Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
aa

“Big 4” giữ trụ cột hệ thống, cần củng cố nền tảng vốn vững chắc hơn

Nhóm ngân hàng “big 4” (gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank) giữ vai trò trụ cột của hệ thống ngân hàng, là lực lượng chủ lực cung ứng tín dụng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Đến cuối năm 2025, nhóm này sở hữu tổng vốn điều lệ hơn 283 nghìn tỷ đồng và lợi nhuận chưa phân phối khoảng 208 nghìn tỷ đồng.

Theo số liệu do phóng viên tổng hợp giai đoạn 10 năm qua, trong nhóm “big 4”, Vietcombank dẫn đầu cả về tốc độ tăng vốn điều lệ và quy mô lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế, với “của để dành” cao vượt trội. Đến cuối quý I/2026, vốn điều lệ của Vietcombank đạt 83.556,8 tỷ đồng, tăng 132,2% so với năm 2017, tức tăng 47.579 tỷ đồng qua 4 lần tăng vốn, nổi bật là cú bứt phá gần 50% trong năm 2025. Vietcombank hiện giữ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lớn nhất hệ thống, đạt 97.278,9 tỷ đồng.

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới
Đồ họa: Ánh Tuyết

VietinBank đứng sau với vốn điều lệ tăng 108,6% lên 77.669,4 tỷ đồng qua 3 lần tăng vốn tính từ năm 2017, đáng chú ý là đợt tăng gần 45% trong năm 2025. BIDV tăng vốn 112,9% lên 72.800,7 tỷ đồng trong giai đoạn này, với 6 lần điều chỉnh.

Với Agribank, vốn điều lệ đạt 51.639 tỷ đồng vào cuối năm 2025, tăng 70,1% so với năm 2017 (tăng 21.284 tỷ đồng); lợi nhuận chưa phân phối khoảng 17.759 tỷ đồng.

Số liệu từ Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước) cũng cho thấy, dù nhóm “big 4” vẫn nắm giữ khoảng 42% tổng tài sản toàn hệ thống, nhưng vốn điều lệ chỉ chiếm khoảng 20%, thị phần tín dụng cũng thu hẹp so với trước đây.

Tăng vốn cho “big 4” để dẫn dắt dòng vốn chiến lược

“Sẽ có những cơ chế cho phép vượt các hệ số truyền thống trong thu xếp vốn, nhưng về cơ bản chỉ có thể được thực hiện bởi các ngân hàng thương mại cổ phần có vốn Nhà nước chi phối. Như vậy, việc tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thuộc nhóm lớn này là bắt buộc để đạt được mục tiêu trở thành công cụ điều tiết tín dụng và định hướng dòng vốn của Nhà nước vào các dự án trọng điểm, các khoản đầu tư chiến lược”.

TS. Nguyễn Quốc Việt - Trưởng nhóm Nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội)

Cùng với đó, tính đến tháng 6/2025, hệ số CAR hợp nhất của BIDV đạt 9,57%; VietinBank đạt 10,29% và Vietcombank đạt 12,01%. CAR hợp nhất của Agribank ở mức 11,36% vào cuối năm 2024. Nhìn chung, các con số này thấp hơn so với mặt bằng khối ngân hàng tư nhân và các ngân hàng trong khu vực như: Philippines (16,6%), Malaysia (18,5%), Thái Lan (19,2%).

Theo đánh giá từ nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán VnDirect, áp lực tăng vốn sẽ gia tăng ở nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh. Mặc dù CAR đã cải thiện theo lộ trình Basel II và Basel III, tỷ lệ đòn bẩy (vốn chủ sở hữu/tổng tài sản - E/A) của các ngân hàng lại có xu hướng giảm, cho thấy tốc độ mở rộng tài sản đang vượt tốc độ tích lũy vốn.

Quy mô vốn thấp cũng khiến các ngân hàng gặp hạn chế trong tài trợ các dự án lớn, do vướng trần cấp tín dụng với một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng.

Do đó, quy mô vốn điều lệ của nhóm “big 4” cần được củng cố, để theo kịp đà mở rộng tài sản và nhu cầu tăng trưởng tín dụng. Qua đó, đặt ra yêu cầu tiếp tục tăng vốn điều lệ và nâng cao hệ số CAR, nhằm bảo đảm an toàn các chỉ tiêu về an toàn vốn và tạo dư địa phát triển bền vững.

Đua tăng vốn, chạy nước rút nâng hệ số CAR

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông mới đây, Tổng Giám đốc BIDV Lê Ngọc Lâm cho biết, BIDV duy trì CAR khoảng 9% trong giai đoạn vừa qua. Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng của tài sản có năm 2026, CAR cũng sẽ phải tăng tương ứng. Ngân hàng đã xây dựng các kế hoạch tăng vốn, song việc triển khai có thể thực hiện kịp trong năm nay hoặc có độ trễ sang đầu năm sau.

Ông Lâm chỉ rõ, các kế hoạch tăng vốn đều phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Bên cạnh đó, còn có các quy định bắt buộc, chẳng hạn với phát hành riêng lẻ, mỗi đợt phát hành phải cách nhau tối thiểu 6 tháng, do đó cũng tạo ra độ trễ nhất định.

