Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tổng nợ xấu của 27 ngân hàng niêm yết năm 2025 tăng 14,1%, lên gần 262.491 tỷ đồng, trong đó, nợ có khả năng mất vốn chiếm 63,5%. Dù bức tranh chung còn nhiều áp lực, vẫn xuất hiện điểm sáng khi 7 ngân hàng “ngược dòng” kéo giảm quy mô nợ xấu, nhiều nhà băng vẫn duy trì kỷ luật tín dụng và chủ động tăng trích lập dự phòng, chấp nhận ảnh hưởng lợi nhuận ngắn hạn.
aa

Nợ xấu chững lại cuối năm, 7 ngân hàng “ngược dòng” kéo giảm

Dựa trên khảo sát số liệu của 27 ngân hàng niêm yết, quy mô nợ xấu nhóm 3 - 5 năm 2025 tiếp tục tăng cho thấy áp lực lên chất lượng tài sản của hệ thống vẫn đáng chú ý. Tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 các ngân hàng trong diện khảo sát đạt gần 262.491 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ, tương ứng tăng thêm gần 32.445 tỷ đồng.

Trong đó, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) đạt 166.706,6 tỷ đồng, tăng 25,9% và tỷ trọng tăng lên 63,5%. Đáng chú ý, cấu trúc nợ xấu vẫn tập trung ở nhóm nợ có khả năng mất vốn, với tỷ trọng trên 70 - 90% tại một số ngân hàng. Điều này cho thấy mức độ suy giảm chất lượng tín dụng tại một số ngân hàng vẫn chưa được cải thiện rõ rệt, nhóm nợ rủi ro nhất tiếp tục phình to.

Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng
Nguồn: Báo cáo tài chính các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Xét về quy mô nợ xấu, Sacombank đứng đầu, với gần 40.137 tỷ đồng, tăng mạnh 209,8% so với cùng kỳ. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn đạt hơn 29.906 tỷ đồng, chiếm 74,5% tổng nợ xấu và tương đương 6,4% dư nợ cho vay khách hàng - đây là mức khá cao so với mặt bằng chung. Tuy nhiên, ngân hàng cũng chủ động trích lập dự phòng rủi ro tín dụng lên mức kỷ lục.

Trao đổi với phóng viên, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho rằng, thực tế, nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng nhanh, nhưng chất lượng tài sản lại không tương xứng.

"Nợ xấu gia tăng cũng tạo áp lực lên thanh khoản của hệ thống ngân hàng, bởi dòng tiền không quay vòng được mà bị 'kẹt' lại trong các khoản nợ xấu" - ông Linh nhấn mạnh.

Quản trị rủi ro chưa trở thành “DNA”, nợ xấu khó tránh xu hướng tăng

"Nhiều ngân hàng tăng trưởng tín dụng cao, nhưng chất lượng tài sản không tương xứng. Nguyên nhân nằm ở nền móng quản trị rủi ro tín dụng một cách chủ động vẫn chưa được xây dựng vững chắc. Nền tảng quản trị theo chuẩn Basel II, hướng tới Basel III, tức là kiểm soát rủi ro và biến quản trị rủi ro thành “DNA” trong hoạt động ngân hàng, vẫn chưa được thực hiện tốt ở phần lớn tổ chức tín dụng, chỉ một vài ngân hàng làm được điều này. Vì vậy, nợ xấu có xu hướng gia tăng".

TS. Châu Đình Linh

Dù vậy, theo vị chuyên gia này, thực tế cho thấy, một số ngân hàng đã phản ứng bằng cách tăng mạnh trích lập dự phòng, chẳng hạn như Sacombank hay ACB, nhằm nâng tỷ lệ bao phủ nợ xấu. Điều này có thể khiến tăng trưởng lợi nhuận ngắn hạn chậm lại, nhưng lại giúp củng cố nền tảng tài chính.

Bên cạnh 20/27 ngân hàng tăng nợ xấu, dữ liệu cho thấy một số ngân hàng niêm yết ghi nhận xu hướng giảm quy mô nợ xấu trong năm 2025. Đơn cử, tại ABBank, quy mô nợ xấu nhóm 3 - 5 năm 2025 đạt hơn 997 tỷ đồng, giảm mạnh 73% cùng kỳ. Trong đó, nợ có khả năng mất vốn (nhóm 5) ở mức 569,1 tỷ đồng, giảm 73%, chiếm 57,1% tổng nợ xấu. Đối với NCB, tổng nợ xấu nhóm 3 - 5 đạt hơn 8.417 tỷ đồng, giảm 39,5%.

Ngân hàng ACB ghi nhận 6.671,4 tỷ đồng nợ xấu nhóm 3 - 5, giảm 22,9% cùng kỳ. Nợ nhóm 5 của ngân hàng đạt 5.136,4 tỷ đồng, giảm 23,9%, chiếm 77% tổng nợ xấu. Tỷ lệ nợ xấu đến cuối năm của ACB được kiểm soát ở mức 0,97%, thấp nhất kể từ năm 2023, qua đó, giúp ngân hàng nằm trong nhóm có chất lượng tài sản tốt nhất hệ thống, trong bối cảnh rủi ro toàn ngành có xu hướng gia tăng.

