Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
aa

Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Dự kiến tín dụng tăng tới 20%, Ngân hàng Nhà nước lưu ý kiểm soát chất lượng nợ vay

Nợ nhóm 5 tăng 12,7%, nhiều ngân hàng “lội ngược dòng” kéo giảm nợ xấu

Bức tranh nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) của 27 ngân hàng niêm yết cuối quý I/2026 cho thấy áp lực nợ khó thu hồi vẫn ở mức cao, dù nhiều nhà băng đã ghi nhận xu hướng cải thiện rõ rệt.

Theo đó, tổng quy mô nợ xấu nhóm 5 đạt khoảng 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 nhóm khảo sát. So với cuối năm 2025, nợ nhóm 5 chỉ tăng nhẹ 0,3%, trong khi tăng 12,7% so với cùng kỳ quý I/2025.

“Ngược dòng” xu hướng tăng toàn ngành, có 12/27 nhà băng trong nhóm khảo sát đã ghi nhận xu hướng suy giảm nợ có khả năng mất vốn, cho thấy nỗ lực đẩy mạnh xử lý nợ xấu và thu hồi tài sản bảo đảm tại nhiều ngân hàng.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Xét về quy mô tuyệt đối, Sacombank đang dẫn đầu hệ thống với 30.546,7 tỷ đồng nợ nhóm 5, tăng 2,1% so với cuối năm 2025, nhưng tăng tới 206,7% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, nợ có khả năng mất vốn chiếm tới 73,6% tổng nợ xấu của ngân hàng này, cho thấy phần lớn nợ xấu đã chuyển sang nhóm khó thu hồi nhất.

8 ngân hàng kéo giảm nợ nhóm 5 sau một quý

Điểm tích cực là có 8 nhà băng chứng kiến sự cải thiện nợ xấu khá rõ nét trong quý đầu năm. Theo đó, so với cuối năm 2025, VietinBank là trường hợp nổi bật nhất khi nợ nhóm 5 giảm 40%; Vietcombank giảm 4,3%; VIB giảm 3,9%; Eximbank giảm 3,4%; ACB giảm 2,9%; PGBank giảm 1,9%; Techcombank giảm 0,5%.

Thông tin từ Sacombank cho thấy, năm 2025, ngân hàng đã đẩy mạnh thu hồi, xử lý hơn 17.000 tỷ đồng nợ xấu và tài sản tồn đọng, đóng góp hơn 10.700 tỷ đồng vào lợi nhuận, tạo điều kiện để tăng cường trích lập dự phòng rủi ro.

Liên quan đến tiến trình triển khai đề án tái cơ cấu, thời gian qua, ban lãnh đạo ngân hàng đã quyết liệt đấu giá các tài sản tồn đọng, thu hồi nợ ngoại bảng và xử lý dứt điểm trái phiếu tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Mỗi đồng nợ xấu được thu hồi không chỉ làm sạch bảng cân đối, mà còn trực tiếp đưa dòng tiền tươi cho các hoạt động đầu tư mới, hoàn nhập và gia tăng lợi nhuận.

Tính đến cuối năm 2025, Sacombank đã giảm 86,2% nợ xấu và tài sản tồn đọng (81.928 tỷ đồng), nhờ đó giảm tỷ trọng trong tổng tài sản từ 28,1% xuống còn 1,4%. Đồng thời, hoàn tất thu hồi toàn bộ khoản nợ liên quan đến Khu công nghiệp Phong Phú.

Trong giai đoạn cuối của quá trình tái cơ cấu, quy mô tài sản và huy động Sacombank tăng trưởng khá mạnh, nhưng việc đẩy mạnh trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu tồn đọng đã ảnh hưởng đến lợi nhuận tổng thể của ngân hàng năm vừa qua.

Sau Sacombank, BIDV đứng thứ hai với 27.539,7 tỷ đồng, tăng 6,6% so với cuối năm 2025 nhưng giảm 1,4% so với cùng kỳ; tỷ lệ nợ nhóm 5 trong tổng nợ xấu ở mức 64,6%.

