Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
aa

Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Dự kiến tín dụng tăng tới 20%, Ngân hàng Nhà nước lưu ý kiểm soát chất lượng nợ vay

Nợ nhóm 5 tăng 12,7%, nhiều ngân hàng “lội ngược dòng” kéo giảm nợ xấu

Bức tranh nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) của 27 ngân hàng niêm yết cuối quý I/2026 cho thấy áp lực nợ khó thu hồi vẫn ở mức cao, dù nhiều nhà băng đã ghi nhận xu hướng cải thiện rõ rệt.

Theo đó, tổng quy mô nợ xấu nhóm 5 đạt khoảng 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 nhóm khảo sát. So với cuối năm 2025, nợ nhóm 5 chỉ tăng nhẹ 0,3%, trong khi tăng 12,7% so với cùng kỳ quý I/2025.

“Ngược dòng” xu hướng tăng toàn ngành, có 12/27 nhà băng trong nhóm khảo sát đã ghi nhận xu hướng suy giảm nợ có khả năng mất vốn, cho thấy nỗ lực đẩy mạnh xử lý nợ xấu và thu hồi tài sản bảo đảm tại nhiều ngân hàng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Xét về quy mô tuyệt đối, Sacombank đang dẫn đầu hệ thống với 30.546,7 tỷ đồng nợ nhóm 5, tăng 2,1% so với cuối năm 2025, nhưng tăng tới 206,7% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nợ có khả năng mất vốn chiếm tới 73,6% tổng nợ xấu của ngân hàng này, cho thấy phần lớn nợ xấu đã chuyển sang nhóm khó thu hồi nhất.

8 ngân hàng kéo giảm nợ nhóm 5 sau một quý

Điểm tích cực là có 8 nhà băng chứng kiến sự cải thiện nợ xấu khá rõ nét trong quý đầu năm. Theo đó, so với cuối năm 2025, VietinBank là trường hợp nổi bật nhất khi nợ nhóm 5 giảm 40%; Vietcombank giảm 4,3%; VIB giảm 3,9%; Eximbank giảm 3,4%; ACB giảm 2,9%; PGBank giảm 1,9%; Techcombank giảm 0,5%.

Thông tin từ Sacombank cho thấy, năm 2025, ngân hàng đã đẩy mạnh thu hồi, xử lý hơn 17.000 tỷ đồng nợ xấu và tài sản tồn đọng, đóng góp hơn 10.700 tỷ đồng vào lợi nhuận, tạo điều kiện để tăng cường trích lập dự phòng rủi ro.

Liên quan đến tiến trình triển khai đề án tái cơ cấu, thời gian qua, ban lãnh đạo ngân hàng đã quyết liệt đấu giá các tài sản tồn đọng, thu hồi nợ ngoại bảng và xử lý dứt điểm trái phiếu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Mỗi đồng nợ xấu được thu hồi không chỉ làm sạch bảng cân đối, mà còn trực tiếp đưa dòng tiền tươi cho các hoạt động đầu tư mới, hoàn nhập và gia tăng lợi nhuận.

Tính đến cuối năm 2025, Sacombank đã giảm 86,2% nợ xấu và tài sản tồn đọng (81.928 tỷ đồng), nhờ đó giảm tỷ trọng trong tổng tài sản từ 28,1% xuống còn 1,4%. Đồng thời, hoàn tất thu hồi toàn bộ khoản nợ liên quan đến Khu công nghiệp Phong Phú.

Trong giai đoạn cuối của quá trình tái cơ cấu, quy mô tài sản và huy động Sacombank tăng trưởng khá mạnh, nhưng việc đẩy mạnh trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu tồn đọng đã ảnh hưởng đến lợi nhuận tổng thể của ngân hàng năm vừa qua.

Sau Sacombank, BIDV đứng thứ hai với 27.539,7 tỷ đồng, tăng 6,6% so với cuối năm 2025 nhưng giảm 1,4% so với cùng kỳ; tỷ lệ nợ nhóm 5 trong tổng nợ xấu ở mức 64,6%.

