Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
aa

Giá vàng thế giới cố giữ mốc 4.000 USD/ounce, vàng SJC vẫn “đắt đỏ”

Giá vàng thế giới sau khi chịu áp lực sau khi giảm mạnh trong phiên trước thủng mốc 4.000 USD/ounce, đã phục hồi nhẹ 0,22% lên khoảng 4.011 USD/ounce, tăng 8,72 USD trong phiên giao dịch sáng ngày 14/7. Tâm lý thị trường vẫn thận trọng khi căng thẳng giữa Mỹ và Iran leo thang làm gia tăng lo ngại lạm phát.

Kịch bản này có thể đẩy giá dầu và chi phí năng lượng tăng cao, làm gia tăng áp lực lạm phát và củng cố kỳ vọng Fed sẽ duy trì mặt bằng lãi suất ở mức cao trong thời gian dài hơn. Trong môi trường lãi suất cao, vàng là tài sản không mang lại lợi suất thường kém hấp dẫn hơn với nhà đầu tư.

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến
Nguồn: muavangbac.vn. Đồ họa tư liệu

So với ngưỡng gần 5.600 USD/ounce mà giá vàng từng chạm vào cuối tháng 1/2026, giá vàng thế giới đã giảm khoảng 1.580 USD/ounce, tương đương giảm 28,3%. Thống kê từ Công ty Quản lý Tài sản Sprott (Mỹ) cũng cho thấy, tính chung cả quý II/2026, giá vàng giảm 660,04 USD/ounce, tương đương 14,14%, đánh dấu quý sụt giảm mạnh nhất kể từ quý II/2013 - giai đoạn Fed bắt đầu chu kỳ tăng lãi suất đầu tiên sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Có nhiều điểm khác với diễn biến thế giới, giá vàng SJC trong nước vẫn duy trì ở vùng cao nhờ nguồn cung hạn chế và chênh lệch lớn so với giá quốc tế. Trong khi giá vàng thế giới giảm khoảng 4,6% so với tháng trước, giá vàng SJC trong nước gần như dao động trong biên độ hẹp, với giá bán ra hiện ở mức khoảng 147 triệu đồng/lượng, tăng khoảng 1% so với cùng kỳ tháng trước, song giảm khoảng 23% từ đỉnh đầu tháng 3/2026.

Nhờ đó, chênh lệch giữa giá vàng SJC và giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục duy trì ở mức rất cao, khoảng 20 triệu đồng/lượng, cao hơn đáng kể so với thời điểm đầu tháng 6/2026, khi thị trường chứng kiến đợt giảm mạnh đồng loạt khiến khoảng cách này thu hẹp xuống chỉ còn khoảng 5 triệu đồng/lượng.

Điều này phản ánh giá vàng SJC vẫn chịu tác động chủ yếu từ yếu tố cung - cầu trong nước và cơ chế quản lý thị trường, thay vì hoàn toàn bám sát biến động của giá vàng quốc tế.

Trong phiên sáng ngày 14/7, giá vàng miếng tại các doanh nghiệp đồng loạt điều chỉnh giảm. SJC, DOJI cùng niêm yết giá vàng SJC ở mức 144,1 - 147,1 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm 1,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều so với phiên trước. Trong khi đó, Bảo Tín Minh Châu niêm yết thấp hơn, ở mức 142,2 - 146,2 triệu đồng/lượng, với chiều mua giảm 800.000 đồng/lượng và chiều bán giảm 600.000 đồng/lượng. Riêng Bảo Tín Mạnh Hải giao dịch ở mức 142,2 - 147,1 triệu đồng/lượng, trong đó chiều mua giảm 800.000 đồng/lượng và chiều bán giảm 1,3 triệu đồng/lượng so với ngày 13/7.

Những lực cản đè nặng giá vàng

Lý giải áp lực điều chỉnh giá vàng do sự kết hợp của nhiều yếu tố trong và ngoài nước, trong báo cáo phân tích, dự báo hàng tháng được Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) mới phát hành, ông Phạm Minh Thụy - Phó trưởng phòng Phụ trách Phòng Nghiên cứu Kinh tế - Tài chính đánh giá, căng thẳng địa chính trị ở Trung Đông, cùng bất ổn nội bộ ở nhiều quốc gia có nguy cơ làm tăng lạm phát, giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, một số ngân hàng chuyển sang thắt chặt chính sách tiền tệ… đã khiến nhiều ngân hàng, nhà đầu tư phải bán vàng ra…

Giá vàng giằng co giữa nhiều yếu tố chi phối

“Bất ổn nội bộ ở nhiều quốc gia có thể vẫn kéo dài, giá năng lượng vẫn ở mức khá cao, tăng trưởng kinh tế chậm lại, các ngân hàng trung ương có thể phải duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt… khiến cho nhiều nhà đầu tư muốn nắm giữ USD thay cho vàng. Sự dịch chuyển thanh khoản này có thể tiếp tục làm giảm giá vàng. Mặt khác, việc tăng cường chi tiêu quốc phòng ở châu Âu, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc... khiến thâm hụt ngân sách của nhiều quốc gia tăng mạnh, vàng lại có xu hướng tăng giá trong trung hạn. Vì vậy, trên thị trường thế giới tháng 7/2026 giá vàng có thể biến động từ 3.800 - 4.300 USD/ounce” - ông Phạm Minh Thụy dự báo.

Cùng với đó, chỉ số DXY bình quân tháng 6/2026 ở mức 100,32 điểm, tăng 1,63% so với tháng 5/2026 và tăng 1,93% so với cùng kỳ năm 2025; lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng cao, riêng loại kỳ hạn 10 năm đã tăng từ mức 4,3% của tháng 4/2026 lên mức 4,6% vào tháng 5 và 6/2026… đã khiến nhiều nhà đầu tư muốn bán vàng để “trú ẩn” vào USD.

