Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
aa

“Big 4” giữ trụ cột hệ thống, cần củng cố nền tảng vốn vững chắc hơn

Nhóm ngân hàng “big 4” (gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV và Agribank) giữ vai trò trụ cột của hệ thống ngân hàng, là lực lượng chủ lực cung ứng tín dụng, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Đến cuối năm 2025, nhóm này sở hữu tổng vốn điều lệ hơn 283 nghìn tỷ đồng và lợi nhuận chưa phân phối khoảng 208 nghìn tỷ đồng.

Theo số liệu do phóng viên tổng hợp giai đoạn 10 năm qua, trong nhóm “big 4”, Vietcombank dẫn đầu cả về tốc độ tăng vốn điều lệ và quy mô lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế, với “của để dành” cao vượt trội. Đến cuối quý I/2026, vốn điều lệ của Vietcombank đạt 83.556,8 tỷ đồng, tăng 132,2% so với năm 2017, tức tăng 47.579 tỷ đồng qua 4 lần tăng vốn, nổi bật là cú bứt phá gần 50% trong năm 2025. Vietcombank hiện giữ lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lớn nhất hệ thống, đạt 97.278,9 tỷ đồng.

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới
Đồ họa: Ánh Tuyết

VietinBank đứng sau với vốn điều lệ tăng 108,6% lên 77.669,4 tỷ đồng qua 3 lần tăng vốn tính từ năm 2017, đáng chú ý là đợt tăng gần 45% trong năm 2025. BIDV tăng vốn 112,9% lên 72.800,7 tỷ đồng trong giai đoạn này, với 6 lần điều chỉnh.

Với Agribank, vốn điều lệ đạt 51.639 tỷ đồng vào cuối năm 2025, tăng 70,1% so với năm 2017 (tăng 21.284 tỷ đồng); lợi nhuận chưa phân phối khoảng 17.759 tỷ đồng.

Số liệu từ Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính (Ngân hàng Nhà nước) cũng cho thấy, dù nhóm “big 4” vẫn nắm giữ khoảng 42% tổng tài sản toàn hệ thống, nhưng vốn điều lệ chỉ chiếm khoảng 20%, thị phần tín dụng cũng thu hẹp so với trước đây.

Tăng vốn cho “big 4” để dẫn dắt dòng vốn chiến lược

“Sẽ có những cơ chế cho phép vượt các hệ số truyền thống trong thu xếp vốn, nhưng về cơ bản chỉ có thể được thực hiện bởi các ngân hàng thương mại cổ phần có vốn Nhà nước chi phối. Như vậy, việc tăng vốn điều lệ cho các ngân hàng thuộc nhóm lớn này là bắt buộc để đạt được mục tiêu trở thành công cụ điều tiết tín dụng và định hướng dòng vốn của Nhà nước vào các dự án trọng điểm, các khoản đầu tư chiến lược”.

TS. Nguyễn Quốc Việt - Trưởng nhóm Nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội)

Cùng với đó, tính đến tháng 6/2025, hệ số CAR hợp nhất của BIDV đạt 9,57%; VietinBank đạt 10,29% và Vietcombank đạt 12,01%. CAR hợp nhất của Agribank ở mức 11,36% vào cuối năm 2024. Nhìn chung, các con số này thấp hơn so với mặt bằng khối ngân hàng tư nhân và các ngân hàng trong khu vực như: Philippines (16,6%), Malaysia (18,5%), Thái Lan (19,2%).

Theo đánh giá từ nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán VnDirect, áp lực tăng vốn sẽ gia tăng ở nhóm ngân hàng thương mại quốc doanh. Mặc dù CAR đã cải thiện theo lộ trình Basel II và Basel III, tỷ lệ đòn bẩy (vốn chủ sở hữu/tổng tài sản - E/A) của các ngân hàng lại có xu hướng giảm, cho thấy tốc độ mở rộng tài sản đang vượt tốc độ tích lũy vốn.

Quy mô vốn thấp cũng khiến các ngân hàng gặp hạn chế trong tài trợ các dự án lớn, do vướng trần cấp tín dụng với một khách hàng hoặc một nhóm khách hàng.

Do đó, quy mô vốn điều lệ của nhóm “big 4” cần được củng cố, để theo kịp đà mở rộng tài sản và nhu cầu tăng trưởng tín dụng. Qua đó, đặt ra yêu cầu tiếp tục tăng vốn điều lệ và nâng cao hệ số CAR, nhằm bảo đảm an toàn các chỉ tiêu về an toàn vốn và tạo dư địa phát triển bền vững.

