Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
aa

Giá vàng thế giới cố giữ mốc 4.000 USD/ounce, vàng SJC vẫn “đắt đỏ”

Giá vàng thế giới sau khi chịu áp lực sau khi giảm mạnh trong phiên trước thủng mốc 4.000 USD/ounce, đã phục hồi nhẹ 0,22% lên khoảng 4.011 USD/ounce, tăng 8,72 USD trong phiên giao dịch sáng ngày 14/7. Tâm lý thị trường vẫn thận trọng khi căng thẳng giữa Mỹ và Iran leo thang làm gia tăng lo ngại lạm phát.

Kịch bản này có thể đẩy giá dầu và chi phí năng lượng tăng cao, làm gia tăng áp lực lạm phát và củng cố kỳ vọng Fed sẽ duy trì mặt bằng lãi suất ở mức cao trong thời gian dài hơn. Trong môi trường lãi suất cao, vàng là tài sản không mang lại lợi suất thường kém hấp dẫn hơn với nhà đầu tư.

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến
Nguồn: muavangbac.vn. Đồ họa tư liệu

So với ngưỡng gần 5.600 USD/ounce mà giá vàng từng chạm vào cuối tháng 1/2026, giá vàng thế giới đã giảm khoảng 1.580 USD/ounce, tương đương giảm 28,3%. Thống kê từ Công ty Quản lý Tài sản Sprott (Mỹ) cũng cho thấy, tính chung cả quý II/2026, giá vàng giảm 660,04 USD/ounce, tương đương 14,14%, đánh dấu quý sụt giảm mạnh nhất kể từ quý II/2013 - giai đoạn Fed bắt đầu chu kỳ tăng lãi suất đầu tiên sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.

Có nhiều điểm khác với diễn biến thế giới, giá vàng SJC trong nước vẫn duy trì ở vùng cao nhờ nguồn cung hạn chế và chênh lệch lớn so với giá quốc tế. Trong khi giá vàng thế giới giảm khoảng 4,6% so với tháng trước, giá vàng SJC trong nước gần như dao động trong biên độ hẹp, với giá bán ra hiện ở mức khoảng 147 triệu đồng/lượng, tăng khoảng 1% so với cùng kỳ tháng trước, song giảm khoảng 23% từ đỉnh đầu tháng 3/2026.

Nhờ đó, chênh lệch giữa giá vàng SJC và giá vàng thế giới quy đổi tiếp tục duy trì ở mức rất cao, khoảng 20 triệu đồng/lượng, cao hơn đáng kể so với thời điểm đầu tháng 6/2026, khi thị trường chứng kiến đợt giảm mạnh đồng loạt khiến khoảng cách này thu hẹp xuống chỉ còn khoảng 5 triệu đồng/lượng.

Điều này phản ánh giá vàng SJC vẫn chịu tác động chủ yếu từ yếu tố cung - cầu trong nước và cơ chế quản lý thị trường, thay vì hoàn toàn bám sát biến động của giá vàng quốc tế.

Trong phiên sáng ngày 14/7, giá vàng miếng tại các doanh nghiệp đồng loạt điều chỉnh giảm. SJC, DOJI cùng niêm yết giá vàng SJC ở mức 144,1 - 147,1 triệu đồng/lượng (mua vào - bán ra), giảm 1,3 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều so với phiên trước. Trong khi đó, Bảo Tín Minh Châu niêm yết thấp hơn, ở mức 142,2 - 146,2 triệu đồng/lượng, với chiều mua giảm 800.000 đồng/lượng và chiều bán giảm 600.000 đồng/lượng. Riêng Bảo Tín Mạnh Hải giao dịch ở mức 142,2 - 147,1 triệu đồng/lượng, trong đó chiều mua giảm 800.000 đồng/lượng và chiều bán giảm 1,3 triệu đồng/lượng so với ngày 13/7.

Những lực cản đè nặng giá vàng

Lý giải áp lực điều chỉnh giá vàng do sự kết hợp của nhiều yếu tố trong và ngoài nước, trong báo cáo phân tích, dự báo hàng tháng được Viện Kinh tế - Tài chính (Học viện Tài chính) mới phát hành, ông Phạm Minh Thụy - Phó trưởng phòng Phụ trách Phòng Nghiên cứu Kinh tế - Tài chính đánh giá, căng thẳng địa chính trị ở Trung Đông, cùng bất ổn nội bộ ở nhiều quốc gia có nguy cơ làm tăng lạm phát, giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế, một số ngân hàng chuyển sang thắt chặt chính sách tiền tệ… đã khiến nhiều ngân hàng, nhà đầu tư phải bán vàng ra…

