Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), trong bối cảnh thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý, lãi suất qua đêm duy trì 4,16%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng 10 tuần liên tiếp, sát đỉnh lịch sử, còn tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do hạ nhiệt.
aa
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần “Chân ga” tài khóa cần đi cùng “hệ thống điều tốc” tiền tệ Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

Lượng OMO lưu hành thấp nhất 9 tháng, lãi suất qua đêm quanh 4%

Qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 8.090,56 tỷ đồng trong tuần từ ngày 13 - 17/7, chủ yếu ở kỳ hạn dài gồm 35 ngày, 63 ngày, với lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm.

Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn lên tới 29.350,21 tỷ đồng, cao gấp hơn 3,6 lần lượng phát hành, tập trung lớn nhất vào phiên đầu tuần với 13.728,86 tỷ đồng đáo hạn.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 19.921,59 tỷ đồng khỏi hệ thống qua kênh OMO, nối tiếp đà hút ròng mạnh hơn 31.000 tỷ đồng tuần trước.

Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh OMO còn 187.898,19 tỷ đồng, tiếp tục giảm so với tuần liền trước, thấp nhất kể từ tháng 10/2025 đến nay, phản ánh việc duy trì xu hướng rút bớt thanh khoản ngắn hạn khỏi hệ thống ngân hàng của cơ quan điều hành.

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

Diễn biến trên phù hợp với trạng thái thanh khoản ổn định của hệ thống. Trên thị trường liên ngân hàng, doanh số giao dịch duy trì quanh 800.000 tỷ đồng đến dưới 900.000 tỷ đồng, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn chưa xuất hiện dấu hiệu căng thẳng.

Chốt phiên gần nhất trong tuần, lãi suất qua đêm ở mức 4,16%/năm, giảm 0,12 điểm phần trăm so với cuối tuần trước; lãi suất 1 tuần giảm 0,18 điểm phần trăm, xuống 4,74%/năm.

Ngược lại, các kỳ hạn dài hơn tăng nhẹ. Kỳ hạn 2 tuần lên 6,02%/năm (tăng 0,52 điểm phần trăm); 1 tháng lên 7,17%/năm (tăng 0,67 điểm phần trăm) và 3 tháng lên 8,11%/năm (tăng 0,93 điểm phần trăm). Điều này cho thấy, thanh khoản ngắn hạn vẫn được đảm bảo, trong khi nhu cầu vốn ở các kỳ hạn dài hơn có xu hướng nhích lên.

“Sự chênh lệch lớn giữa lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn ngắn và nhóm kỳ hạn 1 - 9 tháng tiếp tục cao, đồng thời trên thị trường 1 vẫn đang có nhiều chương trình ưu đãi tăng lãi suất tiền gửi và lãi suất phát hành các lô trái phiếu ngân hàng gần đây tăng cao, cho thấy áp lực cân đối nguồn vốn trung hạn chưa giảm”.

- Công ty TNHH Chứng khoán Yunta Việt Nam

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành, Công ty TNHH Chứng khoán Yunta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, thanh khoản hệ thống đã cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý.

Trong ngắn hạn, lãi suất liên ngân hàng nhiều khả năng tiếp tục duy trì ổn định quanh vùng hiện tại, khi áp lực mùa vụ cuối quý đã qua và Ngân hàng Nhà nước vẫn có khả năng linh hoạt bơm vốn nếu thanh khoản xuất hiện biến động cục bộ.

Tuy nhiên, lãi suất kỳ hạn 1 - 9 tháng khó giảm sâu, do nhu cầu vốn trung hạn còn cao và cạnh tranh huy động trên thị trường 1 chưa hạ nhiệt hoàn toàn. Các biện pháp hỗ trợ thanh khoản và nới điều kiện sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn có thể giúp hạn chế khả năng tăng lãi suất thêm.