Đua tăng vốn, chạy nước rút nâng hệ số CAR

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông mới đây, Tổng Giám đốc BIDV Lê Ngọc Lâm cho biết, BIDV duy trì CAR khoảng 9% trong giai đoạn vừa qua. Tuy nhiên, với tốc độ tăng trưởng của tài sản có năm 2026, CAR cũng sẽ phải tăng tương ứng. Ngân hàng đã xây dựng các kế hoạch tăng vốn, song việc triển khai có thể thực hiện kịp trong năm nay hoặc có độ trễ sang đầu năm sau.

Ông Lâm chỉ rõ, các kế hoạch tăng vốn đều phải trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Bên cạnh đó, còn có các quy định bắt buộc, chẳng hạn với phát hành riêng lẻ, mỗi đợt phát hành phải cách nhau tối thiểu 6 tháng, do đó cũng tạo ra độ trễ nhất định.

Năm 2026, BIDV dự kiến triển khai nhiều cấu phần để tăng vốn điều lệ, với tổng mức tăng thêm khoảng 26.000 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ của BIDV tăng lên 100.000 tỷ đồng. Khi đó, hệ số CAR dự kiến đạt 9,5% và có thể được nâng lên khoảng 10% trong năm sau.

Tổng Giám đốc BIDV cho biết thêm, mặc dù tổng tài sản của ngân hàng ở mức cao, nhưng tài sản có rủi ro (RWA) dùng để tính CAR hiện được kiểm soát ở khoảng 2,3 triệu tỷ đồng, không phải là mức quá cao so với đòn bẩy.

Ông Lê Thanh Tùng - Thành viên Hội đồng Quản trị VietinBank cũng cho biết, cuối năm 2025, hệ số CAR của VietinBank đạt 10%. “Ngân hàng Nhà nước vừa qua đã ban hành các chuẩn mực mới, đòi hỏi hệ số CAR của các ngân hàng phải tăng lên rất mạnh” - lãnh đạo VietinBank nêu rõ. Do đó, trong thời gian tới, các ngân hàng thương mại nhà nước nói chung và VietinBank nói riêng sẽ chịu áp lực lớn trong việc nâng tỷ lệ CAR nhằm đáp ứng yêu cầu an toàn vốn cũng như mục tiêu tăng trưởng.

Trong khi đó, tại Đại hội đồng cổ đông Vietcombank, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Nguyễn Thanh Tùng nhấn mạnh, chủ trương cho phép giữ lại lợi nhuận để tăng vốn là giải pháp giúp Vietcombank đạt chuẩn Basel III.

“Đây là nguồn tăng vốn rất quan trọng cho vốn điều lệ của Vietcombank, giúp Vietcombank duy trì được vị thế là ngân hàng có vốn điều lệ lớn nhất hệ thống” - lãnh đạo Vietcombank nhìn nhận.

Tạo điều kiện để các ngân hàng lớn mạnh

Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 về phát triển kinh tế nhà nước không chỉ đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 3 ngân hàng quốc doanh vào top 100 châu Á về tổng tài sản, mà còn mở cơ chế cho phép giữ lại lợi nhuận sau thuế để tăng vốn và tái đầu tư, thay vì phải chi trả cổ tức tiền mặt như trước. Mục tiêu này cùng với yêu cầu nâng chuẩn hệ số CAR theo Thông tư số 14/2025/TT-NHNN vừa tạo lực đẩy, vừa tạo sức ép buộc nhóm “big 4” tăng vốn mạnh mẽ hơn.

Theo TS. Nguyễn Quốc Việt - Trưởng nhóm Nghiên cứu vĩ mô, Trường Đại học Kinh tế (Đại học Quốc gia Hà Nội), đề xuất giữ lại lợi nhuận để tăng vốn cho các ngân hàng thương mại cổ phần do Nhà nước chi phối đã được nhắc đến từ lâu, song đến nay mới có cơ chế.

Ông Việt cho rằng, việc tăng vốn giúp các ngân hàng đạt được các chuẩn quản trị quốc tế mới nhất theo Basel III. Khi đạt được các chuẩn này sẽ mở ra cơ hội tiếp cận tốt hơn các nguồn lực bên ngoài, tìm kiếm nhà đầu tư chiến lược nước ngoài cũng như tiếp cận các quỹ quốc tế.

Đặc biệt, khi CAR cao hơn, nguồn vốn lớn hơn, các ngân hàng sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc cung ứng vốn cho các dự án.

Cùng với đó, yêu cầu đặt ra đối với các doanh nghiệp tài chính - ngân hàng có vốn nhà nước là phải nằm trong nhóm dẫn đầu khu vực và thế giới.

