,768 7,294
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,221 28,363 29,591
GBP 33,895 34,065 35,100
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,727 30,881 31,829
JPY 158.68 160.28 168.26
AUD 17,756 17,881 18,479
SGD 19,728 19,907 20,504
THB 732 747 784
CAD 18,082 18,209 18,807
NZD 14,263 14,818
KRW 18.60 20.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25570 25600 25970
AUD 17757 17857 18779
CAD 18089 18189 19201
CHF 30840 30870 32451
CNY 3813.8 3838.8 3974.3
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28330 28360 30086
GBP 33989 34039 35801
HKD 0 3300 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14259 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19765 19895 20617
THB 0 708.2 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,500 25,620 25,920
USD20 25,470 25,620 25,920
USD1 25,450 25,620 25,920
AUD 17,715 17,865 18,697
EUR 28,152 28,252 29,924
CAD 18,054 18,154 19,466
SGD 19,866 20,016 20,900
JPY 160.41 161.91 167.53
GBP 33,928 34,078 35,461
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,795 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/11/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30