Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tổng nợ xấu của 27 ngân hàng niêm yết năm 2025 tăng 14,1%, lên gần 262.491 tỷ đồng, trong đó, nợ có khả năng mất vốn chiếm 63,5%. Dù bức tranh chung còn nhiều áp lực, vẫn xuất hiện điểm sáng khi 7 ngân hàng “ngược dòng” kéo giảm quy mô nợ xấu, nhiều nhà băng vẫn duy trì kỷ luật tín dụng và chủ động tăng trích lập dự phòng, chấp nhận ảnh hưởng lợi nhuận ngắn hạn.
aa

Nợ xấu chững lại cuối năm, 7 ngân hàng “ngược dòng” kéo giảm

Dựa trên khảo sát số liệu của 27 ngân hàng niêm yết, quy mô nợ xấu nhóm 3 - 5 năm 2025 tiếp tục tăng cho thấy áp lực lên chất lượng tài sản của hệ thống vẫn đáng chú ý. Tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 các ngân hàng trong diện khảo sát đạt gần 262.491 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ, tương ứng tăng thêm gần 32.445 tỷ đồng.

Trong đó, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) đạt 166.706,6 tỷ đồng, tăng 25,9% và tỷ trọng tăng lên 63,5%. Đáng chú ý, cấu trúc nợ xấu vẫn tập trung ở nhóm nợ có khả năng mất vốn, với tỷ trọng trên 70 - 90% tại một số ngân hàng. Điều này cho thấy mức độ suy giảm chất lượng tín dụng tại một số ngân hàng vẫn chưa được cải thiện rõ rệt, nhóm nợ rủi ro nhất tiếp tục phình to.

Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Xét về quy mô nợ xấu, Sacombank đứng đầu, với gần 40.137 tỷ đồng, tăng mạnh 209,8% so với cùng kỳ. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn đạt hơn 29.906 tỷ đồng, chiếm 74,5% tổng nợ xấu và tương đương 6,4% dư nợ cho vay khách hàng - đây là mức khá cao so với mặt bằng chung. Tuy nhiên, ngân hàng cũng chủ động trích lập dự phòng rủi ro tín dụng lên mức kỷ lục.

Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, thực tế, nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh, nhưng chất lượng tài sản lại không tương xứng.

"Nợ xấu gia tăng cũng tạo áp lực lên thanh khoản của hệ thống ngân hàng, bởi dòng tiền không quay vòng được mà bị 'kẹt' lại trong các khoản nợ xấu" - ông Linh nhấn mạnh.

Quản trị rủi ro chưa trở thành “DNA”, nợ xấu khó tránh xu hướng tăng

"Nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng cao, nhưng chất lượng tài sản không tương xứng. Nguyên nhân nằm ở nền móng quản trị rủi ro tín dụng một cách chủ động vẫn chưa được xây dựng vững chắc. Nền tảng quản trị theo chuẩn Basel II, hướng tới Basel III, tức là kiểm soát rủi ro và biến quản trị rủi ro thành “DNA” trong hoạt động ngân hàng, vẫn chưa được thực hiện tốt ở phần lớn tổ chức tín dụng, chỉ một vài ngân hàng làm được điều này. Vì vậy, nợ xấu có xu hướng gia tăng".

TS. Châu Đình Linh

Dù vậy, theo vị chuyên gia này, thực tế cho thấy, một số ngân hàng đã phản ứng bằng cách tăng mạnh trích lập dự phòng, chẳng hạn như Sacombank hay ACB, nhằm nâng tỷ lệ bao phủ nợ xấu. Điều này có thể khiến tăng trưởng lợi nhuận ngắn hạn chậm lại, nhưng lại giúp củng cố nền tảng tài chính.

Bên cạnh 20/27 ngân hàng tăng nợ xấu, dữ liệu cho thấy một số ngân hàng niêm yết ghi nhận xu hướng giảm quy mô nợ xấu trong năm 2025. Đơn cử, tại ABBank, quy mô nợ xấu nhóm 3 - 5 năm 2025 đạt hơn 997 tỷ đồng, giảm mạnh 73% cùng kỳ. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) ở mức 569,1 tỷ đồng, giảm 73%, chiếm 57,1% tổng nợ xấu. Đối với NCB, tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 đạt hơn 8.417 tỷ đồng, giảm 39,5%.

Ngân hàng ACB ghi nhận 6.671,4 tỷ đồng nợ xấu nhóm 3 - 5, giảm 22,9% cùng kỳ. Nợ nhóm 5 của ngân hàng đạt 5.136,4 tỷ đồng, giảm 23,9%, chiếm 77% tổng nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm của ACB được kiểm soát ở mức 0,97%, thấp nhất kể từ năm 2023, qua đó, giúp ngân hàng nằm trong nhóm có chất lượng tài sản tốt nhất hệ thống, trong bối cảnh rủi ro toàn ngành có xu hướng gia tăng.

Dữ liệu tổng hợp cũng cho thấy, quy mô nợ xấu của các ngân hàng trong năm 2025 có xu hướng tăng mạnh trong ba quý đầu năm trước khi hạ nhiệt vào cuối năm. Cụ thể, tổng nợ xấu từ mức 230.046,4 tỷ đồng vào quý IV/2024 đã tăng thêm lần lượt 15,4%; 16,8% và 19,1% vào ba quý đầu năm. Tuy nhiên, đến quý IV/2025, nợ xấu đã có dấu hiệu giảm nhẹ xuống 262.490,9 tỷ đồng, dù vẫn cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước, với mức tăng 14,1%.

