Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng

Tú Anh
(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 của Prudential Việt Nam cho thấy, Công ty ghi nhận lợi nhuận trước thuế cao nhất nhiều năm 4.937 tỷ đồng, song đồng thời phát sinh khoản xử phạt vi phạm hành chính về thuế hơn 135 tỷ đồng liên quan các năm trước. Thu nhập tính thuế của doanh nghiệp cũng cao hơn đáng kể lợi nhuận kế toán do phải điều chỉnh nhiều khoản.
aa
Prudential Việt Nam bền bỉ và kiên định mục tiêu kinh doanh có trách nhiệm
Prudential lãi lớn trên 4.900 tỷ đồng nhờ “trụ đỡ” tài chính, bảo hiểm chưa thoát “vùng trũng” Prudential Việt Nam chi trả 16.489 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm: Giữ trọn niềm tin khách hàng khi cần nhất

Báo cáo tài chính năm 2025 do Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam công bố, doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt khoảng 4.937 tỷ đồng, tăng mạnh 47,8% và cao nhất nhiều năm.

Khi xác định thu nhập chịu thuế, doanh nghiệp thực hiện điều chỉnh tăng thêm 277,2 tỷ đồng do nhiều khoản chi phí không được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp và thêm 791,6 tỷ đồng từ các khoản chênh lệch tạm thời phải chịu thuế. Sau các điều chỉnh này, tổng thu nhập chịu thuế Prudential Việt Nam tăng lên 6.005,6 tỷ đồng.

Sau khi khấu trừ thu nhập miễn thuế, tổng thu nhập tính thuế của Prudential Việt Nam còn 5.683,2 tỷ đồng. Với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 20%, số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp cho năm tài chính 2025 tương ứng đạt 1.136,6 tỷ đồng, tăng mạnh so với mức 749,7 tỷ đồng của năm trước.

Ngoài nghĩa vụ thuế phát sinh trong năm, Prudential Việt Nam còn ghi nhận thêm 135,09 tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp trích thêm cho các năm trước. Theo thuyết minh, khoản này phát sinh từ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về thuế do Chi Cục thuế Doanh nghiệp lớn ban hành ngày 29/10/2025, căn cứ theo Quyết Định kiểm tra thuế và Biên bản kiểm tra cho các năm tài chính kết thúc ngày 31/12/2023 và ngày 31/12/2024. Công ty đã nộp số thuế thu nhập doanh nghiệp 135,09 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước ngày 06/11/2025.

Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng
Nguồn: Prudential Việt Nam.

Ngoài khoản truy thu trên, báo cáo tài chính đã kiểm toán cũng lưu ý Prudential Việt Nam đang chờ ý kiến hướng dẫn chính thức từ cơ quan có thẩm quyền cho một số khoản chi phí. Do đó, Công ty chưa thể xác định một cách chắc chắn những ảnh hưởng tiềm tàng, nếu có, để thực hiện điều chỉnh trên báo cáo tài chính riêng này.

Tại thời điểm cuối năm 2025, tổng tài sản của Prudential Việt Nam đạt khoảng 198.855 tỷ đồng, tăng gần 9.804 tỷ đồng so với năm 2024, tương ứng mức tăng khoảng 5,2%. Quy mô tài sản tiếp tục mở rộng theo xu hướng ổn định, tuy nhiên tốc độ tăng đã chậm lại đáng kể so với giai đoạn trước khi duy trì mức tăng hai chữ số. Cơ cấu tài sản tiếp tục nghiêng mạnh về tài sản dài hạn, đạt 147.072 tỷ đồng, chiếm khoảng 74% tổng tài sản, phản ánh đặc thù của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.

“Tổng giá trị tài sản đầu tư đạt 180.837 tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, đầu tư vào trái phiếu đạt 92.609 tỷ đồng” - đại diện Prudential Việt Nam cho biết.

Prudential Việt Nam lãi kỷ lục gần 5.000 tỷ đồng, phát sinh khoản xử phạt thuế hơn 135 tỷ đồng
Ảnh tư liệu.