Giá vàng giằng co giữa nhiều yếu tố chi phối

“Bất ổn nội bộ ở nhiều quốc gia có thể vẫn kéo dài, giá năng lượng vẫn ở mức khá cao, tăng trưởng kinh tế chậm lại, các ngân hàng trung ương có thể phải duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt… khiến cho nhiều nhà đầu tư muốn nắm giữ USD thay cho vàng. Sự dịch chuyển thanh khoản này có thể tiếp tục làm giảm giá vàng. Mặt khác, việc tăng cường chi tiêu quốc phòng ở châu Âu, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc... khiến thâm hụt ngân sách của nhiều quốc gia tăng mạnh, vàng lại có xu hướng tăng giá trong trung hạn. Vì vậy, trên thị trường thế giới tháng 7/2026 giá vàng có thể biến động từ 3.800 - 4.300 USD/ounce” - ông Phạm Minh Thụy dự báo.

Cùng với đó, chỉ số DXY bình quân tháng 6/2026 ở mức 100,32 điểm, tăng 1,63% so với tháng 5/2026 và tăng 1,93% so với cùng kỳ năm 2025; lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tăng cao, riêng loại kỳ hạn 10 năm đã tăng từ mức 4,3% của tháng 4/2026 lên mức 4,6% vào tháng 5 và 6/2026… đã khiến nhiều nhà đầu tư muốn bán vàng để “trú ẩn” vào USD.

“Với mức tăng mạnh giá vàng trong hai năm qua, nhiều nhà đầu tư chốt lời vàng để bù đắp tổn thất ở các danh mục khác, hoặc chuyển sang nắm giữ tiền mặt khi nhiều khả năng Fed sẽ tăng lãi suất vào cuối năm 2026” - ông Thụy nhìn nhận.

Ngoài ra, ở trong nước, các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra chống gian lận trong kinh doanh vàng, cho nên số người mua vàng vì mục đích đầu cơ giảm bớt.

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, cơ quan này đã đề nghị và phối hợp với Thanh tra Chính phủ và Bộ Công an kiểm tra, thanh tra các doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh vàng, góp phần cải thiện chênh lệch giá và hoạt động mua, bán trên thị trường vàng đã không còn sôi động như trước đây.

Cũng theo đánh giá của TS. Nguyễn Minh Phong - Chuyên gia kinh tế, nguồn cung vàng SJC sẽ dần được cải thiện do Ngân hàng Nhà nước tăng nguồn cung ra thị trường qua các kênh ngân hàng thương mại và kết quả xử lý các hành vi tiêu cực trong quản lý vàng miếng SJC, cũng như do niềm tin của người dân vào vàng nhẫn dần khôi phục và củng cố, thay vì sùng bái quá mức và vô lý vào thương hiệu vàng miếng SJC.

“Giãn cách giá vàng trong nước và quốc tế có thể thu hẹp trước chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ về triển khai Nghị định số 232/2025/NĐ-CP, với điểm cốt lõi là bãi bỏ độc quyền nhà nước trong sản xuất vàng miếng, thắt chặt giao dịch (chuyển khoản nếu từ 20 triệu đồng/ngày), khai trương sàn giao dịch vàng và chuẩn hóa quy định nhập khẩu, kinh doanh vàng; siết chặt giao dịch thông qua thanh toán chuyển khoản, xuất hóa đơn điện tử kết nối với cơ quan thuế và đẩy mạnh thanh tra, giám sát sẽ góp phần đáng kể trong việc minh bạch hóa thị trường” - ông Phong nêu quan điểm.

Vàng thành tài sản phòng thủ

Trong bối cảnh thị trường kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất trong nửa cuối năm, giá vàng được dự báo còn đối mặt với nhiều thách thức. Ngân hàng Bank of America (Mỹ) đã hạ 14% dự báo giá vàng bình quân năm 2026, xuống còn 4.360 USD/ounce, phản ánh quan điểm thận trọng hơn, trước triển vọng ngắn hạn của thị trường.

Sự điều chỉnh trong triển vọng của Bank of America xuất phát từ dự báo Fed sẽ tăng lãi suất thêm ba lần trong năm nay, ngay cả khi áp lực lạm phát có dấu hiệu hạ nhiệt.

Theo TS. Nguyễn Minh Phong, lãi suất cao luôn là yếu tố bất lợi đối với vàng bởi kim loại quý không mang lại lợi suất như trái phiếu hay tiền gửi. Khi đồng USD mạnh lên và lợi suất tăng cao, dòng tiền thường có xu hướng rời khỏi vàng để tìm đến các tài sản sinh lời tốt hơn…

Trong bối cảnh chênh lệch mua - bán quá rộng và nhanh giữa giá trong nước và nước ngoài, việc “lướt sóng” vàng có thể mang lại lợi nhuận trước mắt cho nhà đầu tư, song có rủi ro cao cho người nào rơi vào tình trạng rủi ro “mua đỉnh, bán đáy” do thiếu thông tin, vay nợ lãi cao để đầu cơ vàng.

