Prudential Việt Nam bền bỉ và kiên định mục tiêu kinh doanh có trách nhiệm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa thông báo chính thức về Báo cáo tài chính thường niên 2023. Trong bối cảnh thị trường bảo hiểm đối mặt nhiều yếu tố không thuận lợi, báo cáo tài chính của Prudential cho thấy những kết quả tích cực, thể hiện hoạt động vận hành và đầu tư hiệu quả, đảm bảo vai trò đối với nền kinh tế và thực thi trách nhiệm đã cam kết với khách hàng.
aa
Prudential Việt Nam bền bỉ và kiên định mục tiêu kinh doanh có trách nhiệm
Tổng số ca chi trả bồi thường bảo hiểm trong năm 2023 là 179.000 trường hợp. Ảnh: T.L

Tính đến cuối năm 2023, mặc dù doanh thu thuần từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm giảm 12,9% đạt 26.594 tỷ đồng, tổng doanh thu của Prudential đạt 37.250 tỷ đồng, tăng 7,6% (so với năm trước). Kết quả này có sự đóng góp của doanh thu từ hoạt động đầu tư. Năm 2023, Prudential ghi nhận lợi nhuận sau thuế là 3.114 tỷ đồng.

Tổng giá trị tài sản của Prudential đạt 176.673 tỷ đồng, tăng 9,2%. Tổng tài sản đầu tư trái phiếu chính phủ đạt 72.116 tỷ đồng, tăng 14,1%.

Prudential cũng duy trì được biên thanh khoản luôn ở mức cao hơn yêu cầu, đảm bảo khả năng chi trả cho khách hàng với 144,5%. Tổng bồi thường bảo hiểm đạt 1.900 tỷ đồng, tăng 16%. Tổng số ca chi trả bồi thường bảo hiểm trong năm 2023 là 179.000 trường hợp. Tính đến cuối năm, có hơn 82% yêu cầu giải quyết quyền lợi từ khách hàng được nộp trực tuyến, trong đó gần 20% yêu cầu được xử lý trong vòng 30 phút (tăng 5% so với năm 2022).

Tổng giám đốc Prudential Việt Nam Phương Tiến Minh cho biết: “Những thách thức tạm thời của năm 2023 mở ra cơ hội để chúng tôi tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng và cải thiện chất lượng của các kênh phân phối. Sự ra đời đúng thời điểm của Luật Kinh doanh bảo hiểm mới giúp toàn ngành bảo hiểm đánh giá lại và cải tiến để trở nên tốt hơn, hướng tới quyền lợi của người tham gia bảo hiểm. Chúng tôi sẽ tiếp tục đầu tư vào các hoạt động cần thiết để đảm bảo sự tuân thủ, tăng cường chất lượng bán hàng, cũng như nâng cao trải nghiệm cho khách hàng của mình”.

Cùng với cam kết tuân thủ Luật Kinh doanh bảo hiểm và luôn “Lấy khách hàng làm kim chỉ nam”, năm qua, Prudential đã thực hiện và điều chỉnh Bộ tài liệu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, mang đến sự yên tâm và hài lòng cho khách hàng. Năm 2023, Prudential nằm trong nhóm công ty bảo hiểm nhân thọ dẫn đầu về chỉ số hài lòng và sẵn lòng giới thiệu của khách hàng (rNPS).

Với định hướng đầu tư lâu dài và bền vững tại Việt Nam, từ nửa cuối năm 2023, Prudential lần lượt khai trương chuỗi ba (3) trung tâm chăm sóc khách hàng với mô hình mới, tại TP. Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh.

Năm 2023, Prudential cũng tiếp tục đầu tư vào các hoạt động cộng đồng trong 3 lĩnh vực giáo dục, an toàn và sống khỏe, với tổng ngân sách gần 17 tỷ đồng.

“Năm 2024 là một cột mốc đặc biệt với Prudential khi chúng tôi kỷ niệm 25 năm hoạt động tại Việt Nam. Chúng tôi khẳng định sẽ luôn tiên phong trong việc tuân thủ quy định pháp luật, tiếp tục đóng góp tích cực vào sự phát triển bền vững thông qua các dự án hỗ trợ cộng đồng và luôn đồng hành cùng Chính phủ Việt Nam thực hiện mục tiêu xây dựng nền kinh tế xanh” - ông Phương Tiến Minh chia sẻ thêm.

Prudential hiện là một trong những tổ chức tài chính đang hành động theo thỏa thuận chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) với quy mô cam kết 15,5 tỷ USD, nhằm thúc đẩy nhanh kênh dẫn vốn này vào Việt Nam. Năm 2023, Prudential tổ chức hội thảo “Trái phiếu xanh & Đầu tư chuyển đổi tại Việt Nam” để thu thập ý kiến phản hồi về cách thức hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển của thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam.

