Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tổng nợ xấu của 27 ngân hàng niêm yết năm 2025 tăng 14,1%, lên gần 262.491 tỷ đồng, trong đó, nợ có khả năng mất vốn chiếm 63,5%. Dù bức tranh chung còn nhiều áp lực, vẫn xuất hiện điểm sáng khi 7 ngân hàng “ngược dòng” kéo giảm quy mô nợ xấu, nhiều nhà băng vẫn duy trì kỷ luật tín dụng và chủ động tăng trích lập dự phòng, chấp nhận ảnh hưởng lợi nhuận ngắn hạn.
aa

Nợ xấu chững lại cuối năm, 7 ngân hàng “ngược dòng” kéo giảm

Dựa trên khảo sát số liệu của 27 ngân hàng niêm yết, quy mô nợ xấu nhóm 3 - 5 năm 2025 tiếp tục tăng cho thấy áp lực lên chất lượng tài sản của hệ thống vẫn đáng chú ý. Tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 các ngân hàng trong diện khảo sát đạt gần 262.491 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ, tương ứng tăng thêm gần 32.445 tỷ đồng.

Trong đó, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) đạt 166.706,6 tỷ đồng, tăng 25,9% và tỷ trọng tăng lên 63,5%. Đáng chú ý, cấu trúc nợ xấu vẫn tập trung ở nhóm nợ có khả năng mất vốn, với tỷ trọng trên 70 - 90% tại một số ngân hàng. Điều này cho thấy mức độ suy giảm chất lượng tín dụng tại một số ngân hàng vẫn chưa được cải thiện rõ rệt, nhóm nợ rủi ro nhất tiếp tục phình to.

Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Xét về quy mô nợ xấu, Sacombank đứng đầu, với gần 40.137 tỷ đồng, tăng mạnh 209,8% so với cùng kỳ. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn đạt hơn 29.906 tỷ đồng, chiếm 74,5% tổng nợ xấu và tương đương 6,4% dư nợ cho vay khách hàng - đây là mức khá cao so với mặt bằng chung. Tuy nhiên, ngân hàng cũng chủ động trích lập dự phòng rủi ro tín dụng lên mức kỷ lục.

Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, thực tế, nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh, nhưng chất lượng tài sản lại không tương xứng.

"Nợ xấu gia tăng cũng tạo áp lực lên thanh khoản của hệ thống ngân hàng, bởi dòng tiền không quay vòng được mà bị 'kẹt' lại trong các khoản nợ xấu" - ông Linh nhấn mạnh.

Quản trị rủi ro chưa trở thành “DNA”, nợ xấu khó tránh xu hướng tăng

"Nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng cao, nhưng chất lượng tài sản không tương xứng. Nguyên nhân nằm ở nền móng quản trị rủi ro tín dụng một cách chủ động vẫn chưa được xây dựng vững chắc. Nền tảng quản trị theo chuẩn Basel II, hướng tới Basel III, tức là kiểm soát rủi ro và biến quản trị rủi ro thành “DNA” trong hoạt động ngân hàng, vẫn chưa được thực hiện tốt ở phần lớn tổ chức tín dụng, chỉ một vài ngân hàng làm được điều này. Vì vậy, nợ xấu có xu hướng gia tăng".

TS. Châu Đình Linh

Dù vậy, theo vị chuyên gia này, thực tế cho thấy, một số ngân hàng đã phản ứng bằng cách tăng mạnh trích lập dự phòng, chẳng hạn như Sacombank hay ACB, nhằm nâng tỷ lệ bao phủ nợ xấu. Điều này có thể khiến tăng trưởng lợi nhuận ngắn hạn chậm lại, nhưng lại giúp củng cố nền tảng tài chính.

Bên cạnh 20/27 ngân hàng tăng nợ xấu, dữ liệu cho thấy một số ngân hàng niêm yết ghi nhận xu hướng giảm quy mô nợ xấu trong năm 2025. Đơn cử, tại ABBank, quy mô nợ xấu nhóm 3 - 5 năm 2025 đạt hơn 997 tỷ đồng, giảm mạnh 73% cùng kỳ. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) ở mức 569,1 tỷ đồng, giảm 73%, chiếm 57,1% tổng nợ xấu. Đối với NCB, tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 đạt hơn 8.417 tỷ đồng, giảm 39,5%.

Ngân hàng ACB ghi nhận 6.671,4 tỷ đồng nợ xấu nhóm 3 - 5, giảm 22,9% cùng kỳ. Nợ nhóm 5 của ngân hàng đạt 5.136,4 tỷ đồng, giảm 23,9%, chiếm 77% tổng nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm của ACB được kiểm soát ở mức 0,97%, thấp nhất kể từ năm 2023, qua đó, giúp ngân hàng nằm trong nhóm có chất lượng tài sản tốt nhất hệ thống, trong bối cảnh rủi ro toàn ngành có xu hướng gia tăng.

Dữ liệu tổng hợp cũng cho thấy, quy mô nợ xấu của các ngân hàng trong năm 2025 có xu hướng tăng mạnh trong ba quý đầu năm trước khi hạ nhiệt vào cuối năm. Cụ thể, tổng nợ xấu từ mức 230.046,4 tỷ đồng vào quý IV/2024 đã tăng thêm lần lượt 15,4%; 16,8% và 19,1% vào ba quý đầu năm. Tuy nhiên, đến quý IV/2025, nợ xấu đã có dấu hiệu giảm nhẹ xuống 262.490,9 tỷ đồng, dù vẫn cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước, với mức tăng 14,1%.