So sánh với cùng kỳ quý I/2025, bức tranh chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng cho thấy 12/27 ngân hàng “lội ngược dòng”, ghi nhận nợ có khả năng mất vốn giảm so với cùng kỳ năm trước.

Trong số đó, nhiều ngân hàng giảm rất mạnh như: ABBank là ngân hàng cải thiện mạnh nhất khi nợ nhóm 5 giảm tới 72,8% so với cùng kỳ năm trước. VietinBank giảm 25,9%; ACB giảm 24,4%; KienlongBank giảm 22,8%; NCB giảm 22,6%; Vietcombank giảm 21,2%.

Ngoài ra, PGBank giảm 12,7%; NamABank giảm 11,9%; VIB giảm 9,9%; BIDV giảm 1,4%; Eximbank giảm nhẹ 0,5%. Diễn biến này cho thấy nhiều ngân hàng đã đẩy mạnh xử lý nợ xấu, thu hồi tài sản bảo đảm và kiểm soát tốt hơn chất lượng tín dụng so với cùng kỳ năm trước.

Nợ có khả năng mất vốn chiếm áp đảo tại nhiều ngân hàng

Tuy nhiên, tỷ trọng nợ nhóm 5 trong tổng nợ xấu tại nhiều ngân hàng vẫn ở mức rất cao, có ngân hàng chiếm đến 95% tổng nợ xấu, tức gần như toàn bộ nợ xấu đã rơi vào nhóm có khả năng mất vốn. Tỷ trọng cao phản ánh phần lớn nợ xấu tại các ngân hàng này đã chuyển sang giai đoạn khó thu hồi, kéo theo áp lực lớn về trích lập dự phòng rủi ro.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng có tỷ lệ nợ nhóm 5 trong tổng nợ xấu thấp hơn đáng kể như: VPBank 29,3%; PGBank 33,6%... Điều này cho thấy cơ cấu nợ xấu của các ngân hàng này vẫn còn tỷ trọng lớn ở nhóm nợ dưới tiêu chuẩn hoặc nghi ngờ, chưa chuyển mạnh sang nhóm mất vốn.

Nợ xấu có khả năng mất vốn lao dốc 36,5%, phần lớn nhà băng cải thiện chất lượng tài sản
Nợ xấu nhóm 5 lao dốc xuống gần 170.000 tỷ đồng, áp lực vơi bớt tại nhiều ngân hàng. Ảnh minh họa.

Nợ xấu nhóm 5 là nhóm nợ có khả năng mất vốn cao nhất trong hệ thống phân loại nợ của ngân hàng, thường bao gồm khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên; hoặc khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra trên 60 ngày mà chưa thu hồi được...

Khi khách hàng bị xếp vào nợ xấu nhóm 5, ngân hàng buộc phải tăng mạnh trích lập dự phòng rủi ro để bù đắp nguy cơ không thu hồi được khoản vay. Việc phải dành nguồn lực lớn cho dự phòng khiến lợi nhuận ngân hàng bị ảnh hưởng trực tiếp, bởi chi phí dự phòng càng cao thì lợi nhuận càng bị thu hẹp tương ứng.

Do đó, các ngân hàng thường rất thận trọng và hầu như không chấp nhận cấp tín dụng đối với khách hàng đang thuộc nhóm nợ xấu nhóm 5.

Thông tin nợ xấu của khách vay được lưu trữ trên hệ thống của Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) trong thời hạn tối đa 5 năm kể từ ngày kết thúc thông tin nợ xấu. Do đó, nếu khách hàng thuộc nợ xấu nhóm 5, sau thời hạn bị lưu trữ thông tin về nợ xấu trên CIC, khi đã được xoá thông tin nợ xấu thì sẽ được xem xét, quyết định cho vay căn cứ vào điều kiện, chính sách của từng ngân hàng sau khi ngân hàng kiểm tra thông tin tín dụng./.

