Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
aa
VietBank dự kiến lợi nhuận trước thuế năm 2026 đạt 2.100 tỷ đồng, niêm yết trên HOSE quý II/2026 Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao

Ngân hàng TMCP Việt Nam Thương Tín (Vietbank - mã CK: VBB) chính thức đưa 1.076.897.384 cổ phiếu giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) kể từ ngày 14/7/2026.

Trước đó, cổ phiếu VBB đã chính thức hủy đăng ký giao dịch trên UPCoM từ ngày 30/6/2026. Kết thúc phiên giao dịch cuối cùng trên sàn UPCoM, cổ phiếu VBB đạt mức 13.700 đồng/cổ phiếu, tăng 45% so với đầu năm 2026 và tăng 58% so với vùng đáy giữa tháng 3.

Trong phiên giao dịch đầu tiên trên HOSE, VBB có giá tham chiếu 13.300 đồng/cổ phiếu. Tạm tính theo giá tham chiếu, vốn hóa thị trường của Vietbank đạt khoảng 14.323 tỷ đồng.

Theo Vietbank, việc chuyển niêm yết sang HoSE đánh dấu bước phát triển mới trên thị trường vốn, góp phần nâng cao tính minh bạch, uy tín thương hiệu và khả năng tiếp cận các nhà đầu tư tổ chức, quỹ đầu tư cũng như nhà đầu tư cá nhân. Bước chuyển này cũng được kỳ vọng sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các kế hoạch huy động vốn trung và dài hạn của Vietbank trong thời gian tới.

Nếu hoàn tất cả 3 đợt phát hành, vốn điều lệ của Vietbank sẽ tăng lên khoảng 15.548 tỷ đồng, cao hơn gần 44,4% so với trước khi triển khai kế hoạch. Việc tăng vốn sẽ giúp nâng cao năng lực tài chính, cải thiện hệ số an toàn vốn (CAR), mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng và tạo thêm nguồn lực đầu tư cho chuyển đổi số.

Ngay trước thời điểm chuyển sàn, Vietbank đã hoàn tất đợt phát hành gần 107,7 triệu cổ phiếu thưởng cho 1.817 cổ đông, theo tỷ lệ 100:10, từ nguồn vốn chủ sở hữu. Sau đợt phát hành, vốn điều lệ của Vietbank tăng từ gần 10.769 tỷ đồng lên gần 11.846 tỷ đồng.

Đây là bước đầu tiên trong kế hoạch tăng vốn năm 2026 đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận.

Theo phương án được Đại hội đồng cổ đông thông qua, Vietbank sẽ tiếp tục chào bán khoảng 296,14 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu và nhà đầu tư mới với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, dự kiến huy động thêm khoảng 2.961 tỷ đồng. Đợt phát hành dự kiến thực hiện trong quý III - IV/2026 và toàn bộ cổ phiếu sẽ không bị hạn chế chuyển nhượng.

Bên cạnh đó, Vietbank dự kiến phát hành thêm 74 triệu cổ phiếu ESOP (phát hành cổ phiếu cho người lao động), cũng với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, thu về hơn 740 tỷ đồng. Số cổ phiếu này bị hạn chế chuyển nhượng trong một năm, thời gian thực hiện dự kiến từ quý IV/2026 đến quý I/2027.

Năm 2026, Vietbank đặt mục tiêu tổng tài sản đạt 230.000 tỷ đồng, tăng gần 17%; dư nợ tín dụng đạt 134.000 tỷ đồng, tăng 23,6%; huy động vốn đạt 155.000 tỷ đồng, tăng gần 24%; kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 2,5% và lợi nhuận trước thuế đạt 2.100 tỷ đồng, tăng 37,1% so với năm 2025.

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng
Nguồn: VietBank.

Kết thúc quý I/2026, lợi nhuận trước thuế của Vietbank đạt trên 167 tỷ đồng, tương đương khoảng 8% kế hoạch cả năm. Trong kỳ, ngân hàng chủ động tăng mạnh chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, với mức trích lập gần 195 tỷ đồng, tăng 65% so với cùng kỳ năm trước, qua đó ảnh hưởng đến kết quả lợi nhuận sau khi ghi nhận chi phí dự phòng.

Tính đến ngày 31/3/2026, tổng tài sản của Vietbank đạt 190.211 tỷ đồng, giảm 3% so với đầu năm. Trong khi đó, dư nợ cho vay khách hàng tăng 4%, lên 109.693 tỷ đồng. Ngược lại, tiền gửi khách hàng giảm 5%, còn 96.521 tỷ đồng, phản ánh nguồn vốn huy động chưa theo kịp tốc độ tăng trưởng tín dụng.