Nhiều ngân hàng giữ nợ xấu quanh 1%, duy trì kỷ luật tín dụng

Là một ngân hàng có quy mô lớn trong hệ thống, quy mô nợ xấu của VietinBank trong năm qua chỉ tăng nhẹ khoảng 3%. Tại hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh mới đây, bà Phạm Thị Thanh Hoài - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cho biết chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng đã giảm xuống còn khoảng 17.000 tỷ đồng, giảm 37% so với cùng kỳ năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng cũng được kiểm soát ở mức tốt, khoảng 1,1% và giảm so với năm 2024, nhờ kiểm soát tốt chất lượng tài sản; tỷ lệ bao phủ nợ xấu hiện đạt gần 160%.

Bà Hoài cho biết, trong năm 2025, công tác xử lý và thu hồi nợ của VietinBank tiếp tục được đẩy mạnh. Kết quả thu hồi nợ đã xử lý rủi ro đạt khoảng 10.000 tỷ đồng, đây là mức cao nhất trong nhiều năm qua và tăng 18% so với năm 2024. "Việc xử lý nợ thông thường cần thời gian rất dài, đặc biệt là đối với những khoản vay cho những khách hàng doanh nghiệp lớn" - đại diện VietinBank bày tỏ.

MB là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng cao nhất toàn ngành trong năm qua, song vẫn duy trì kiểm soát tốt chất lượng nợ. Theo bà Phạm Thị Trung Hà - Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc Rủi ro MB, tăng trưởng tín dụng của ngân hàng trong năm qua đạt khoảng 37%, trong khi nợ xấu chỉ tăng khoảng 11%. Nhờ đó, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức khoảng 1% trước khi tính các khoản liên đới theo Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia (CIC).

Ngoài ra, tương tự một số ngân hàng sở hữu công ty tài chính tiêu dùng, công ty con Mcredit do đặc thù hoạt động nên có tỷ lệ nợ xấu cao hơn so với ngân hàng mẹ.

Liên quan đến việc kiểm soát nợ xấu và tỷ lệ bao phủ nợ xấu, năm 2025, tỷ lệ bao phủ nợ xấu trước CIC của MB khoảng 110%, như vậy, MB đã kiểm soát chất lượng tín dụng trong năm 2025 khá tốt.

"Năm 2026, ngân hàng đặt mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 1%, còn toàn tập đoàn ở mức 1,3%. Để đảm bảo vẫn khẩu vị rủi ro tương đối chặt chẽ, đảm bảo tỷ lệ bao phủ nợ xấu 100%, ngân hàng sẽ áp dụng các biện pháp xử lý nợ xấu, cũng như các giải pháp kiểm soát ngay từ đầu, từ lúc cấp, giải ngân, cũng như quản lý khoản vay, thu hồi nợ. Tất cả các khâu trong quy trình cấp tín dụng sẽ được tăng cường các biện pháp kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo khi nếu có nợ phát sinh xử lý ngay từ đầu" - đại diện MB nhấn mạnh.

Đây là chỉ tiêu được đánh giá là khá thách thức, tuy nhiên, đại diện MB cho rằng, khi tăng trưởng cao mà vẫn kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, qua đó, đảm bảo sự phát triển bền vững dài hạn./.

Dự phòng chỉ tăng 5,8%, tỷ lệ bao phủ tiếp tục thu hẹp

Thống kê cũng cho thấy, dù nợ xấu gia tăng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng của nhóm ngân hàng niêm yết năm 2025 chỉ tăng 5,8%, đạt khoảng 218.750 tỷ đồng. Điều này khiến tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục suy giảm và thu hẹp so với năm 2024.

Theo TS. Châu Đình Linh, tại các ngân hàng, vấn đề nợ xấu và chất lượng tăng trưởng tài sản cần được quan tâm nhiều hơn. Còn Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh việc thực thi các quy định liên quan và theo dõi chặt chẽ tỷ lệ bao phủ nợ xấu, ngân hàng nào để tỷ lệ này suy giảm cần được cảnh báo kịp thời.

Bên cạnh đó, các ngân hàng cần tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai Basel II trên toàn hệ thống và từng bước tiến tới Basel III, với nền móng phải được xây dựng thật chắc.

"Tăng trưởng tín dụng cao khó tránh khỏi áp lực lên nợ xấu. Hơn nữa, trong bối cảnh năm 2025 xuất hiện nhiều biến động như thiên tai, bão lũ hay những thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ, rủi ro nợ xấu gia tăng là điều có thể xảy ra. Khi lãi suất tăng nhanh, điều đó cũng phát đi tín hiệu rằng nợ xấu có thể đang hình thành áp lực mới và cần được theo dõi sát sao" - ông Linh nhấn mạnh.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▼100K 13,400 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▼100K 13,350 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,320 ▼80K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,320 ▼80K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,320 ▼80K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 09:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17639 17912 18488
CAD 17973 18248 18867
CHF 31787 32168 32820
CNY 0 3825 3918
EUR 29282 29502 30589
GBP 33892 34281 35222
HKD 0 3228 3431
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14558 15145
SGD 19770 20052 20628
THB 704 768 821
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17809 17909 18831
CAD 18144 18244 19258
CHF 32013 32043 33625
CNY 3806 3831 3966.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29450 29480 31205
GBP 34163 34213 35974
HKD 0 3355 0
JPY 159.31 159.81 170.32
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14667 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19914 20044 20772
THB 0 732.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,161 26,101 26,451
USD20 26,161 26,101 26,451
USD1 26,161 26,101 26,451
AUD 17,855 17,955 19,068
EUR 29,588 29,588 30,997
CAD 18,103 18,203 19,509
SGD 19,986 20,136 20,699
JPY 159.78 161.28 165.85
GBP 34,123 34,473 35,345
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 09:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80