Chia sẻ gần đây, lãnh đạo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết nhiều quốc gia đã áp dụng các biện pháp mạnh đối với trường hợp nợ xấu và cố tình chây ì nghĩa vụ trả nợ như hạn chế xuất cảnh, hạn chế đi máy bay… Do đó, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam kiến nghị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với các trường hợp thuộc nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn cao, nhằm tăng tính ràng buộc trách nhiệm và thúc đẩy khách hàng tập trung xử lý nghĩa vụ nợ với ngân hàng./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

Các chỉ tiêu bảo hiểm xã hội tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực

(TBTCO) - Trong 5 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Tài chính, triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ chính trị được giao, đạt nhiều kết quả tích cực trên các lĩnh vực công tác.
Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

Lập hattrick tại The Asian Banker 2026: Dấu ấn công nghệ của TPBank trong dòng chảy kinh tế số

(TBTCO) - Lập "hattrick" công nghệ tại The Asian Banker 2026, TPBank khẳng định chiến lược đúng đắn khi đưa trí tuệ nhân tạo (AI) và số hóa vào tối ưu hóa năng lực vận hành, nâng tầm trải nghiệm khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

Tỷ giá USD hôm nay (12/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.155 đồng, ECB tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023

(TBTCO) - Sáng 12/6, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.155 đồng, tăng 2 đồng; tỷ giá USD tự do giao dịch thấp hơn mức niêm yết tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 99,78 điểm khi kỳ vọng hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông cải thiện tâm lý nhà đầu tư, trong bối cảnh Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất, còn ECB vừa tăng lãi suất lần đầu từ năm 2023.
Áp lực tỷ giá và bài toán hấp thụ vốn của nền kinh tế

Áp lực tỷ giá và bài toán hấp thụ vốn của nền kinh tế

(TBTCO) - Áp lực tỷ giá, lạm phát và thanh khoản đang thu hẹp dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ. Trong khi đó, bài toán lớn của nền kinh tế hiện nay không chỉ là nguồn vốn, mà còn là khả năng hấp thụ vốn hiệu quả.
Đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải đảm bảo yêu cầu về trách nhiệm tài chính

Đại lý thu bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế phải đảm bảo yêu cầu về trách nhiệm tài chính

(TBTCO) - Tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp (trước đây gọi là đại lý thu) phải bảo đảm nguồn lực tài chính, không chậm đóng, trốn đóng tại thời điểm xem xét lựa chọn; có trách nhiệm bồi hoàn trong trường hợp để xảy ra thất thoát, nộp không đúng hạn hoặc gây ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia.
Hải Phòng đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội

Hải Phòng đẩy mạnh chuyển đổi số trong thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Sau gần một năm thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, việc triển khai chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trên địa bàn TP. Hải Phòng đã đạt nhiều kết quả tích cực. Trong đó, công tác cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số được đẩy mạnh.
Manulife phát triển đội ngũ tư vấn tài chính - bảo hiểm thế hệ mới

Manulife phát triển đội ngũ tư vấn tài chính - bảo hiểm thế hệ mới

(TBTCO) - Được Manulife thiết kế dành riêng cho những người mong muốn phát triển sự nghiệp một cách chuyên nghiệp và bền vững, chương trình tuyển dụng Tư vấn Tài chính - Bảo hiểm “Đại sứ Xanh Phú Quý” hỗ trợ ứng viên chuyển đổi nghề nghiệp và xây dựng năng lực tư vấn toàn diện.
MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc tại TP. Hồ Chí Minh

