Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
aa

Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Dự kiến tín dụng tăng tới 20%, Ngân hàng Nhà nước lưu ý kiểm soát chất lượng nợ vay

Nợ nhóm 5 tăng 12,7%, nhiều ngân hàng “lội ngược dòng” kéo giảm nợ xấu

Bức tranh nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) của 27 ngân hàng niêm yết cuối quý I/2026 cho thấy áp lực nợ khó thu hồi vẫn ở mức cao, dù nhiều nhà băng đã ghi nhận xu hướng cải thiện rõ rệt.

Theo đó, tổng quy mô nợ xấu nhóm 5 đạt khoảng 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 nhóm khảo sát. So với cuối năm 2025, nợ nhóm 5 chỉ tăng nhẹ 0,3%, trong khi tăng 12,7% so với cùng kỳ quý I/2025.

“Ngược dòng” xu hướng tăng toàn ngành, có 12/27 nhà băng trong nhóm khảo sát đã ghi nhận xu hướng suy giảm nợ có khả năng mất vốn, cho thấy nỗ lực đẩy mạnh xử lý nợ xấu và thu hồi tài sản bảo đảm tại nhiều ngân hàng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Xét về quy mô tuyệt đối, Sacombank đang dẫn đầu hệ thống với 30.546,7 tỷ đồng nợ nhóm 5, tăng 2,1% so với cuối năm 2025, nhưng tăng tới 206,7% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nợ có khả năng mất vốn chiếm tới 73,6% tổng nợ xấu của ngân hàng này, cho thấy phần lớn nợ xấu đã chuyển sang nhóm khó thu hồi nhất.

8 ngân hàng kéo giảm nợ nhóm 5 sau một quý

Điểm tích cực là có 8 nhà băng chứng kiến sự cải thiện nợ xấu khá rõ nét trong quý đầu năm. Theo đó, so với cuối năm 2025, VietinBank là trường hợp nổi bật nhất khi nợ nhóm 5 giảm 40%; Vietcombank giảm 4,3%; VIB giảm 3,9%; Eximbank giảm 3,4%; ACB giảm 2,9%; PGBank giảm 1,9%; Techcombank giảm 0,5%.

Thông tin từ Sacombank cho thấy, năm 2025, ngân hàng đã đẩy mạnh thu hồi, xử lý hơn 17.000 tỷ đồng nợ xấu và tài sản tồn đọng, đóng góp hơn 10.700 tỷ đồng vào lợi nhuận, tạo điều kiện để tăng cường trích lập dự phòng rủi ro.

Liên quan đến tiến trình triển khai đề án tái cơ cấu, thời gian qua, ban lãnh đạo ngân hàng đã quyết liệt đấu giá các tài sản tồn đọng, thu hồi nợ ngoại bảng và xử lý dứt điểm trái phiếu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Mỗi đồng nợ xấu được thu hồi không chỉ làm sạch bảng cân đối, mà còn trực tiếp đưa dòng tiền tươi cho các hoạt động đầu tư mới, hoàn nhập và gia tăng lợi nhuận.

Tính đến cuối năm 2025, Sacombank đã giảm 86,2% nợ xấu và tài sản tồn đọng (81.928 tỷ đồng), nhờ đó giảm tỷ trọng trong tổng tài sản từ 28,1% xuống còn 1,4%. Đồng thời, hoàn tất thu hồi toàn bộ khoản nợ liên quan đến Khu công nghiệp Phong Phú.

Trong giai đoạn cuối của quá trình tái cơ cấu, quy mô tài sản và huy động Sacombank tăng trưởng khá mạnh, nhưng việc đẩy mạnh trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu tồn đọng đã ảnh hưởng đến lợi nhuận tổng thể của ngân hàng năm vừa qua.

Sau Sacombank, BIDV đứng thứ hai với 27.539,7 tỷ đồng, tăng 6,6% so với cuối năm 2025 nhưng giảm 1,4% so với cùng kỳ; tỷ lệ nợ nhóm 5 trong tổng nợ xấu ở mức 64,6%.

So sánh với cùng kỳ quý I/2025, bức tranh chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng cho thấy 12/27 ngân hàng “lội ngược dòng”, ghi nhận nợ có khả năng mất vốn giảm so với cùng kỳ năm trước.