Dữ liệu tổng hợp cũng cho thấy, quy mô nợ xấu của các ngân hàng trong năm 2025 có xu hướng tăng mạnh trong ba quý đầu năm trước khi hạ nhiệt vào cuối năm. Cụ thể, tổng nợ xấu từ mức 230.046,4 tỷ đồng vào quý IV/2024 đã tăng thêm lần lượt 15,4%; 16,8% và 19,1% vào ba quý đầu năm. Tuy nhiên, đến quý IV/2025, nợ xấu đã có dấu hiệu giảm nhẹ xuống 262.490,9 tỷ đồng, dù vẫn cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước, với mức tăng 14,1%.

Nhiều ngân hàng giữ nợ xấu quanh 1%, duy trì kỷ luật tín dụng

Là một ngân hàng có quy mô lớn trong hệ thống, quy mô nợ xấu của VietinBank trong năm qua chỉ tăng nhẹ khoảng 3%. Tại hội nghị cập nhật kết quả kinh doanh mới đây, bà Phạm Thị Thanh Hoài - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank cho biết chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của ngân hàng đã giảm xuống còn khoảng 17.000 tỷ đồng, giảm 37% so với cùng kỳ năm 2024. Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng cũng được kiểm soát ở mức tốt, khoảng 1,1% và giảm so với năm 2024, nhờ kiểm soát tốt chất lượng tài sản; tỷ lệ bao phủ nợ xấu hiện đạt gần 160%.

Bà Hoài cho biết, trong năm 2025, công tác xử lý và thu hồi nợ của VietinBank tiếp tục được đẩy mạnh. Kết quả thu hồi nợ đã xử lý rủi ro đạt khoảng 10.000 tỷ đồng, đây là mức cao nhất trong nhiều năm qua và tăng 18% so với năm 2024. "Việc xử lý nợ thông thường cần thời gian rất dài, đặc biệt là đối với những khoản vay cho những khách hàng doanh nghiệp lớn" - đại diện VietinBank bày tỏ.

MB là một trong những ngân hàng có tốc độ tăng trưởng cho vay khách hàng cao nhất toàn ngành trong năm qua, song vẫn duy trì kiểm soát tốt chất lượng nợ. Theo bà Phạm Thị Trung Hà - Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc Rủi ro MB, tăng trưởng tín dụng của ngân hàng trong năm qua đạt khoảng 37%, trong khi nợ xấu chỉ tăng khoảng 11%. Nhờ đó, tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức khoảng 1% trước khi tính các khoản liên đới theo Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia (CIC).

Ngoài ra, tương tự một số ngân hàng sở hữu công ty tài chính tiêu dùng, công ty con Mcredit do đặc thù hoạt động nên có tỷ lệ nợ xấu cao hơn so với ngân hàng mẹ.

Liên quan đến việc kiểm soát nợ xấu và tỷ lệ bao phủ nợ xấu, năm 2025, tỷ lệ bao phủ nợ xấu trước CIC của MB khoảng 110%, như vậy, MB đã kiểm soát chất lượng tín dụng trong năm 2025 khá tốt.

"Năm 2026, ngân hàng đặt mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 1%, còn toàn tập đoàn ở mức 1,3%. Để đảm bảo vẫn khẩu vị rủi ro tương đối chặt chẽ, đảm bảo tỷ lệ bao phủ nợ xấu 100%, ngân hàng sẽ áp dụng các biện pháp xử lý nợ xấu, cũng như các giải pháp kiểm soát ngay từ đầu, từ lúc cấp, giải ngân, cũng như quản lý khoản vay, thu hồi nợ. Tất cả các khâu trong quy trình cấp tín dụng sẽ được tăng cường các biện pháp kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo khi nếu có nợ phát sinh xử lý ngay từ đầu" - đại diện MB nhấn mạnh.

Đây là chỉ tiêu được đánh giá là khá thách thức, tuy nhiên, đại diện MB cho rằng, khi tăng trưởng cao mà vẫn kiểm soát tốt chất lượng tín dụng, qua đó, đảm bảo sự phát triển bền vững dài hạn./.

Dự phòng chỉ tăng 5,8%, tỷ lệ bao phủ tiếp tục thu hẹp

Thống kê cũng cho thấy, dù nợ xấu gia tăng dự phòng rủi ro cho vay khách hàng của nhóm ngân hàng niêm yết năm 2025 chỉ tăng 5,8%, đạt khoảng 218.750 tỷ đồng. Điều này khiến tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục suy giảm và thu hẹp so với năm 2024.

Theo TS. Châu Đình Linh, tại các ngân hàng, vấn đề nợ xấu và chất lượng tăng trưởng tài sản cần được quan tâm nhiều hơn. Còn Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh việc thực thi các quy định liên quan và theo dõi chặt chẽ tỷ lệ bao phủ nợ xấu, ngân hàng nào để tỷ lệ này suy giảm cần được cảnh báo kịp thời.

Bên cạnh đó, các ngân hàng cần tiếp tục đẩy mạnh việc triển khai Basel II trên toàn hệ thống và từng bước tiến tới Basel III, với nền móng phải được xây dựng thật chắc.

"Tăng trưởng tín dụng cao khó tránh khỏi áp lực lên nợ xấu. Hơn nữa, trong bối cảnh năm 2025 xuất hiện nhiều biến động như thiên tai, bão lũ hay những thay đổi trong chính sách thương mại của Mỹ, rủi ro nợ xấu gia tăng là điều có thể xảy ra. Khi lãi suất tăng nhanh, điều đó cũng phát đi tín hiệu rằng nợ xấu có thể đang hình thành áp lực mới và cần được theo dõi sát sao" - ông Linh nhấn mạnh.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80