Đáng chú ý, các khoản đầu tư tài chính tiếp tục đóng vai trò trụ cột, đem lại khoản lợi nhuận hơn 11.400 tỷ đồng năm 2025, cao chưa từng có. Tuy nhiên, hoạt động bảo hiểm vẫn ghi nhận lỗ gộp khoảng 1.583 tỷ đồng. Mức lỗ này đã cải thiện nhẹ 71 tỷ đồng so với năm trước, nhưng doanh nghiệp vẫn chưa thoát khỏi tình trạng lỗ gộp kéo dài.

Trong giai đoạn gần 10 năm vừa qua, lợi nhuận của Prudential Việt Nam biến động rất mạnh qua các năm. Sau khi tăng liên tục giai đoạn 2017 - 2020, lợi nhuận sau thuế doanh nghiệp năm 2021 giảm tới 79%, xuống chỉ còn 473 tỷ đồng, trước khi bật tăng 669% năm 2022 lên 3.637 tỷ đồng năm 2022. Sau hai năm suy giảm 2023 - 2024, lợi nhuận của Công ty hồi phục trở lại và cao nhất lịch sử hoạt động tại Việt Nam.

Dù vậy, điểm đáng chú ý, thu nhập chịu thuế năm 2025 Prudential Việt Nam cao hơn đáng kể lợi nhuận kế toán trước thuế. Cụ thể, lợi nhuận trước thuế khoảng 4.937 tỷ đồng, nhưng tổng thu nhập tính thuế lên tới 5.683 tỷ đồng, do doanh nghiệp phải cộng nhiều chi phí không được khấu trừ và hơn các khoản chênh lệch tạm thời chịu thuế./.

Tích lũy lãi gần 22.000 tỷ đồng, chuyển hơn 5.100 tỷ đồng về công ty mẹ

Sau khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025, lợi nhuận sau thuế Prudential Việt Nam đạt 3.870 tỷ đồng, tăng 41% so với năm trước. Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế đến cuối năm 2025 đạt hơn 21.775 tỷ đồng.

Prudential Việt Nam cho biết, căn cứ Nghị quyết Hội đồng Thành viên được phê duyệt ngày 27/02/2026, Công ty đã thực hiện chuyển lợi nhuận giữ lại của các năm từ 2018 - 2020 với tổng số tiền là 5.104 tỷ đồng cho công ty mẹ Prudential Corporation Holding Ltd vào ngày 19/03/2026./.

Tú Anh

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

(TBTCO) - Sáng ngày 7/5, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm 40 đồng xuống quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Còn DXY nhích nhẹ lên 98,03 điểm sau khi rơi dưới mốc 98 điểm, nhờ kỳ vọng căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt, eo biển Hormuz có thể được mở cửa trở lại và áp lực trú ẩn vào USD suy yếu.
Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao "0 đồng" thành "nam châm" hút vốn

(TBTCO) - Khảo sát tại 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng tiền gửi khách hàng đến cuối quý I/2026 đạt gần 12,9 triệu tỷ đồng, nhích 0,6% so với cuối năm 2025 và tăng khoảng 5% so với cuối quý III/2025 - thời điểm "sóng" lãi suất huy động dâng mạnh toàn hệ thống. Nhóm ngân hàng nhận chuyển giao 0 đồng nổi lên với tốc độ tăng huy động vượt trội, trong khi nhiều nhà băng khó hút tiền gửi.
Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh lên 4.696 USD/ounce - mức cao nhất trong hơn một tuần. Bên cạnh đó, giá vàng trong nước cũng đồng loạt điều chỉnh tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn.
Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

Hàng loạt ngân hàng lớn tăng tốc lập “cứ điểm” tại Trung tâm Tài chính quốc tế

(TBTCO) - Làn sóng tham gia Trung tâm Tài chính quốc tế nóng lên tại mùa đại hội cổ đông ngân hàng năm nay, khi nhiều nhà băng lớn lên kế hoạch thành lập ngân hàng con để mở rộng sang các mảng mới, về thanh toán xuyên biên giới, tài sản số, thị trường vốn quốc tế... Tuy nhiên, để tham gia “sân chơi” này, các ngân hàng phải đáp ứng loạt điều kiện chặt chẽ.
Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

Sau nhịp hạ nhiệt, ngân hàng nào trả lãi suất cao kỳ hạn 6 tháng?

(TBTCO) - Khảo sát ngày 5/5 cho thấy, sau cuộc họp 9/4, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng đã đồng loạt giảm 0,1 - 0,6 điểm phần trăm tại nhiều ngân hàng. Tuy vậy, mặt bằng hiện vẫn cao hơn giai đoạn đầu của làn sóng tăng lãi suất từ 0,2 - 2,9 điểm phần trăm. Đáng chú ý, một số ngân hàng vẫn duy trì mức 6,5 - 7,3%/năm, chưa kể các chương trình cộng lãi suất ngoài.
Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng 37,98% và giá trị tăng 14,22% cùng kỳ. Đáng chú ý, nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 90% giao dịch thực hiện qua kênh số, phản ánh xu hướng số hóa ngày càng rõ nét.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Kim TT/AVPL 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 15,400 ▲150K 15,600 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 15,350 ▲150K 15,550 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 ▲150K 16,600 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 ▲150K 16,550 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 ▲150K 16,530 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,940 ▲150K 16,640 ▲150K
Trang sức 99.99 15,950 ▲150K 16,650 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 07/05/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18550 18827 19400
CAD 18759 19037 19651
CHF 33173 33559 34204
CNY 0 3827 3919
EUR 30316 30590 31615
GBP 35019 35413 36344
HKD 0 3229 3431
JPY 161 165 172
KRW 0 17 18
NZD 0 15391 15981
SGD 20235 20518 21043
THB 734 797 850
USD (1,2) 26046 0 0
USD (5,10,20) 26087 0 0
USD (50,100) 26116 26135 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,118 26,118 26,368
USD(1-2-5) 25,074 - -
USD(10-20) 25,074 - -
EUR 30,463 30,487 31,784
JPY 164.05 164.35 173.39
GBP 35,213 35,308 36,345
AUD 18,756 18,824 19,438
CAD 18,978 19,039 19,643
CHF 33,436 33,540 34,348
SGD 20,369 20,432 21,131
CNY - 3,801 3,927
HKD 3,300 3,310 3,431
KRW 16.72 17.44 18.88
THB 777.92 787.53 839.47
NZD 15,373 15,516 15,898
SEK - 2,804 2,890
DKK - 4,077 4,199
NOK - 2,787 2,872
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,306.02 - 7,085.34
TWD 758.86 - 914.71
SAR - 6,911.29 7,242.98
KWD - 83,791 88,706
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,360 30,482 31,665
GBP 35,154 35,295 36,308
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,196 33,329 34,276
JPY 164.47 165.13 172.67
AUD 18,687 18,762 19,359
SGD 20,398 20,480 21,068
THB 795 798 833
CAD 18,953 19,029 19,607
NZD 15,419 15,955
KRW 17.37 19.11
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26368
AUD 18709 18809 19734
CAD 18952 19052 20067
CHF 33413 33443 35017
CNY 3806.5 3831.5 3967
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30493 30523 32248
GBP 35292 35342 37103
HKD 0 3355 0
JPY 165.08 165.58 176.09
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15481 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20384 20514 21244
THB 0 761.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16660000
SBJ 14000000 14000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,368
USD20 26,140 26,190 26,368
USD1 23,858 26,190 26,368
AUD 18,751 18,851 19,971
EUR 30,633 30,633 32,061
CAD 18,899 18,999 20,318
SGD 20,452 20,602 21,176
JPY 165.47 166.97 171.64
GBP 35,184 35,534 36,650
XAU 16,298,000 0 16,602,000
CNY 0 3,713 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/05/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80