“Chúng tôi cho rằng, mặt bằng lãi suất có thể đã tiệm cận vùng đỉnh nhờ chủ trương, chính sách của nhà điều hành, tuy nhiên vẫn cần tiếp tục theo dõi diễn biến thanh khoản cũng như tăng trưởng huy động vốn” - chuyên gia của Chứng khoán Yuanta dự báo.

Tỷ giá trung tâm tăng suốt 10 tuần, USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt

Về diễn biến trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng liên tục qua cả 5 phiên, từ 25.220 đồng lên 25.254 đồng, tương đương tăng 40 đồng so với cuối tuần trước.

Điều này cho thấy, cơ quan điều hành tiếp tục điều chỉnh tỷ giá theo hướng tăng dần trong bối cảnh đồng USD quốc tế vẫn duy trì ở vùng cao.

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử
Thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý. Ảnh tư liệu.
Mức tăng 40 đồng của tỷ giá trung tâm tuần qua cao hơn đáng kể so với các tuần trước, đồng thời đánh dấu tuần tăng thứ 10 liên tiếp của tỷ giá trung tâm. Đây cũng là mức cao nhất kể từ cuối tháng 8/2025 và chỉ còn thấp hơn mức đỉnh lịch sử 44 đồng (mức 25.298 đồng, được thiết lập ngày 25/8/2025).

Trong khi đó, tỷ giá bán ra USD tại nhiều ngân hàng thương mại gần như đi ngang, hoặc sụt giảm, thậm chí cách khá xa mức tỷ giá trần được phép niêm yết.

Trên thị trường tự do, tỷ giá USD giao dịch quanh 26.400 - 26.420 VND/USD, tương ứng giảm 30 đồng trong tuần, cho thấy đà điều chỉnh trên thị trường tự do đã chậm lại.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - hiện neo quanh 100,75 điểm.

Theo Chứng khoán Yuanta, tỷ giá thị trường tự do giảm xuống 26.400 VND/USD, thấp hơn so với tỷ giá bán tại ngân hàng, cho thấy cầu ngoại tệ ngoài hệ thống tiếp tục hạ nhiệt, bất chấp DXY duy trì quanh vùng 101 điểm.

Dù vậy, căng thẳng Mỹ - Iran tái diễn và giá dầu tăng trở lại đã làm gia tăng lo ngại lạm phát, qua đó đẩy kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì chính sách cứng rắn lên cao hơn và hỗ trợ đồng USD hồi phục trong nửa sau của tuần. Xác suất thị trường định giá Fed nâng lãi suất trong tháng 9 có thời điểm tăng lên khoảng 62 - 66%, trong khi biên bản cuộc họp tháng 6 cho thấy, các nhà hoạch định chính sách tiếp tục quan ngại về áp lực lạm phát.

“Trong ngắn hạn, tỷ giá USD/VND tại kênh ngân hàng nhiều khả năng đi ngang đến nhích nhẹ, khi DXY vẫn được hỗ trợ bởi rủi ro địa chính trị và kỳ vọng lãi suất Mỹ. Tuy nhiên, áp lực tăng mạnh chưa lớn nhờ thanh khoản VND ổn định hơn và tỷ giá tự do đang giảm” - nhóm phân tích của Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Ngân hàng Bank of America (Mỹ) cũng cho rằng, đồng USD có thể tiếp tục mạnh lên trong nửa cuối năm nhờ 3 động lực chính: căng thẳng địa chính trị leo thang tại Trung Đông, Fed duy trì lập trường cứng rắn hơn kỳ vọng của thị trường và làn sóng đầu tư quy mô lớn vào trí tuệ nhân tạo (AI) của các tập đoàn công nghệ.

Theo ngân hàng này, giá dầu đã tăng khoảng 20% so với mức đáy sau lệnh ngừng bắn, khi căng thẳng quanh eo biển Hormuz tái bùng phát.

Bên cạnh đó, Bank of America vẫn giữ quan điểm khác biệt đáng kể so với thị trường khi dự báo Fed sẽ tăng lãi suất thêm 3 lần trong năm nay, vào các cuộc họp tháng 9, tháng 10 và tháng 12, tương ứng tổng mức tăng 75 điểm cơ bản. Trong khi đó, thị trường hiện chỉ định giá khoảng 28 điểm cơ bản cho cả năm.