Trong số đó, nhiều ngân hàng giảm rất mạnh như: ABBank là ngân hàng cải thiện mạnh nhất khi nợ nhóm 5 giảm tới 72,8% so với cùng kỳ năm trước. VietinBank giảm 25,9%; ACB giảm 24,4%; KienlongBank giảm 22,8%; NCB giảm 22,6%; Vietcombank giảm 21,2%.

Ngoài ra, PGBank giảm 12,7%; NamABank giảm 11,9%; VIB giảm 9,9%; BIDV giảm 1,4%; Eximbank giảm nhẹ 0,5%. Diễn biến này cho thấy nhiều ngân hàng đã đẩy mạnh xử lý nợ xấu, thu hồi tài sản bảo đảm và kiểm soát tốt hơn chất lượng tín dụng so với cùng kỳ năm trước.

Nợ có khả năng mất vốn chiếm áp đảo tại nhiều ngân hàng

Tuy nhiên, tỷ trọng nợ nhóm 5 trong tổng nợ xấu tại nhiều ngân hàng vẫn ở mức rất cao, có ngân hàng chiếm đến 95% tổng nợ xấu, tức gần như toàn bộ nợ xấu đã rơi vào nhóm có khả năng mất vốn. Tỷ trọng cao phản ánh phần lớn nợ xấu tại các ngân hàng này đã chuyển sang giai đoạn khó thu hồi, kéo theo áp lực lớn về trích lập dự phòng rủi ro.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng có tỷ lệ nợ nhóm 5 trong tổng nợ xấu thấp hơn đáng kể như: VPBank 29,3%; PGBank 33,6%... Điều này cho thấy cơ cấu nợ xấu của các ngân hàng này vẫn còn tỷ trọng lớn ở nhóm nợ dưới tiêu chuẩn hoặc nghi ngờ, chưa chuyển mạnh sang nhóm mất vốn.

Nợ xấu có khả năng mất vốn lao dốc 36,5%, phần lớn nhà băng cải thiện chất lượng tài sản
Nợ xấu nhóm 5 lao dốc xuống gần 170.000 tỷ đồng, áp lực vơi bớt tại nhiều ngân hàng. Ảnh minh họa.

Nợ xấu nhóm 5 là nhóm nợ có khả năng mất vốn cao nhất trong hệ thống phân loại nợ của ngân hàng, thường bao gồm khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên; hoặc khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra trên 60 ngày mà chưa thu hồi được...

Khi khách hàng bị xếp vào nợ xấu nhóm 5, ngân hàng buộc phải tăng mạnh trích lập dự phòng rủi ro để bù đắp nguy cơ không thu hồi được khoản vay. Việc phải dành nguồn lực lớn cho dự phòng khiến lợi nhuận ngân hàng bị ảnh hưởng trực tiếp, bởi chi phí dự phòng càng cao thì lợi nhuận càng bị thu hẹp tương ứng.

Do đó, các ngân hàng thường rất thận trọng và hầu như không chấp nhận cấp tín dụng đối với khách hàng đang thuộc nhóm nợ xấu nhóm 5.

Thông tin nợ xấu của khách vay được lưu trữ trên hệ thống của Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) trong thời hạn tối đa 5 năm kể từ ngày kết thúc thông tin nợ xấu. Do đó, nếu khách hàng thuộc nợ xấu nhóm 5, sau thời hạn bị lưu trữ thông tin về nợ xấu trên CIC, khi đã được xoá thông tin nợ xấu thì sẽ được xem xét, quyết định cho vay căn cứ vào điều kiện, chính sách của từng ngân hàng sau khi ngân hàng kiểm tra thông tin tín dụng./.

Chia sẻ gần đây, lãnh đạo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết nhiều quốc gia đã áp dụng các biện pháp mạnh đối với trường hợp nợ xấu và cố tình chây ì nghĩa vụ trả nợ như hạn chế xuất cảnh, hạn chế đi máy bay… Do đó, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam kiến nghị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với các trường hợp thuộc nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn cao, nhằm tăng tính ràng buộc trách nhiệm và thúc đẩy khách hàng tập trung xử lý nghĩa vụ nợ với ngân hàng./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 ▼30K 14,380 ▼30K
Trang sức 99.99 13,790 ▼30K 14,390 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/08/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,863 25,913 26,250
USD20 25,813 25,913 26,794
USD1 25,763 25,913 26,844
AUD 18,051 18,151 19,255
EUR 29,343 29,443 31,101
CAD 18,260 18,360 19,664
SGD 20,032 20,182 20,736
JPY 160.33 161.83 167.38
GBP 34,519 34,669 35,850
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80