So sánh với cùng kỳ quý I/2025, bức tranh chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng cho thấy 12/27 ngân hàng “lội ngược dòng”, ghi nhận nợ có khả năng mất vốn giảm so với cùng kỳ năm trước.

Trong số đó, nhiều ngân hàng giảm rất mạnh như: ABBank là ngân hàng cải thiện mạnh nhất khi nợ nhóm 5 giảm tới 72,8% so với cùng kỳ năm trước. VietinBank giảm 25,9%; ACB giảm 24,4%; KienlongBank giảm 22,8%; NCB giảm 22,6%; Vietcombank giảm 21,2%.

Ngoài ra, PGBank giảm 12,7%; NamABank giảm 11,9%; VIB giảm 9,9%; BIDV giảm 1,4%; Eximbank giảm nhẹ 0,5%. Diễn biến này cho thấy nhiều ngân hàng đã đẩy mạnh xử lý nợ xấu, thu hồi tài sản bảo đảm và kiểm soát tốt hơn chất lượng tín dụng so với cùng kỳ năm trước.

Nợ có khả năng mất vốn chiếm áp đảo tại nhiều ngân hàng

Tuy nhiên, tỷ trọng nợ nhóm 5 trong tổng nợ xấu tại nhiều ngân hàng vẫn ở mức rất cao, có ngân hàng chiếm đến 95% tổng nợ xấu, tức gần như toàn bộ nợ xấu đã rơi vào nhóm có khả năng mất vốn. Tỷ trọng cao phản ánh phần lớn nợ xấu tại các ngân hàng này đã chuyển sang giai đoạn khó thu hồi, kéo theo áp lực lớn về trích lập dự phòng rủi ro.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng có tỷ lệ nợ nhóm 5 trong tổng nợ xấu thấp hơn đáng kể như: VPBank 29,3%; PGBank 33,6%... Điều này cho thấy cơ cấu nợ xấu của các ngân hàng này vẫn còn tỷ trọng lớn ở nhóm nợ dưới tiêu chuẩn hoặc nghi ngờ, chưa chuyển mạnh sang nhóm mất vốn.

Nợ xấu có khả năng mất vốn lao dốc 36,5%, phần lớn nhà băng cải thiện chất lượng tài sản
Nợ xấu nhóm 5 lao dốc xuống gần 170.000 tỷ đồng, áp lực vơi bớt tại nhiều ngân hàng. Ảnh minh họa.

Nợ xấu nhóm 5 là nhóm nợ có khả năng mất vốn cao nhất trong hệ thống phân loại nợ của ngân hàng, thường bao gồm khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 91 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên; hoặc khoản nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra nhưng quá thời hạn thu hồi theo kết luận thanh tra, kiểm tra trên 60 ngày mà chưa thu hồi được...

Khi khách hàng bị xếp vào nợ xấu nhóm 5, ngân hàng buộc phải tăng mạnh trích lập dự phòng rủi ro để bù đắp nguy cơ không thu hồi được khoản vay. Việc phải dành nguồn lực lớn cho dự phòng khiến lợi nhuận ngân hàng bị ảnh hưởng trực tiếp, bởi chi phí dự phòng càng cao thì lợi nhuận càng bị thu hẹp tương ứng.

Do đó, các ngân hàng thường rất thận trọng và hầu như không chấp nhận cấp tín dụng đối với khách hàng đang thuộc nhóm nợ xấu nhóm 5.

Thông tin nợ xấu của khách vay được lưu trữ trên hệ thống của Trung tâm thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC) trong thời hạn tối đa 5 năm kể từ ngày kết thúc thông tin nợ xấu. Do đó, nếu khách hàng thuộc nợ xấu nhóm 5, sau thời hạn bị lưu trữ thông tin về nợ xấu trên CIC, khi đã được xoá thông tin nợ xấu thì sẽ được xem xét, quyết định cho vay căn cứ vào điều kiện, chính sách của từng ngân hàng sau khi ngân hàng kiểm tra thông tin tín dụng./.