MBV thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc tại TP. Hồ Chí Minh

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc tại TP. Hồ Chí Minh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,290 ▲950K 14,590 ▲750K
Kim TT/AVPL 14,300 ▲960K 14,600 ▲760K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▲960K 14,600 ▲760K
Nguyên Liệu 99.99 13,600 ▲500K 13,800 ▲500K
Nguyên Liệu 99.9 13,550 ▲500K 13,750 ▲500K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,050 ▲800K 14,450 ▲800K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,000 ▲800K 14,400 ▲800K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,930 ▲800K 14,380 ▲800K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,400 ▲9000K 145,400 ▲7000K
Hà Nội - PNJ 142,400 ▲9000K 145,400 ▲7000K
Đà Nẵng - PNJ 142,400 ▲9000K 145,400 ▲7000K
Miền Tây - PNJ 142,400 ▲9000K 145,400 ▲7000K
Tây Nguyên - PNJ 142,400 ▲9000K 145,400 ▲7000K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,400 ▲9000K 145,400 ▲7000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,240 ▲900K 14,540 ▲700K
Miếng SJC Nghệ An 14,240 ▲900K 14,540 ▲700K
Miếng SJC Thái Bình 14,240 ▲900K 14,540 ▲700K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,240 ▲900K 14,540 ▲700K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,240 ▲900K 14,540 ▲700K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,240 ▲900K 14,540 ▲700K
NL 99.90 13,050 ▲350K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▲350K
Trang sức 99.9 13,730 ▲700K 14,430 ▲700K
Trang sức 99.99 13,740 ▲700K 14,440 ▲700K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,424 ▲90K 14,542 ▲700K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,424 ▲90K 14,543 ▲700K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,423 ▲90K 1,453 ▲70K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,423 ▲90K 1,454 ▲70K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,403 ▲90K 1,438 ▲70K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▲6930K 142,376 ▲6930K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,511 ▲89185K 108,011 ▲97735K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,444 ▲4761K 97,944 ▲4761K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,377 ▲4271K 87,877 ▲4271K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,494 ▲4082K 83,994 ▲4082K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,621 ▲2920K 60,121 ▲2920K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▲90K 1,454 ▲70K
Cập nhật: 12/06/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18004 18279 18855
CAD 18282 18558 19179
CHF 32418 32801 33451
CNY 0 3850 3943
EUR 29841 30063 31147
GBP 34501 34893 35834
HKD 0 3226 3429
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 15041 15631
SGD 19957 20239 20819
THB 720 783 837
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,412
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 29,989 30,013 31,325
JPY 160.01 160.3 169.32
GBP 34,712 34,806 35,867
AUD 18,203 18,269 18,886
CAD 18,518 18,577 19,187
CHF 32,707 32,809 33,646
SGD 20,094 20,156 20,869
CNY - 3,825 3,956
HKD 3,298 3,308 3,433
KRW 15.98 16.67 18.06
THB 766.48 775.95 827.55
NZD 15,009 15,148 15,536
SEK - 2,742 2,828
DKK - 4,012 4,138
NOK - 2,726 2,811
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,069.64 - 6,823.74
TWD 752.62 - 908.21
SAR - 6,905.98 7,245.63
KWD - 83,539 88,540
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,412
EUR 29,898 30,018 31,205
GBP 34,676 34,815 35,833
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,520 32,651 33,566
JPY 160.23 160.87 168.69
AUD 18,194 18,267 18,859
SGD 20,143 20,224 20,808
THB 783 786 821
CAD 18,497 18,571 19,136
NZD 15,083 15,619
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26142 26142 26412
AUD 18185 18285 19210
CAD 18465 18565 19579
CHF 32668 32698 34276
CNY 3830.9 3855.9 3991.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30024 30054 31779
GBP 34804 34854 36615
HKD 0 3355 0
JPY 160.85 161.35 171.89
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15151 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20119 20249 20977
THB 0 750 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 12000000 12000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,412
USD20 26,155 26,205 26,412
USD1 23,898 26,205 26,412
AUD 18,217 18,317 19,424
EUR 30,148 30,148 31,556
CAD 18,432 18,532 19,839
SGD 20,178 20,328 20,889
JPY 161.24 162.74 167.3
GBP 34,691 35,041 35,898
XAU 14,238,000 0 14,542,000
CNY 0 0 0
THB 0 0 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/06/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80