“Khi đã xác định mục tiêu như vậy, rõ ràng cần phải tháo gỡ các rào cản, tạo điều kiện để các ngân hàng này lớn mạnh, có đủ nguồn lực, thì mới có thể đạt được các chỉ tiêu định lượng, vươn lên trở thành những định chế tài chính quy mô lớn và có khả năng sánh vai với các tổ chức tài chính, ngân hàng quốc tế” - TS. Nguyễn Quốc Việt khẳng định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

Agribank được Moody’s Ratings điều chỉnh triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”

(TBTCO) - Ngày 5/5/2026, tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Moody's Ratings công bố điều chỉnh triển vọng xếp hạng của Agribank từ “Ổn định” lên “Tích cực”, đồng thời giữ nguyên xếp hạng tiền gửi dài hạn của Agribank ở mức Ba2 và Đánh giá tín nhiệm cơ sở (BCA) ở mức b1.
Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

(TBTCO) - Sáng ngày 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 1 đồng xuống 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do phổ biến quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Chỉ số DXY tăng 0,19% lên 98,25 điểm, cho thấy đồng USD phục hồi nhẹ, khi giới đầu tư chờ phản hồi từ Iran về đề xuất mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột kéo dài 10 tuần.
Prudential Việt Nam nhiều năm góp mặt trong nhóm doanh nghiệp đóng góp ngân sách lớn tại TP. Hồ Chí Minh

Prudential Việt Nam nhiều năm góp mặt trong nhóm doanh nghiệp đóng góp ngân sách lớn tại TP. Hồ Chí Minh

(TBTCO) - Nhiều năm qua, Prudential Việt Nam liên tục được ghi nhận là một trong những doanh nghiệp có đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước, thể hiện rõ cam kết tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng sự phát triển kinh tế - xã hội tại Việt Nam.
Đại hội đồng cổ đông BIC: Nhắm doanh thu kỷ lục 6.200 tỷ đồng, chờ lực đẩy từ bảo hiểm tử kỳ năm 2027

Đại hội đồng cổ đông BIC: Nhắm doanh thu kỷ lục 6.200 tỷ đồng, chờ lực đẩy từ bảo hiểm tử kỳ năm 2027

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC thông qua kế hoạch doanh thu phí bảo hiểm 6.230 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 780 tỷ đồng năm 2026; đồng thời, chấp thuận chủ trương mở rộng sang bảo hiểm vệ tinh, bảo hiểm tử kỳ và dịch vụ phụ trợ bảo hiểm. Lãnh đạo BIC cho biết, Tổng công ty đang xây dựng sản phẩm bảo hiểm tử kỳ gắn với tín dụng khách hàng và kỳ vọng có kết quả từ năm 2027.
Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

Vợ sinh con, lao động nam tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp thai sản

(TBTCO) - Một lao động tự do tại Bắc Ninh đã trở thành lao động nam đầu tiên tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được nhận trợ cấp thai sản khi vợ sinh con, theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 đang thu hút sự quan tâm của nhiều lao động tự do.
Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 của Prudential Việt Nam cho thấy, Công ty ghi nhận lợi nhuận trước thuế cao nhất nhiều năm 4.937 tỷ đồng, song đồng thời phát sinh khoản xử phạt vi phạm hành chính về thuế hơn 135 tỷ đồng liên quan các năm trước. Thu nhập tính thuế của doanh nghiệp cũng cao hơn đáng kể lợi nhuận kế toán do phải điều chỉnh nhiều khoản.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Hà Nội - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Miền Tây - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 ▲300K 167,300 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150 ▲200K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200 ▲200K
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 ▲1645K 16,752 ▲16752K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 ▲1645K 16,753 ▲16753K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 ▲164K 167 ▲167K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 ▲164K 1,671 ▲1671K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 ▲162K 1,655 ▲1655K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 ▲157361K 163,861 ▲163861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 ▲115387K 124,287 ▲124287K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 ▲103801K 112,701 ▲112701K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 ▲92215K 101,115 ▲101115K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 ▲87746K 96,646 ▲96646K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 ▲6027K 6,917 ▲6917K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 ▲1645K 1,675 ▲1675K
Cập nhật: 08/05/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18492 18768 19347
CAD 18741 19019 19635
CHF 33163 33549 34194
CNY 0 3827 3919
EUR 30325 30599 31627
GBP 35003 35397 36341
HKD 0 3229 3431
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15373 15963
SGD 20207 20491 21014
THB 732 795 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/05/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80