Chia sẻ gần đây, lãnh đạo Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết nhiều quốc gia đã áp dụng các biện pháp mạnh đối với trường hợp nợ xấu và cố tình chây ì nghĩa vụ trả nợ như hạn chế xuất cảnh, hạn chế đi máy bay… Do đó, Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam kiến nghị áp dụng biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với các trường hợp thuộc nợ nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn cao, nhằm tăng tính ràng buộc trách nhiệm và thúc đẩy khách hàng tập trung xử lý nghĩa vụ nợ với ngân hàng./.
Ánh Tuyết

Đọc thêm

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,350 ▲130K 16,650 ▲130K
Kim TT/AVPL 16,350 ▲130K 16,650 ▲130K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,350 ▲130K 16,650 ▲130K
Nguyên Liệu 99.99 15,400 ▲160K 15,600 ▲160K
Nguyên Liệu 99.9 15,350 ▲160K 15,550 ▲160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,150 ▲130K 16,550 ▲130K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,100 ▲130K 16,500 ▲130K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,030 ▲130K 16,480 ▲130K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,300 ▲1100K 166,300 ▲1100K
Hà Nội - PNJ 163,300 ▲1100K 166,300 ▲1100K
Đà Nẵng - PNJ 163,300 ▲1100K 166,300 ▲1100K
Miền Tây - PNJ 163,300 ▲1100K 166,300 ▲1100K
Tây Nguyên - PNJ 163,300 ▲1100K 166,300 ▲1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 163,300 ▲1100K 166,300 ▲1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,350 ▲130K 16,650 ▲130K
Miếng SJC Nghệ An 16,350 ▲130K 16,650 ▲130K
Miếng SJC Thái Bình 16,350 ▲130K 16,650 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,350 ▲130K 16,650 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,350 ▲130K 16,650 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,350 ▲130K 16,650 ▲130K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,840 ▲130K 16,540 ▲130K
Trang sức 99.99 15,850 ▲130K 16,550 ▲130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,635 ▲13K 1,665 ▲13K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,635 ▲13K 16,652 ▲130K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,635 ▲13K 16,653 ▲130K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,633 ▲16K 1,663 ▲16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,633 ▲16K 1,664 ▲16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,613 ▲15K 1,648 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 156,668 ▲1485K 163,168 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,862 ▲1125K 123,762 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,325 ▲1020K 112,225 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,788 ▲915K 100,688 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,338 ▲875K 96,238 ▲875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,978 ▲625K 68,878 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,635 ▲13K 1,665 ▲13K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,635 ▲13K 1,665 ▲13K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,635 ▲13K 1,665 ▲13K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,635 ▲13K 1,665 ▲13K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,635 ▲13K 1,665 ▲13K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,635 ▲13K 1,665 ▲13K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,635 ▲13K 1,665 ▲13K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,635 ▲13K 1,665 ▲13K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,635 ▲13K 1,665 ▲13K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,635 ▲13K 1,665 ▲13K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,635 ▲13K 1,665 ▲13K
Cập nhật: 12/05/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18507 18784 19357
CAD 18694 18972 19589
CHF 33108 33494 34144
CNY 0 3835 3927
EUR 30320 30594 31622
GBP 34960 35354 36288
HKD 0 3232 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15372 15957
SGD 20173 20457 20983
THB 730 793 846
USD (1,2) 26063 0 0
USD (5,10,20) 26104 0 0
USD (50,100) 26133 26152 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,520 30,544 31,831
JPY 162.92 163.21 172.12
GBP 35,227 35,322 36,349
AUD 18,743 18,811 19,417
CAD 18,921 18,982 19,577
CHF 33,443 33,547 34,351
SGD 20,343 20,406 21,099
CNY - 3,811 3,936
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.39 17.09 18.49
THB 778.1 787.71 839.07
NZD 15,386 15,529 15,902
SEK - 2,807 2,891
DKK - 4,085 4,206
NOK - 2,821 2,906
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,274.42 - 7,045.25
TWD 758.46 - 913.88
SAR - 6,916.36 7,245.5
KWD - 83,889 88,775
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26379
AUD 18685 18785 19708
CAD 18876 18976 19992
CHF 33363 33393 34975
CNY 3815.5 3840.5 3975.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30509 30539 32264
GBP 35264 35314 37074
HKD 0 3355 0
JPY 163.53 164.03 174.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15473 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20334 20464 21193
THB 0 758.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80