Gần đây nhất, Prudential đã cho ra đời quỹ liên kết đơn vị “PRUlink tương lai xanh”. Đây là quỹ liên kết đơn vị đầu tiên trên thị trường bảo hiểm nhân thọ, mang đến cho khách hàng sở hữu sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị quyền lựa chọn đầu tư theo định hướng phát triển bền vững, phù hợp với xu thế toàn cầu.

Những nỗ lực của Prudential trong năm qua được ghi nhận bởi các tổ chức trong nước và quốc tế với các hạng mục giải thưởng như: “Công ty bảo hiểm nhân thọ quốc tế của năm” (International Life Insurer of the Year) từ Insurance Asia Awards; “Sáng kiến ESG của năm” (ESG Initiative of the Year) – dành cho những dự án thiết thực đóng góp trực tiếp vào việc giải quyết các vấn đề xã hội và phát triển bền vững từ Insurance Asia Awards; Top 100 doanh nghiệp bền vững (Chương trình CSI 2023 do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức); “Doanh nghiệp xuất sắc và bền vững tại châu Á” (The Asia Corporate Excellence & Sustainability Awards (ACES), ghi nhận các công ty tiên phong ở châu Á, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhân lực, nguồn lực và tác động toàn cầu…/.

Hồng Chi

Đọc thêm

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

Hà Nội thúc vốn cho dự án, mở thêm kênh huy động dài hạn

(TBTCO) - Tại Hội nghị “Giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030” do UBND TP. Hà Nội phối hợp với Ngân hàng Nhà nước tổ chức chiều 12/9, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước và TP. Hà Nội thống nhất nhiều giải pháp nhằm khơi thông dòng vốn, tháo gỡ điểm nghẽn cho các dự án và đa dạng hóa nguồn lực tài chính phục vụ tăng trưởng.
Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

Hà Nội: Tín dụng tăng 13,05%, bài toán khơi thông vốn cho giai đoạn mới

(TBTCO) - Trong 8 tháng đầu năm 2026, huy động vốn trên địa bàn Hà Nội tăng 10,78%, dư nợ tín dụng tăng 13,05%, đưa Thủ đô tiếp tục dẫn đầu cả nước về quy mô huy động và cho vay.
Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

Hà Nội khơi thông nguồn vốn, tạo động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Trước yêu cầu tăng trưởng GRDP từ 11% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030, Hà Nội xác định khơi thông các nguồn lực tài chính, đặc biệt là vốn tín dụng và nguồn lực doanh nghiệp, là nhiệm vụ trọng tâm.
Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (12/9): USD ngân hàng hạ sâu, lạm phát cơ bản Mỹ vượt dự báo trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm khép lại tuần ở 25.596 đồng/USD, giảm 9 đồng và là tuần giảm thứ hai liên tiếp; USD ngân hàng cũng đồng loạt đi xuống, trong khi DXY giữ mốc 99 điểm. Tại Mỹ, lạm phát cơ bản tháng 8 tăng 0,3% so với tháng trước, cao hơn dự báo 0,2%, làm nóng kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17975 18249 18831
CAD 18151 18427 19046
CHF 31126 31504 32155
CNY 0 3832 3928
EUR 29361 29582 30662
GBP 34253 34643 35580
HKD 0 3184 3386
JPY 161 164 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14650 15241
SGD 19899 20181 20750
THB 697 760 814
USD (1,2) 25736 0 0
USD (5,10,20) 25775 0 0
USD (50,100) 25803 25817 26184
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,400 29,424 30,820
JPY 163.47 163.76 173.66
GBP 34,425 34,518 35,712
AUD 18,169 18,235 18,924
CAD 18,332 18,391 19,072
CHF 31,376 31,474 32,405
SGD 20,019 20,081 20,868
CNY - 3,800 3,946
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.7 18.46 20.09
THB 745.51 754.72 808.1
NZD 14,628 14,764 15,205
SEK - 2,613 2,706
DKK - 3,943 4,083
NOK - 2,735 2,833
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,954.87 - 6,721.37
TWD 738.48 - 894.7
SAR - 6,804 7,167.1
KWD - 82,423 87,705
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,795 25,825 26,205
EUR 29,462 29,580 30,778
GBP 34,466 34,604 35,634
HKD 3,249 3,262 3,378
CHF 31,259 31,385 32,319
JPY 164.07 164.73 172.71
AUD 18,197 18,270 18,864
SGD 20,103 20,184 20,777
THB 763 766 802
CAD 18,362 18,436 19,026
NZD 14,729 15,268
KRW 18.37 20.31
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26180
AUD 18193 18293 19218
CAD 18340 18440 19460
CHF 31373 31403 32993
CNY 3813.4 3838.4 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29549 29579 31301
GBP 34556 34606 36377
HKD 0 3305 0
JPY 164.5 165 175.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14781 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20067 20197 20918
THB 0 726.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Cập nhật: 15/09/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30