Năm 2026, BIDV dự kiến triển khai nhiều cấu phần để tăng vốn điều lệ, với tổng mức tăng thêm khoảng 26.000 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ của BIDV tăng lên 100.000 tỷ đồng. Khi đó, hệ số CAR dự kiến đạt 9,5% và có thể được nâng lên khoảng 10% trong năm sau.

Tổng Giám đốc BIDV cho biết thêm, mặc dù tổng tài sản của ngân hàng ở mức cao, nhưng tài sản có rủi ro (RWA) dùng để tính CAR hiện được kiểm soát ở khoảng 2,3 triệu tỷ đồng, không phải là mức quá cao so với đòn bẩy.

Ông Lê Thanh Tùng - Thành viên Hội đồng Quản trị VietinBank cũng cho biết, cuối năm 2025, hệ số CAR của VietinBank đạt 10%. “Ngân hàng Nhà nước vừa qua đã ban hành các chuẩn mực mới, đòi hỏi hệ số CAR của các ngân hàng phải tăng lên rất mạnh” - lãnh đạo VietinBank nêu rõ. Do đó, trong thời gian tới, các ngân hàng thương mại nhà nước nói chung và VietinBank nói riêng sẽ chịu áp lực lớn trong việc nâng tỷ lệ CAR nhằm đáp ứng yêu cầu an toàn vốn cũng như mục tiêu tăng trưởng.

Trong khi đó, tại Đại hội đồng cổ đông Vietcombank, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Nguyễn Thanh Tùng nhấn mạnh, chủ trương cho phép giữ lại lợi nhuận để tăng vốn là giải pháp giúp Vietcombank đạt chuẩn Basel III.

“Đây là nguồn tăng vốn rất quan trọng cho vốn điều lệ của Vietcombank, giúp Vietcombank duy trì được vị thế là ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất hệ thống” - lãnh đạo Vietcombank nhìn nhận.

Tạo điều kiện để các ngân hàng lớn mạnh

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước không chỉ đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 3 ngân hàng quốc doanh vào top 100 châu Á về tổng tài sản, mà còn mở cơ chế cho phép giữ lại lợi nhuận sau thuế để tăng vốn và tái đầu tư, thay vì phải chi trả cổ tức tiền mặt như trước. Mục tiêu này cùng với yêu cầu nâng chuẩn hệ số CAR theo Thông tư số 14/2025/TT-NHNN vừa tạo lực đẩy, vừa tạo sức ép buộc nhóm “big 4” tăng vốn mạnh mẽ hơn.

Theo TS. Nguyễn Quốc Việt - Trưởng nhóm Nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), đề xuất giữ lại lợi nhuận để tăng vốn cho các ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà nước chi phối đã được nhắc đến từ lâu, song đến nay mới có cơ chế.

Ông Việt cho rằng, việc tăng vốn giúp các ngân hàng đạt được các chuẩn quản trị quốc tế mới nhất theo Basel III. Khi đạt được các chuẩn này sẽ mở ra cơ hội tiếp cận tốt hơn các nguồn lực bên ngoài, tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược nước ngoài cũng như tiếp cận các quỹ quốc tế.

Đặc biệt, khi CAR cao hơn, nguồn vốn lớn hơn, các ngân hàng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho các dự án.

Cùng với đó, yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp tài chính - ngân hàng có vốn nhà nước là phải nằm trong nhóm dẫn đầu khu vực và thế giới.

“Khi đã xác định mục tiêu như vậy, rõ ràng cần phải tháo gỡ các rào cản, tạo điều kiện để các ngân hàng này lớn mạnh, có đủ nguồn lực, thì mới có thể đạt được các chỉ tiêu định lượng, vươn lên trở thành những định chế tài chính quy mô lớn và có khả năng sánh vai với các tổ chức tài chính, ngân hàng quốc tế” - TS. Nguyễn Quốc Việt khẳng định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Sáng 27/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.197 đồng, tăng 14 đồng tuần qua, đánh dấu 7 tuần tăng liên tiếp. HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai Việt Nam năm 2026 xuống 2,2% GDP, có thể gây áp lực lên VND. Còn DXY chốt tuần ở 101,36 điểm, vẫn neo cao dù Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất khi căng thẳng Mỹ - Iran lắng dịu.
Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,550 14,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 14,850
Nguyên Liệu 99.99 13,300 13,500
Nguyên Liệu 99.9 13,250 13,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 14,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 14,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 14,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 148,500
Hà Nội - PNJ 145,500 148,500
Đà Nẵng - PNJ 145,500 148,500
Miền Tây - PNJ 145,500 148,500
Tây Nguyên - PNJ 145,500 148,500
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 148,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 14,850
Miếng SJC Nghệ An 14,550 14,850
Miếng SJC Thái Bình 14,550 14,850
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 14,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 14,800
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 14,800
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,990 14,690
Trang sức 99.99 14,000 14,700
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 14,852
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 14,853
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 1,484
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 1,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 1,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 145,446
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 110,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 100,052
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 89,768
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 85,801
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 61,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 1,485
Cập nhật: 28/06/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/06/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80