Vì vậy, ông Phong khuyến cáo nhà đầu tư cần từ bỏ tư duy “lướt sóng” vàng để tìm kiếm mức sinh lời đột biến như giai đoạn trước…, mà vàng chỉ nên được nhìn nhận là tài sản phòng thủ, giúp bảo vệ danh mục trước những biến động khó lường của kinh tế toàn cầu, căng thẳng địa chính trị hay các thay đổi trong chính sách của Mỹ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

Mở rộng “lá chắn” bảo hiểm nông nghiệp, tạo bệ đỡ cho dòng vốn tín dụng

(TBTCO) - Bảo hiểm nông nghiệp tại Đồng bằng sông Cửu Long từng bước mở rộng, nhưng độ phủ vẫn còn thấp so với quy mô sản xuất và rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Những giải pháp mở rộng độ phủ bảo hiểm đang được thúc đẩy, phát huy tốt hơn vai trò chia sẻ rủi ro cho người sản xuất, qua đó, giảm áp lực trả nợ, hạn chế rủi ro tín dụng và thúc đẩy ngân hàng “bơm” vốn dài hạn vào nông nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

MSB giảm lãi suất cho vay tối thiểu 1%/năm

(TBTCO) - Hưởng ứng định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên và những động lực tăng trưởng của nền kinh tế, MSB triển khai chương trình ưu đãi lãi suất dành cho khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, với mức lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▲200K 144,100 ▲200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
Miếng SJC Nghệ An 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
Miếng SJC Thái Bình 14,120 ▲20K 14,420 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▲20K 14,470 ▲20K
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,780 ▲20K 14,380 ▲20K
Trang sức 99.99 13,790 ▲20K 14,390 ▲20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,412 ▲1271K 14,422 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,412 ▲1271K 14,423 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,407 ▲2K 1,437 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,407 ▲2K 1,438 ▲2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,377 ▲2K 1,422 ▲1280K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,792 ▲198K 140,792 ▲198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,011 ▲150K 106,811 ▲150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,056 ▲78364K 96,856 ▲87184K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,101 ▲122K 86,901 ▲122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,261 ▲117K 83,061 ▲117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,653 ▲44696K 59,453 ▲53516K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,412 ▲1271K 1,442 ▲1298K
Cập nhật: 17/08/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18135 18410 18993
CAD 18375 18651 19272
CHF 31690 32070 32716
CNY 0 3830 3940
EUR 29741 29963 31050
GBP 34717 35110 36060
HKD 0 3209 3413
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15205 15798
SGD 19991 20273 20849
THB 709 772 826
USD (1,2) 25942 0 0
USD (5,10,20) 25982 0 0
USD (50,100) 26011 26025 26400
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,030 26,030 26,410
USD(1-2-5) 24,989 - -
USD(10-20) 24,989 - -
EUR 29,802 29,826 31,235
JPY 160.38 160.67 170.36
GBP 34,901 34,995 36,204
AUD 18,317 18,383 19,078
CAD 18,560 18,620 19,303
CHF 31,929 32,028 32,976
SGD 20,108 20,171 20,969
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,274 3,284 3,422
KRW 17.09 17.82 19.4
THB 757.11 766.46 820.07
NZD 15,179 15,320 15,775
SEK - 2,715 2,810
DKK - 3,997 4,138
NOK - 2,737 2,834
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,014.47 - 6,789.48
TWD 743.35 - 900.49
SAR - 6,864.19 7,229.61
KWD - 83,099 88,413
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,980 26,010 26,390
EUR 29,775 29,895 31,079
GBP 34,871 35,011 36,033
HKD 3,271 3,284 3,400
CHF 31,723 31,850 32,761
JPY 160.65 161.30 169.22
AUD 18,237 18,310 18,901
SGD 20,148 20,229 20,818
THB 772 775 811
CAD 18,550 18,624 19,211
NZD 15,224 15,765
KRW 17.69 19.66
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26030 26030 26390
AUD 18325 18425 19347
CAD 18562 18662 19676
CHF 31962 31992 33582
CNY 3829.7 3854.7 3989.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29943 29973 31696
GBP 35033 35083 36841
HKD 0 3330 0
JPY 161.16 161.66 172.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15322 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20158 20288 21011
THB 0 738.8 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14120000 14120000 14420000
SBJ 12500000 12500000 14420000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,040 26,090 26,400
USD20 25,990 26,090 26,815
USD1 25,940 26,090 26,865
AUD 18,293 18,393 19,498
EUR 29,696 29,796 31,455
CAD 18,497 18,597 19,903
SGD 20,207 20,357 20,913
JPY 161.7 163.2 168.73
GBP 34,907 35,057 36,113
XAU 14,178,000 0 14,482,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 772 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/08/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80