Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Ánh Tuyết
Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
aa
Lãi suất khó hạ sâu, giữ nhịp điều hành hợp lý trước nhiều biến số Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

Lạm phát dịu bớt, thanh khoản hạ nhiệt

Trong báo cáo tiền tệ - trái phiếu mới phát hành, Khối Phân tích và Tư vấn đầu tư Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT nhận định, lạm phát hạ nhiệt và áp lực tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để Ngân hàng Nhà nước chuyển trọng tâm sang hỗ trợ tăng trưởng, dù kỳ vọng giảm lãi suất thực chất phụ thuộc vào sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ và tài khóa, đặc biệt là tiến độ giải ngân đầu tư công.

Số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy, áp lực lạm phát đã dịu bớt trong tháng 6 khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) giảm 0,39% so với tháng 5 và tăng 4,69% so với cùng kỳ năm ngoái.

CPI giảm chủ yếu nhờ giá xăng dầu trong nước giảm theo diễn biến của giá dầu thế giới, kéo CPI nhóm giao thông tăng 5,29% so với cùng kỳ (giảm từ mức 11 - 12% của 2 tháng trước). Do mặt bằng giá năng lượng duy trì ở mức cao trong phần lớn quý II/2026, CPI bình quân 6 tháng đầu năm ở mức 4,38%, tiến sát mục tiêu kiểm soát ở mức 4,5% mà Chính phủ đặt ra.

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Cùng với đó, tỷ giá trong nước duy trì ổn định trong bối cảnh thế giới nhiều biến động. Tính đến đầu tháng 7/2026, tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, tăng 81 đồng từ đầu năm và VND mất giá khoảng 0,1% so với USD từ đầu năm.

Trên thị trường tiền tệ, thanh khoản bớt căng thẳng so với quý đầu năm, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng.

Trong tháng 6, lãi suất liên ngân hàng trải qua nhiều biến động, một phần do trùng với giai đoạn các ngân hàng thương mại gia tăng nhu cầu cân đối vốn cục bộ tại thời điểm chốt số liệu cuối quý.

Đầu tháng 7, lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh trở lại, với lãi suất qua đêm lên 10,1% và kỳ hạn 1 tuần đạt 8,6%.

Theo nhóm phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, nhờ các công cụ điều tiết linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước, mặt bằng lãi suất hạ nhiệt dần về cuối tháng. Bình quân tháng 6, lãi suất qua đêm và 1 tuần lần lượt ở mức 4,6% và 6,3%, giảm so với mức tương ứng là 6,3% và 6,4% bình quân tháng 5, phần nhiều đến từ các động thái hỗ trợ từ Ngân hàng Nhà nước.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang trạng thái hút ròng qua kênh thị trường mở (OMO). Trong quý II/2026, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng khoảng 123 nghìn tỷ đồng, đưa dư nợ OMO từ trên 360 nghìn tỷ đồng ở thời điểm đầu quý, xuống còn khoảng 230 nghìn tỷ đồng vào cuối quý.

Động thái điều tiết này phản ánh thanh khoản hệ thống đã bớt căng thẳng so với đỉnh điểm quý I/2026, cho phép Ngân hàng Nhà nước từng bước thu hẹp lượng vốn hỗ trợ tạm thời. Ngân hàng Nhà nước cũng chủ động điều hành thận trọng, ưu tiên mục tiêu ổn định lạm phát và tỷ giá, trong bối cảnh giá dầu tăng mạnh do xung đột Mỹ - Iran và thâm hụt thương mại nới rộng so với cùng kỳ.

Ngoài ra, trong tháng 6, Ngân hàng Nhà nước đã 2 lần triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ có kỳ hạn (FX swap) nhằm hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn tại các thời điểm căng thẳng cục bộ, tổng quy mô tối đa 2 tỷ USD.

Ngân hàng Nhà nước cũng phát đi tín hiệu “xoay trục” chính sách theo hướng hỗ trợ tăng trưởng.

Kỳ vọng nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc, tái cấp vốn để kéo giảm lãi suất

Nhóm phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT cho rằng, CPI tháng 6 hạ nhiệt là tín hiệu bước đầu, mở ra dư địa điều hành chính sách tiền tệ cho Ngân hàng Nhà nước trong nửa cuối năm. Áp lực lạm phát dịu bớt cùng tỷ giá được kiểm soát là điều kiện cần để thực thi các giải pháp quyết liệt hơn trong việc hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay là khoảng cách giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng huy động, buộc các ngân hàng thương mại phải cạnh tranh huy động vốn để tài trợ nhu cầu tín dụng, đồng thời đảm bảo các tỷ lệ an toàn theo quy định.

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Giảm lãi suất phụ thuộc vào thanh khoản, phối hợp chính sách

“Việc giảm lãi suất một cách thực chất sẽ phụ thuộc lớn vào khả năng cải thiện thanh khoản hệ thống, cần sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ, tài khóa và điều kiện vĩ mô thuận lợi hơn” - Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT nêu góc nhìn.

Tuy nhiên, theo Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu vì 3 lý do.

Một là, tăng trưởng tín dụng tiếp tục vượt xa huy động, khi tín dụng toàn hệ thống đạt 7,41% tính đến cuối tháng 6, trong khi huy động vốn chỉ tăng 5,02%, đẩy tỷ lệ LDR (tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi) thị trường 1 lên khoảng 114% (quý I/2026), cao hơn mức 109% cuối năm 2025 và 106% cuối năm 2024.