“Với mức tăng mạnh giá vàng trong hai năm qua, nhiều nhà đầu tư chốt lời vàng để bù đắp tổn thất ở các danh mục khác, hoặc chuyển sang nắm giữ tiền mặt khi nhiều khả năng Fed sẽ tăng lãi suất vào cuối năm 2026” - ông Thụy nhìn nhận.

Ngoài ra, ở trong nước, các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra chống gian lận trong kinh doanh vàng, cho nên số người mua vàng vì mục đích đầu cơ giảm bớt.

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, cơ quan này đã đề nghị và phối hợp với Thanh tra Chính phủ và Bộ Công an kiểm tra, thanh tra các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh vàng, góp phần cải thiện chênh lệch giá và hoạt động mua, bán trên thị trường vàng đã không còn sôi động như trước đây.

Cũng theo đánh giá của TS. Nguyễn Minh Phong - Chuyên gia kinh tế, nguồn cung vàng SJC sẽ dần được cải thiện do Ngân hàng Nhà nước tăng nguồn cung ra thị trường qua các kênh ngân hàng thương mại và kết quả xử lý các hành vi tiêu cực trong quản lý vàng miếng SJC, cũng như do niềm tin của người dân vào vàng nhẫn dần khôi phục và củng cố, thay vì sùng bái quá mức và vô lý vào thương hiệu vàng miếng SJC.

“Giãn cách giá vàng trong nước và quốc tế có thể thu hẹp trước chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ về triển khai Nghị định số 232/2025/NĐ-CP, với điểm cốt lõi là bãi bỏ độc quyền nhà nước trong sản xuất vàng miếng, thắt chặt giao dịch (chuyển khoản nếu từ 20 triệu đồng/ngày), khai trương sàn giao dịch vàng và chuẩn hóa quy định nhập khẩu, kinh doanh vàng; siết chặt giao dịch thông qua thanh toán chuyển khoản, xuất hóa đơn điện tử kết nối với cơ quan thuế và đẩy mạnh thanh tra, giám sát sẽ góp phần đáng kể trong việc minh bạch hóa thị trường” - ông Phong nêu quan điểm.

Vàng thành tài sản phòng thủ

Trong bối cảnh thị trường kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất trong nửa cuối năm, giá vàng được dự báo còn đối mặt với nhiều thách thức. Ngân hàng Bank of America (Mỹ) đã hạ 14% dự báo giá vàng bình quân năm 2026, xuống còn 4.360 USD/ounce, phản ánh quan điểm thận trọng hơn, trước triển vọng ngắn hạn của thị trường.

Sự điều chỉnh trong triển vọng của Bank of America xuất phát từ dự báo Fed sẽ tăng lãi suất thêm ba lần trong năm nay, ngay cả khi áp lực lạm phát có dấu hiệu hạ nhiệt.

Theo TS. Nguyễn Minh Phong, lãi suất cao luôn là yếu tố bất lợi đối với vàng bởi kim loại quý không mang lại lợi suất như trái phiếu hay tiền gửi. Khi đồng USD mạnh lên và lợi suất tăng cao, dòng tiền thường có xu hướng rời khỏi vàng để tìm đến các tài sản sinh lời tốt hơn…

Trong bối cảnh chênh lệch mua - bán quá rộng và nhanh giữa giá trong nước và nước ngoài, việc “lướt sóng” vàng có thể mang lại lợi nhuận trước mắt cho nhà đầu tư, song có rủi ro cao cho người nào rơi vào tình trạng rủi ro “mua đỉnh, bán đáy” do thiếu thông tin, vay nợ lãi cao để đầu cơ vàng.

Vì vậy, ông Phong khuyến cáo nhà đầu tư cần từ bỏ tư duy “lướt sóng” vàng để tìm kiếm mức sinh lời đột biến như giai đoạn trước…, mà vàng chỉ nên được nhìn nhận là tài sản phòng thủ, giúp bảo vệ danh mục trước những biến động khó lường của kinh tế toàn cầu, căng thẳng địa chính trị hay các thay đổi trong chính sách của Mỹ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▲100K 13,400 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▲100K 13,350 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▲100K 14,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲100K 14,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲100K 14,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
NL 99.99 13,000 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 ▲80K 14,640 ▲80K
Trang sức 99.99 13,950 ▲80K 14,650 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲10K 14,852 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲10K 14,853 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 ▲10K 148 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 ▲10K 1,481 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 ▲1K 146 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 ▲990K 144,554 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▲750K 109,661 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 ▲68K 9,944 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 ▲610K 89,219 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 ▲584K 85,277 ▲584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 ▲417K 61,038 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cập nhật: 15/07/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17798 18072 18648
CAD 18132 18407 19024
CHF 31728 32109 32754
CNY 0 3834 3927
EUR 29336 29556 30639
GBP 34370 34761 35694
HKD 0 3218 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15554
SGD 19773 20054 20635
THB 696 759 812
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,490 29,514 30,923
JPY 157.42 157.7 167.24
GBP 34,588 34,682 35,877
AUD 18,007 18,072 18,752
CAD 18,342 18,401 19,075
CHF 32,049 32,149 33,091
SGD 19,921 19,983 20,768
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 745.85 755.06 807.86
NZD 14,943 15,082 15,527
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,660 2,757
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,798.09
TWD 736.29 - 891.9
SAR - 6,870.71 7,236.51
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26440
AUD 17992 18092 19015
CAD 18324 18424 19438
CHF 31983 32013 33591
CNY 3815.1 3840.1 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29532 29562 31287
GBP 34659 34709 36467
HKD 0 3355 0
JPY 158.2 158.7 169.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15076 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19940 20070 20798
THB 0 725.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80