Phát biểu trước Quốc hội gần đây, Chủ tịch Fed Kevin Warsh khẳng định, Fed vẫn kiên định với mục tiêu lạm phát 2%, bất chấp số liệu chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6 cho thấy lạm phát đã hạ nhiệt.

Ngoài ra, Bank of America lưu ý, chênh lệch lãi suất thực của Mỹ tiếp tục mở rộng theo hướng có lợi cho đồng USD, ngay cả khi lạm phát giảm. Đây là một yếu tố quan trọng giúp hạn chế đà suy yếu của đồng bạc xanh trong thời gian tới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Đến hết tháng 8/2026, số người tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt khoảng 22,59 triệu người. Đáng chú ý, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tiếp tục giảm so với cùng kỳ.
Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

(TBTCO) - Căn cứ Quyết định số 115/QĐ-QLGS3 ngày 24/8/2026 của Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng quyết định sửa đổi Điều 2 tại Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 39/GP-NHNN ngày 18/3/2019 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội thành:
Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

(TBTCO) - Những bước chân vì sức khỏe và môi trường được chuyển hóa thành nguồn lực hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giàu nghị lực vươn lên trong học tập.
Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 6/9: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt đi xuống, với vàng miếng giảm 1 triệu đồng/lượng và vàng nhẫn giảm từ 500.000 đồng đến 1 triệu đồng/lượng.
Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng

Xây dựng Luật Tài sản số: Khơi thông nguồn lực mới cho tăng trưởng

(TBTCO) - Để tài sản số thực sự trở thành nguồn lực cho nền kinh tế, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý, phân loại tài sản theo đúng bản chất, đồng thời chuẩn hóa tài sản cơ sở, dữ liệu và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Đây là những nội dung được bà Nguyễn Vân Hiền - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Blockchain và Tài sản số Việt Nam nhấn mạnh trong cuộc trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Bảo Việt dành 1 tỷ đồng trao học bổng “Bảo Việt - Vì tương lai Việt” cho sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân năm học 2026 - 2027

Bảo Việt dành 1 tỷ đồng trao học bổng “Bảo Việt - Vì tương lai Việt” cho sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân năm học 2026 - 2027

(TBTCO) - Ngày 05/9/2026, tiếp nối truyền thống đồng hành cùng thế hệ trẻ Việt Nam, Tập đoàn Bảo Việt tiến hành trao học bổng thường niên cho sinh viên xuất sắc năm học 2026 - 2027 của Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), Hà Nội.
Bảo Việt hỗ trợ 2,7 tỷ đồng xây dựng Trường Mầm non Thân Giáp, Cao Bằng

Bảo Việt hỗ trợ 2,7 tỷ đồng xây dựng Trường Mầm non Thân Giáp, Cao Bằng

(TBTCO) - Hướng tới cải thiện điều kiện học tập cho trẻ em vùng khó khăn, Tập đoàn Bảo Việt, Bảo Việt Nhân thọ hỗ trợ 2,7 tỷ đồng xây dựng Trường Mầm non Thân Giáp tại xã Đoài Dương, tỉnh Cao Bằng. Công trình không chỉ góp phần mang đến môi trường học tập khang trang, an toàn cho trẻ em vùng biên, mà còn nối dài chuỗi hoạt động đồng hành cùng thế hệ trẻ được Bảo Việt triển khai trên cả nước.
Nguồn thu bảo hiểm tăng, ngân hàng đua nhau sở hữu “mảnh ghép” đắt giá

Nguồn thu bảo hiểm tăng, ngân hàng đua nhau sở hữu “mảnh ghép” đắt giá

(TBTCO) - Nguồn thu bảo hiểm khởi sắc trong nửa đầu năm, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhiều ngân hàng đầu tư, thành lập công ty bảo hiểm riêng để hoàn thiện “mảnh ghép” hệ sinh thái và mở rộng nguồn thu ngoài lãi, bên cạnh kênh hợp tác phân phối truyền thống.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1100K 146,400 ▼1200K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1100K 146,400 ▼1200K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1100K 146,400 ▼1200K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1100K 146,400 ▼1200K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1100K 146,400 ▼1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1100K 146,400 ▼1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,350 ▼110K 14,650 ▼110K
Miếng SJC Nghệ An 14,350 ▼110K 14,650 ▼110K
Miếng SJC Thái Bình 14,350 ▼110K 14,650 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▼110K 14,700 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▼110K 14,700 ▼110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▼110K 14,700 ▼110K
NL 99.99 13,450 ▼150K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350 ▼150K
Trang sức 99.9 14,010 ▼110K 14,610 ▼110K
Trang sức 99.99 14,020 ▼110K 14,620 ▼110K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,435 ▼11K 14,652 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,435 ▼11K 14,653 ▼110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 ▼1298K 146 ▼1325K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 ▼1298K 1,461 ▼11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,405 ▼11K 145 ▼1316K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▼1089K 143,564 ▼1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼825K 108,911 ▼825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼80812K 9,876 ▼89632K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▲70861K 88,609 ▲79681K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▼642K 84,693 ▼642K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▲45693K 60,621 ▲54513K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,435 ▼11K 1,465 ▼11K
Cập nhật: 07/09/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18245 18521 19097
CAD 18296 18572 19194
CHF 31522 31902 32546
CNY 0 3834 3931
EUR 29612 29834 30915
GBP 34425 34816 35749
HKD 0 3188 3390
JPY 161 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14992 15580
SGD 20011 20294 20865
THB 706 770 823
USD (1,2) 25756 0 0
USD (5,10,20) 25795 0 0
USD (50,100) 25823 25837 26207
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,865 25,865 26,245
USD(1-2-5) 24,831 - -
USD(10-20) 24,831 - -
EUR 29,685 29,709 31,115
JPY 163.03 163.32 173.17
GBP 34,610 34,704 35,917
AUD 18,464 18,531 19,233
CAD 18,486 18,545 19,230
CHF 31,765 31,864 32,814
SGD 20,142 20,205 21,006
CNY - 3,808 3,953
HKD 3,256 3,266 3,403
KRW 17.85 18.61 20.26
THB 755.74 765.07 818.92
NZD 14,983 15,122 15,571
SEK - 2,670 2,765
DKK - 3,982 4,122
NOK - 2,756 2,857
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,017.68 - 6,792.11
TWD 745.38 - 903.03
SAR - 6,819.59 7,183.68
KWD - 82,626 87,918
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,717 29,836 31,030
GBP 34,607 34,746 35,778
HKD 3,256 3,269 3,385
CHF 31,641 31,768 32,693
JPY 163.05 163.70 171.66
AUD 18,435 18,509 19,106
SGD 20,216 20,297 20,894
THB 772 775 812
CAD 18,501 18,575 19,169
NZD 15,073 15,618
KRW 18.64 20.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25840 25840 26200
AUD 18425 18525 19456
CAD 18470 18570 19582
CHF 31754 31784 33374
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29784 29814 31537
GBP 34709 34759 36527
HKD 0 3330 0
JPY 164.88 165.38 175.93
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.6 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15099 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20172 20302 21024
THB 0 736.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14350000 14350000 14650000
SBJ 13000000 13000000 14650000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,845 25,875 26,250
USD20 25,825 25,875 26,841
USD1 25,775 25,875 26,891
AUD 18,486 18,586 19,692
EUR 29,604 29,704 31,122
CAD 18,428 18,528 19,835
SGD 20,263 20,413 21,678
JPY 164.23 165.73 171.31
GBP 34,626 34,776 35,842
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 0 0
THB 0 3,731 0
CHF 0 772 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/09/2026 20:00
Ngân hàng