Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao

Ánh Tuyết
(TBTCO) - PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nợ xấu tăng nhanh hơn tín dụng là tín hiệu cho thấy phải ưu tiên chất lượng tăng trưởng. Kiểm soát tốt chất lượng tài sản, ưu tiên các giải pháp trọng tâm giúp hệ thống ngân hàng có nền tảng lành mạnh hơn để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng cao những năm tới, mà không tạo ra rủi ro tài chính lớn về sau.
aa

PV: Chỉ trong quý đầu năm, nợ xấu nhóm ngân hàng niêm yết tăng 10,6%, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng cho vay khách hàng khoảng 3,6%. Theo ông, đâu là những rủi ro mà hệ thống ngân hàng phải lưu ý?

Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao
PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Diễn biến nợ xấu tăng nhanh hơn nhiều so với tăng trưởng tín dụng là tín hiệu cần đặc biệt lưu ý, bởi cho thấy chất lượng hấp thụ vốn của nền kinh tế đang có dấu hiệu suy yếu, trong khi áp lực trả nợ của doanh nghiệp và người dân còn lớn. Điều này cũng phản ánh rủi ro tín dụng đang tích tụ nhanh hơn tốc độ mở rộng tài sản sinh lời của ngân hàng.

Rủi ro đầu tiên là áp lực suy giảm chất lượng tài sản sẽ lan rộng từ một số lĩnh vực sang toàn hệ thống, nếu nền kinh tế phục hồi không đồng đều. Hiện nhóm chịu áp lực lớn nhất vẫn là bất động sản, xây dựng, doanh nghiệp phát hành trái phiếu, doanh nghiệp vừa và nhỏ có dòng tiền yếu và một phần tín dụng tiêu dùng. Khi sức cầu thị trường chưa phục hồi hoàn toàn, chi phí vốn cao tương đối và dòng tiền doanh nghiệp chậm cải thiện, khả năng phát sinh nợ nhóm 2 và nợ tái cơ cấu chuyển thành nợ xấu là khá lớn.

Thứ hai, áp lực trích lập dự phòng sẽ gia tăng mạnh. Khi nợ xấu tăng nhanh, ngân hàng buộc phải tăng chi phí dự phòng, từ đó, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, khả năng tăng vốn tự có và hệ số an toàn vốn (CAR). Điều này đặc biệt đáng chú ý khi Việt Nam đang tiến tới chuẩn Basel III với yêu cầu vốn và thanh khoản cao hơn. Nếu lợi nhuận bị bào mòn bởi dự phòng, khả năng mở rộng tín dụng của ngân hàng cũng sẽ bị hạn chế.

Ngoài ra, còn có rủi ro “che giấu nợ xấu” thông qua đảo nợ, cơ cấu nợ kéo dài hoặc giãn thời gian ghi nhận rủi ro. Trong ngắn hạn, các biện pháp này có thể giúp doanh nghiệp vượt khó và giảm áp lực lên hệ thống. Tuy nhiên, nếu kéo dài quá lâu, nợ xấu tiềm ẩn có thể tích tụ và tạo ra cú sốc lớn hơn về sau. Bài học của nhiều quốc gia cho thấy khủng hoảng ngân hàng thường không đến từ nợ xấu được nhận diện, mà đến từ nợ xấu bị trì hoãn ghi nhận quá lâu.

Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao
Khi nợ xấu tăng nhanh, ngân hàng buộc phải tăng chi phí dự phòng. Ảnh: Đức Thanh

PV: Trong bối cảnh nợ xấu có dấu hiệu tăng trở lại từ đầu năm, trong khi Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP ở mức cao giữa môi trường kinh tế toàn cầu còn nhiều bất ổn, theo ông, đâu là áp lực lớn nhất đối với ngành ngân hàng trong việc cân bằng giữa yêu cầu mở rộng tín dụng hỗ trợ tăng trưởng và mục tiêu kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống, phát triển bền vững?

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Thách thức lớn nằm ở bài toán cân bằng giữa tăng trưởng tín dụng và an toàn hệ thống. Khi nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao, áp lực mở rộng tín dụng là rất lớn.

Nếu tín dụng tăng quá nhanh và chảy vào các lĩnh vực rủi ro như: bất động sản đầu cơ, tài sản tài chính hay các dự án kém hiệu quả, nguy cơ nợ xấu và bất ổn tài chính sẽ gia tăng. Bài học của nhiều quốc gia cho thấy, tăng trưởng nóng dựa quá nhiều vào tín dụng có thể tạo ra bong bóng tài sản và gây hệ lụy kéo dài cho hệ thống ngân hàng.

Ngân hàng giữ vai trò “hệ tuần hoàn” của nền kinh tế

“Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số là một tham vọng rất lớn nhưng hoàn toàn có cơ sở nếu Việt Nam tận dụng được giai đoạn tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, làn sóng dịch chuyển vốn đầu tư và quá trình chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ. Trong bối cảnh đó, ngành ngân hàng sẽ đóng vai trò giống như “hệ tuần hoàn” của nền kinh tế, tức vừa phải cung cấp vốn cho tăng trưởng, vừa phải giữ ổn định tài chính vĩ mô và kiểm soát rủi ro hệ thống”.