Về chất lượng tài sản, tính đến cuối quý I/2026, tổng nợ xấu (nhóm 3 - 5) của Vietbank tăng lên 3.678,5 tỷ đồng, tăng 19,8% so với cùng kỳ và tăng gần 608 tỷ đồng so với cuối năm 2025. Đáng chú ý, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) tiếp tục chiếm tỷ trọng rất lớn, đạt 2.302,8 tỷ đồng, tương đương 62,6% tổng nợ xấu, dù đã giảm so với mức 70,1% cuối năm 2025.

Cùng với đó, tốc độ gia tăng nợ xấu đang nhanh hơn đáng kể so với tốc độ mở rộng tín dụng. Tính đến cuối quý I/2026, dư nợ cho vay chỉ tăng 4,2% so với đầu năm, trong khi tổng nợ xấu tăng tới 19,8%. Điều này cho thấy, nợ xấu gia tăng không chỉ do quy mô cho vay mở rộng, mà chủ yếu xuất phát từ sự suy giảm chất lượng tín dụng của danh mục hiện hữu.

Tuy nhiên, việc chủ động tăng mạnh trích lập dự phòng đã góp phần củng cố bộ đệm rủi ro, nâng khả năng ứng phó với các khoản nợ tiềm ẩn và hỗ trợ kiểm soát chất lượng tài sản.

Cùng thời điểm chuẩn bị niêm yết trên HOSE, Vietbank cũng kiện toàn bộ máy điều hành. Hội đồng Quản trị Vietbank đã miễn nhiệm chức danh Quyền Tổng Giám đốc đối với ông Lê Thanh Quý Ngọc và chức danh Phó Tổng Giám đốc đối với ông Phạm Danh theo nguyện vọng cá nhân.

Để đảm bảo hoạt động điều hành liên tục, Hội đồng Quản trị giao ông Phạm Linh - Phó Tổng Giám đốc phụ trách điều hành Vietbank cho đến khi có quyết định nhân sự mới. Đây được xem là bước kiện toàn bộ máy lãnh đạo trước thời điểm Vietbank chính thức giao dịch trên HOSE./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼200K 14,680 ▼220K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▼200K 13,400 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▼200K 13,350 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,200 ▼1800K 146,900 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▼150K 14,840 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,350 ▼200K 14,700 ▼200K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 ▼200K 14,590 ▼200K
Trang sức 99.99 13,900 ▼200K 14,600 ▼200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▼15K 14,842 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▼15K 14,843 ▼150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,444 ▼20K 1,479 ▼15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,444 ▼20K 148 ▼1347K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 ▼20K 1,459 ▼15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,455 ▼1486K 144,455 ▼1486K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,786 ▼1125K 109,586 ▼1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,572 ▼1020K 99,372 ▼1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,358 ▼915K 89,158 ▼915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,418 ▼875K 85,218 ▼875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,196 ▼626K 60,996 ▼626K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▼15K 1,484 ▼15K
Cập nhật: 13/07/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17689 17963 18538
CAD 18038 18313 18928
CHF 31815 32196 32838
CNY 0 3831 3924
EUR 29386 29606 30681
GBP 34361 34752 35684
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14864 15455
SGD 19778 20060 20632
THB 703 766 819
USD (1,2) 25991 0 0
USD (5,10,20) 26032 0 0
USD (50,100) 26061 26075 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,540 29,564 30,972
JPY 157.6 157.88 167.43
GBP 34,565 34,659 35,850
AUD 17,900 17,965 18,644
CAD 18,234 18,293 18,967
CHF 32,101 32,201 33,157
SGD 19,906 19,968 20,752
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.19 16.88 18.37
THB 751.28 760.56 813.98
NZD 14,859 14,997 15,444
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,642 2,740
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,024.54 - 6,800.66
TWD 739.3 - 894.99
SAR - 6,877.37 7,243.3
KWD - 83,069 88,379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,080 26,460
EUR 29,367 29,485 30,675
GBP 34,506 34,645 35,674
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 32,862 31,990 32,917
JPY 157.99 158.62 166.54
AUD 17,865 17,937 18,530
SGD 19,956 20,036 20,623
THB 767 770 807
CAD 18,205 18,278 18,850
NZD 14,863 15,404
KRW 16.72 18.50
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26055 26055 26481
AUD 17872 17972 18897
CAD 18217 18317 19331
CHF 32067 32097 33675
CNY 3811.9 3836.9 3972.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29571 29601 31324
GBP 34657 34707 36475
HKD 0 3355 0
JPY 158.45 158.95 169.49
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14976 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19936 20066 20794
THB 0 732.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 15100000
SBJ 13000000 13000000 15100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 17,927 18,027 19,134
EUR 29,384 29,484 31,140
CAD 18,173 18,273 19,579
SGD 20,019 20,169 20,723
JPY 158.93 160.43 166
GBP 34,578 34,728 35,790
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/07/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80