PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

(TBTCO) - PVcomBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu, đồng thời lên kế hoạch tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ giữ nguyên vốn điều lệ. Dù lợi nhuận gần đây khởi sắc, ngân hàng này vẫn đối mặt bài toán xử lý nợ xấu và hàng loạt cảnh báo về nợ xấu, tăng trưởng tín dụng, giới hạn cấp tín dụng và dư nợ bất động sản.
aa

Kế hoạch tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) vừa ban hành quyết định chấp thuận đăng ký giao dịch cổ phiếu của Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank, mã CK: PCB).

Theo đó, PVcomBank được chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu phổ thông, tương ứng vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng với mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu. Tổng giá trị chứng khoán đăng ký giao dịch đạt 9.000 tỷ đồng.

Năm 2026, PVcomBank dự kiến chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu phổ thông, mệnh giá 10.000 đồng/cổ phiếu, qua đó nâng vốn điều lệ từ 9.000 tỷ đồng lên 12.000 tỷ đồng, tương ứng tăng thêm 3.000 tỷ đồng, tương đương 33,33% vốn điều lệ tại thời điểm 31/12/2025. Thời gian dự kiến phát hành vào quý IV/2026 - quý I/2027.

Theo đại diện PVcomBank, việc tăng vốn là cần thiết trong bối cảnh tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất của PVcomBank tại thời điểm cuối năm 2025 mới đạt 8,21%, tiệm cận mức tối thiểu theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN và thấp hơn đáng kể so với quy định tại Thông tư số 14/2025/NHNN (duy trì ổn định ở mức 10,5% để đạt điều kiện chia cổ tức bằng tiền mặt).

Mức vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng đã được PVcomBank duy trì từ năm 2013 đến nay, không có sự thay đổi. Bởi vậy, tăng vốn điều lệ là nhu cầu bức thiết để tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Theo đánh giá của PVcomBank, ngành ngân hàng đang đối mặt với nhiều biến động từ môi trường kinh tế toàn cầu, với rủi ro lạm phát, tỷ giá, lãi suất và gián đoạn chuỗi cung ứng, tác động trực tiếp đến hoạt động của các doanh nghiệp lớn.

Trong bối cảnh đó, PVcomBank định hướng tăng trưởng có chọn lọc, tối ưu hiệu quả và kiểm soát rủi ro chủ động, với mục tiêu doanh thu hợp nhất năm 2026 đạt 21.702 tỷ đồng, giảm khoảng 30% so với năm 2025; lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 114,3 tỷ đồng, giảm hơn 90%. Mức nền so sánh năm 2025 ở mức rất cao do PVcomBank ghi nhận lợi nhuận đột biến, cũng là năm duy nhất vượt mốc “ngàn tỷ”, khiến kế hoạch năm 2026 thận trọng hơn.

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng
Nguồn: PVcomBank.

Lợi nhuận bứt phá, song nợ xấu và tín dụng vẫn còn nhiều tồn tại

Về kết quả kinh doanh quý I/2026, PVcomBank ghi nhận 679,7 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 39,1%, tương ứng tăng 190,9 tỷ đồng so với cùng kỳ. Động lực chính đến từ tổng thu nhập hoạt động tăng 32,8%, đạt 1.846,4 tỷ đồng; trong khi chi phí hoạt động chỉ tăng 19,2%.

Trong đó, mặc dù thu nhập lãi thuần giảm 2,7%, song PVcomBank lại được bù đắp bởi sự tăng trưởng mạnh của các nguồn thu ngoài lãi. Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh lên 100 tỷ đồng (cùng kỳ chỉ ở mức 7 tỷ đồng), kết quả kinh doanh vẫn duy trì tăng trưởng tích cực.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Trong một báo cáo của PVcomBank nêu, năm 2025, ngân hàng đã nhận được nhiều cảnh báo, yêu cầu từ Ngân hàng Nhà nước và đã triển khai quyết liệt công tác thu hồi, xử lý nợ xấu, tài sản tồn đọng thông qua các phương án như bán khoản nợ, bán tài sản để cấn trừ khoản vay, cơ cấu, chuyển nhóm nợ, sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro.

Các biện pháp này giúp tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2025 của PVcomBank (báo cáo Ngân hàng Nhà nước) là 2,43%, tương ứng với số dư nợ xấu khoảng 4.742 tỷ đồng. Mặc dù tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2025 có giảm, tuy nhiên, số dư nợ xấu có xu hướng tăng nhiều hơn so với cuối năm 2024, đòi hỏi cần tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp xử lý, thu hồi nợ để giảm số dư nợ xấu, nợ quá hạn.

Đối với hoạt động tín dụng, trong năm 2025, PVcomBank cũng nhận được các cảnh báo từ Ngân hàng Nhà nước về việc tăng trưởng tín dụng vượt mức. Tính đến cuối năm 2025, dư nợ cho vay khách hàng của PVcomBank đạt 151.656 tỷ đồng, tăng 31,8% so với đầu năm.

PVcomBank cũng nhận được một số cảnh báo trong hoạt động tín dụng liên quan đến giới hạn cấp tín dụng cho một khách hàng, vượt tỷ lệ quy định về nguồn vốn ngắn hạn sử dụng cho vay trung và dài hạn, cấp tín dụng tập trung vào lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao như hoạt động kinh doanh bất động sản.

Ngân hàng cũng gia tăng tỷ trọng cấp tín dụng vào lĩnh vực bất động sản, với dư nợ đạt trên 71.000 tỷ đồng cuối năm 2025, tăng gấp đôi cùng kỳ, với tỷ trọng chiếm khoảng 47% tổng dư nợ cho vay khách hàng; đầu tư trái phiếu của tổ chức tín dụng cao hơn giới hạn vốn tự có của ngân hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Tỷ giá USD hôm nay (28/8): USD chờ thông điệp từ Fed, nhiều ngân hàng trung ương lớn phát tín hiệu tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (28/8): USD chờ thông điệp từ Fed, nhiều ngân hàng trung ương lớn phát tín hiệu tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 28/8, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng xuống 25.610 đồng; chỉ số DXY giảm nhẹ 0,01% xuống 99,13 điểm khi thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole. Trong khi đó, kỳ vọng thắt chặt tiền tệ gia tăng khi xác suất các ngân hàng trung ương lớn như: ECB tăng lãi suất tháng 9 lên gần 96%, cùng triển vọng BoJ cũng nâng lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 14:00
Ngân hàng