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân

Ngoài ra, bối cảnh quốc tế hiện cũng tạo nhiều sức ép. Lãi suất toàn cầu ở mức cao tương đối, rủi ro địa chính trị gia tăng, xu hướng bảo hộ thương mại quay trở lại và biến động tỷ giá quốc tế có thể ảnh hưởng đến thanh khoản, chi phí vốn và tỷ giá trong nước. Điều này buộc ngành ngân hàng phải điều hành linh hoạt để vừa hỗ trợ doanh nghiệp, vừa giữ ổn định lạm phát và tỷ giá.

Một thách thức khác là yêu cầu phát triển bền vững và chuẩn hóa quốc tế ngày càng cao. Trong tương lai, ngân hàng không chỉ cho vay dựa trên tài sản đảm bảo, mà còn phải đánh giá các yếu tố môi trường, xã hội và quản trị doanh nghiệp (ESG), phát thải carbon, tính minh bạch và khả năng thích ứng của doanh nghiệp với kinh tế xanh. Điều này đòi hỏi hệ thống ngân hàng phải thay đổi mạnh về quản trị rủi ro, chuẩn Basel, công nghệ dữ liệu và năng lực nhân sự.

PV: Bên cạnh những áp lực và thách thức đang đặt ra, theo ông, đâu sẽ là những động lực và cơ hội có thể giúp ngành ngân hàng bứt phá trong giai đoạn tới?

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Cơ hội lớn nhất của ngành ngân hàng hiện nay là nhu cầu vốn của nền kinh tế đang rất lớn. Khi Chính phủ thúc đẩy đầu tư công, hạ tầng chiến lược, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, công nghệ cao hay các động lực tăng trưởng mới như: trung tâm tài chính quốc tế, công nghệ tài chính (fintech), trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn…, hệ thống ngân hàng sẽ có cơ hội mở rộng tín dụng, phát triển dịch vụ tài chính hiện đại và nâng cao vai trò trung gian tài chính.

Đây cũng là thời điểm để các ngân hàng chuyển đổi mô hình từ ngân hàng truyền thống sang ngân hàng số, ngân hàng dữ liệu và hệ sinh thái tài chính tích hợp. Nếu tận dụng tốt công nghệ AI, dữ liệu lớn và ngân hàng mở (open banking), ngành ngân hàng có thể nâng mạnh năng suất lao động, giảm chi phí vận hành và mở rộng khả năng tiếp cận tài chính cho doanh nghiệp và người dân.

PV: Theo ông, đâu là những giải pháp trọng tâm để vừa kiểm soát chất lượng tài sản, vừa duy trì tăng trưởng tín dụng bền vững trong giai đoạn tới?

PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân: Để vừa kiểm soát chất lượng tài sản vừa duy trì tăng trưởng tín dụng bền vững, cần ưu tiên một số giải pháp trọng tâm.

Thứ nhất, phải chuyển mạnh từ tăng trưởng tín dụng theo quy mô sang tăng trưởng theo chất lượng và dòng tiền thực. Ngân hàng cần tập trung vốn vào các lĩnh vực tạo ra giá trị gia tăng và dòng tiền ổn định như: sản xuất, xuất khẩu, hạ tầng, logistics, công nghệ, chuyển đổi xanh và doanh nghiệp có năng lực tài chính minh bạch, thay vì quá phụ thuộc vào tài sản đảm bảo.

Thứ hai, cần nâng chuẩn quản trị rủi ro theo hướng dữ liệu và cảnh báo sớm. Trong giai đoạn tới, AI và phân tích dữ liệu lớn sẽ đóng vai trò rất quan trọng trong việc theo dõi dòng tiền, sức khỏe doanh nghiệp và khả năng trả nợ theo thời gian thực. Ngân hàng nào có hệ thống quản trị rủi ro tốt sẽ kiểm soát nợ xấu hiệu quả hơn rất nhiều.

Thứ ba, cần xử lý dứt điểm các khoản nợ yếu thay vì kéo dài tình trạng “nuôi nợ”. Điều này đòi hỏi phải phát triển thị trường mua bán nợ chuyên nghiệp hơn, nâng vai trò của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), đồng thời hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến xử lý tài sản bảo đảm và tái cấu trúc doanh nghiệp.

Thứ tư, về góc độ vĩ mô, Việt Nam cần giảm phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng. Khi nền kinh tế tăng trưởng cao nhưng thị trường vốn chưa phát triển tương xứng, toàn bộ áp lực tài trợ vốn sẽ dồn vào ngân hàng, từ đó, làm rủi ro hệ thống tăng lên. Vì vậy, cần phát triển mạnh thị trường trái phiếu, quỹ đầu tư, bảo hiểm, quỹ đầu tư bất động sản (REITs) và các kênh huy động vốn dài hạn; đồng thời, tận dụng các cơ chế mới như Trung tâm Tài chính quốc tế tại TP. Hồ Chí Minh (VIFC-HCMC), để thu hút thêm dòng vốn quốc tế.