Hai là, tiến độ giải ngân đầu tư công còn chậm khi giải ngân đầu tư công mới đạt 35,5% kế hoạch Chính phủ giao, khiến một lượng tiền lớn vẫn nằm tại Kho bạc Nhà nước, thay vì chảy ra nền kinh tế và tạo sự lan tỏa.

Ba là, áp lực từ môi trường bên ngoài vẫn duy trì khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giữ lãi suất ở mức cao 3,5 - 3,75% trong cuộc họp giữa tháng 6/2026, trong khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông làm gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá, qua đó, hạn chế dư địa điều hành chính sách của Ngân hàng Nhà nước.

Để hạ nhiệt mặt bằng lãi suất cuối năm, bên cạnh kỳ vọng Chính phủ đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT kỳ vọng Ngân hàng Nhà nước sẽ xem xét nâng tỷ lệ tiền gửi của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại. Đồng thời, triển khai đồng bộ các công cụ như OMO, hoán đổi ngoại tệ; nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn cho các công trình trọng điểm quốc gia, đặc biệt là các dự án nhà ở xã hội, nhà cho thuê.

“Nếu các giải pháp này được triển khai hiệu quả, mặt bằng lãi suất có thể bắt đầu hạ nhiệt rõ nét hơn từ quý IV/2026” - VNDIRECT kỳ vọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (13/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY vượt 101 điểm trước giờ công bố CPI Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (13/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY vượt 101 điểm trước giờ công bố CPI Mỹ

(TBTCO) - Sáng 13/7, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.220 đồng, tăng 6 đồng so với cuối tuần trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,22% lên 101,17 điểm. Đồng USD được hỗ trợ khi căng thẳng giữa Mỹ và Iran làm gia tăng lo ngại lạm phát, còn thị trường đang chờ đợi báo cáo CPI của Mỹ công bố vào thứ ba để đánh giá triển vọng chính sách của Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

(TBTCO) - Sáng 11/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.214 đồng, tăng 8 đồng trong cả tuần, nối dài chuỗi tăng lên 8 tuần liên tiếp. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng nhẹ 0,03%, lên 100,97 điểm. Tuần tới, thị trường sẽ hướng sự chú ý đến chỉ số CPI tháng 6 của Mỹ và phiên điều trần của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm thêm tín hiệu về lộ trình lãi suất.
Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

Diễn biến thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/7: Hút ròng mạnh 31.000 tỷ đồng, tỷ giá giữ nhịp tăng 8 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/7 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước dù hút ròng mạnh 31.379,6 tỷ đồng qua kênh OMO, nhưng lãi suất VND qua đêm vẫn giảm nhiệt còn 4,68%/năm. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.214 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

Tỷ giá USD hôm nay (8/7): Đồng USD lấy lại đà tăng, yên Nhật lại chịu áp lực can thiệp

(TBTCO) - Sáng 8/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, tăng 4 đồng so với phiên trước. Chỉ số DXY tăng 0,26% lên 101,12 điểm khi lạm phát Mỹ vẫn ở mức cao, khiến Fed tiếp tục theo dõi sát các dữ liệu kinh tế trước khi điều chỉnh chính sách. Thị trường cũng theo dõi động thái Chính phủ Nhật Bản can thiệp khi tỷ giá quanh vùng 162 - 163 JPY/USD.
Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▲100K 13,400 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▲100K 13,350 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▲100K 14,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲100K 14,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲100K 14,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
NL 99.99 13,000 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 ▲80K 14,640 ▲80K
Trang sức 99.99 13,950 ▲80K 14,650 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲10K 14,852 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲10K 14,853 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 ▲10K 148 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 ▲10K 1,481 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 ▲1K 146 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 ▲990K 144,554 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▲750K 109,661 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 ▲68K 9,944 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 ▲610K 89,219 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 ▲584K 85,277 ▲584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 ▲417K 61,038 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cập nhật: 15/07/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17814 18088 18663
CAD 18150 18426 19042
CHF 31818 32199 32832
CNY 0 3839 3931
EUR 29407 29628 30705
GBP 34423 34814 35744
HKD 0 3220 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14969 15550
SGD 19812 20094 20665
THB 698 761 815
USD (1,2) 25994 0 0
USD (5,10,20) 26035 0 0
USD (50,100) 26064 26078 26437
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,511 29,535 30,944
JPY 157.61 157.89 167.43
GBP 34,565 34,659 35,852
AUD 18,000 18,065 18,744
CAD 18,347 18,406 19,082
CHF 32,081 32,181 33,132
SGD 19,929 19,991 20,778
CNY - 3,804 3,949
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 748.53 757.77 810.76
NZD 14,953 15,092 15,537
SEK - 2,676 2,771
DKK - 3,948 4,087
NOK - 2,669 2,764
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,038.53 - 6,814.83
TWD 737.41 - 893.26
SAR - 6,871.99 7,237.67
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26450
AUD 18004 18104 19027
CAD 18347 18447 19462
CHF 32062 32092 33678
CNY 3820 3845 3980.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29589 29619 31345
GBP 34703 34753 36513
HKD 0 3355 0
JPY 158.47 158.97 169.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15068 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19973 20103 20829
THB 0 729.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80