Nhiều ngân hàng giữ nợ xấu quanh 1%, duy trì kỷ luật tín dụng

Là một ngân hàng có quy mô lớn trong hệ thống, quy mô nợ xấu của VietinBank trong năm qua chỉ tăng nhẹ khoảng 3%. Tại hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh mới đây, bà Phạm Thị Thanh Hoài - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cho biết chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng đã giảm xuống còn khoảng 17.000 tỷ đồng, giảm 37% so với cùng kỳ năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng cũng được kiểm soát ở mức tốt, khoảng 1,1% và giảm so với năm 2024, nhờ kiểm soát tốt chất lượng tài sản; tỷ lệ bao phủ nợ xấu hiện đạt gần 160%.

Bà Hoài cho biết, trong năm 2025, công tác xử lý và thu hồi nợ của VietinBank tiếp tục được đẩy mạnh. Kết quả thu hồi nợ đã xử lý rủi ro đạt khoảng 10.000 tỷ đồng, đây là mức cao nhất trong nhiều năm qua và tăng 18% so với năm 2024. "Việc xử lý nợ thông thường cần thời gian rất dài, đặc biệt là đối với những khoản vay cho những khách hàng doanh nghiệp lớn" - đại diện VietinBank bày tỏ.

MB là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng cao nhất toàn ngành trong năm qua, song vẫn duy trì kiểm soát tốt chất lượng nợ. Theo bà Phạm Thị Trung Hà - Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc Rủi ro MB, tăng trưởng tín dụng của ngân hàng trong năm qua đạt khoảng 37%, trong khi nợ xấu chỉ tăng khoảng 11%. Nhờ đó, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức khoảng 1% trước khi tính các khoản liên đới theo Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia (CIC).

Ngoài ra, tương tự một số ngân hàng sở hữu công ty tài chính tiêu dùng, công ty con Mcredit do đặc thù hoạt động nên có tỷ lệ nợ xấu cao hơn so với ngân hàng mẹ.

Liên quan đến việc kiểm soát nợ xấu và tỷ lệ bao phủ nợ xấu, năm 2025, tỷ lệ bao phủ nợ xấu trước CIC của MB khoảng 110%, như vậy, MB đã kiểm soát chất lượng tín dụng trong năm 2025 khá tốt.

"Năm 2026, ngân hàng đặt mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 1%, còn toàn tập đoàn ở mức 1,3%. Để đảm bảo vẫn khẩu vị rủi ro tương đối chặt chẽ, đảm bảo tỷ lệ bao phủ nợ xấu 100%, ngân hàng sẽ áp dụng các biện pháp xử lý nợ xấu, cũng như các giải pháp kiểm soát ngay từ đầu, từ lúc cấp, giải ngân, cũng như quản lý khoản vay, thu hồi nợ. Tất cả các khâu trong quy trình cấp tín dụng sẽ được tăng cường các biện pháp kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo khi nếu có nợ phát sinh xử lý ngay từ đầu" - đại diện MB nhấn mạnh.

Đây là chỉ tiêu được đánh giá là khá thách thức, tuy nhiên, đại diện MB cho rằng, khi tăng trưởng cao mà vẫn kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, qua đó, đảm bảo sự phát triển bền vững dài hạn./.

Dự phòng chỉ tăng 5,8%, tỷ lệ bao phủ tiếp tục thu hẹp

Thống kê cũng cho thấy, dù nợ xấu gia tăng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng của nhóm ngân hàng niêm yết năm 2025 chỉ tăng 5,8%, đạt khoảng 218.750 tỷ đồng. Điều này khiến tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục suy giảm và thu hẹp so với năm 2024.

Theo TS. Châu Đình Linh, tại các ngân hàng, vấn đề nợ xấu và chất lượng tăng trưởng tài sản cần được quan tâm nhiều hơn. Còn Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh việc thực thi các quy định liên quan và theo dõi chặt chẽ tỷ lệ bao phủ nợ xấu, ngân hàng nào để tỷ lệ này suy giảm cần được cảnh báo kịp thời.

Bên cạnh đó, các ngân hàng cần tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai Basel II trên toàn hệ thống và từng bước tiến tới Basel III, với nền móng phải được xây dựng thật chắc.

"Tăng trưởng tín dụng cao khó tránh khỏi áp lực lên nợ xấu. Hơn nữa, trong bối cảnh năm 2025 xuất hiện nhiều biến động như thiên tai, bão lũ hay những thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ, rủi ro nợ xấu gia tăng là điều có thể xảy ra. Khi lãi suất tăng nhanh, điều đó cũng phát đi tín hiệu rằng nợ xấu có thể đang hình thành áp lực mới và cần được theo dõi sát sao" - ông Linh nhấn mạnh.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 ▼30K 14,380 ▼30K
Trang sức 99.99 13,790 ▼30K 14,390 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/08/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,863 25,913 26,250
USD20 25,813 25,913 26,794
USD1 25,763 25,913 26,844
AUD 18,051 18,151 19,255
EUR 29,343 29,443 31,101
CAD 18,260 18,360 19,664
SGD 20,032 20,182 20,736
JPY 160.33 161.83 167.38
GBP 34,519 34,669 35,850
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80