PV: Xin cảm ơn ông!

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Công nghệ phải trở thành "động lực chủ yếu" của doanh nghiệp

Công nghệ phải trở thành "động lực chủ yếu" của doanh nghiệp

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, TS. Tô Hoài Nam - Phó Chủ tịch Thường trực kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) nhấn mạnh, sau hơn 1 năm triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, nhiều chính sách đã được ban hành đồng bộ, tạo động lực cho doanh nghiệp bứt phá từ ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Tăng sức hút với dòng vốn từ EU

Tăng sức hút với dòng vốn từ EU

(TBTCO) - Dòng vốn FDI từ EU còn rất nhiều tiềm năng, song điều quan trọng không chỉ là thu hút thêm vốn mà còn là thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nhà cung ứng trong nước, hình thành quan hệ đối tác đầu tư có chiều sâu... Phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Christian-Ludwig Weber-Lortsch, cựu Đại sứ Đức tại Việt Nam, thành viên Ban Cố vấn Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) xung quanh vấn đề này.
Cơ hội khơi thông dòng vốn dài hạn qua kênh trái phiếu

Cơ hội khơi thông dòng vốn dài hạn qua kênh trái phiếu

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Đỗ Lê Thành Đạt - Phó Giám đốc, Chuyên gia phân tích Khối Xếp hạng tín nhiệm và Nghiên cứu của VIS Rating nhận định, phát triển trái phiếu hạ tầng, nâng cao tính minh bạch và khả năng định giá rủi ro sẽ góp phần mở rộng cơ hội huy động vốn dài hạn từ các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Đầu tư công: Đòn bẩy cho cú “bứt tốc” chặng nước rút

Đầu tư công: Đòn bẩy cho cú “bứt tốc” chặng nước rút

(TBTCO) - Đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công gắn với khơi thông nguồn vốn tư nhân sẽ tạo lực đẩy cho tăng trưởng kinh tế trong chặng nước rút năm 2026. Theo TS. Nguyễn Văn Hiến - chuyên gia kinh tế, nguyên Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Tài chính - Marketing (Bộ Tài chính), cần tháo gỡ điểm nghẽn trong triển khai dự án, đồng thời phối hợp hiệu quả chính sách tài khóa và tiền tệ để phát huy tối đa các nguồn lực.
Minh bạch là chìa khóa để tăng độ phủ bảo hiểm nhúng

Minh bạch là chìa khóa để tăng độ phủ bảo hiểm nhúng

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng mở ra dư địa tăng trưởng nhờ tích hợp vào giao dịch số, bán theo khoảnh khắc, thay vì sản phẩm. Theo ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Bảo hiểm và Quản trị rủi ro tài chính (IFRM), lợi thế tiếp cận khách hàng của ngân hàng càng lớn, yêu cầu minh bạch và bảo vệ quyền lựa chọn càng cấp thiết, tránh chạy theo “độ phủ” mà bỏ quên “độ hiểu”.
Nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, mở cơ hội tiếp cận vốn quốc tế

Nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia, mở cơ hội tiếp cận vốn quốc tế

(TBTCO) - "Việc cải thiện tín nhiệm quốc gia mở thêm cơ hội tiếp cận vốn quốc tế, trong khi chất lượng doanh nghiệp và tính minh bạch là những yếu tố quan trọng để thu hút dòng vốn dài hạn vào thị trường chứng khoán" - ông Tyler Nguyễn Mạnh Dũng - Giám đốc cấp cao Nghiên cứu Chiến lược thị trường, Công ty cổ phần Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HSC) cho biết khi trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư.
Doanh nhân đảng viên: Bình đẳng trong kinh doanh, nêu gương về trách nhiệm

Doanh nhân đảng viên: Bình đẳng trong kinh doanh, nêu gương về trách nhiệm

(TBTCO) - Đổi mới quy định về đảng viên làm kinh tế tư nhân cần hướng tới giải phóng nguồn lực phát triển, bảo đảm quyền kinh doanh bình đẳng, đồng thời ngăn ngừa việc lợi dụng quyền lực công để trục lợi cá nhân. Đây là khẳng định của TS. Nguyễn Quốc Việt - chuyên gia chính sách công, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế và chính sách (VEPR) khi trả lời phỏng vấn của Báo Tài chính - Đầu tư.
Nâng hiệu quả sử dụng vốn để đạt tăng trưởng hai con số

Nâng hiệu quả sử dụng vốn để đạt tăng trưởng hai con số

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, PGS.TS Ngô Trí Long - chuyên gia kinh tế, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam cho rằng, kinh tế Việt Nam bước vào quý IV/2026 với đà tăng trưởng tích cực, nhưng đồng thời chịu sức ép lớn hơn từ giá cả và yêu cầu huy động nguồn lực cho phát triển. Để phấn đấu đạt tăng trưởng hai con số, điều hành kinh tế cần vừa thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, vừa bảo đảm ổn định vĩ mô và nâng cao hiệu quả đầu tư.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều