Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Ánh Tuyết
Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
aa
Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn Giải “cơn khát” vốn trung và dài hạn nhìn từ áp lực thanh khoản Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

Không phải “bước lùi” quản trị rủi ro, cho vay trung dài hạn có thể tăng 23%

Theo lộ trình tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn (SMLR) đã được điều chỉnh giảm dần từ 40% xuống 30% và chính thức áp dụng từ ngày 1/10/2023.

Tuy nhiên, trong Thông tư số 25/2026/TT-NHNN ngày 22/6/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 25), Ngân hàng Nhà nước đã chính thức nâng giới hạn này trở lại mức tối đa 40% đối với các ngân hàng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Đánh giá tác động của Thông tư 25 đến hệ thống ngân hàng, Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS) cho rằng, quy định này tạo dư địa để các ngân hàng thúc đẩy tín dụng kỳ hạn trung và dài hạn, qua đó, nâng cao khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế.

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?
Nguồn: VCBS.
“Ước tính, tỷ trọng dư nợ cho vay trung dài hạn của hệ thống ngân hàng sẽ trở lại mức 48 - 49% như giai đoạn 2020 - 2021 (năm 2025 ghi nhận tỷ lệ 46%), tương đương tốc độ tăng trưởng ước tính đạt 23% tính từ đầu năm trong năm 2026” - VCBS tính toán.

Nhóm phân tích VCBS cũng dự báo Thông tư 25 có thể giúp tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn tăng thêm 10%, tương đương với lượng dư nợ trung dài hạn tối đa có thể bơm thêm vào nền kinh tế ước tính đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng.

Phần dư nợ tăng thêm này chủ yếu sẽ hỗ trợ các ngành có chu kỳ hoàn vốn dài như: bất động sản, năng lượng tái tạo, đầu tư công và hạ tầng công nghiệp. Theo đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn ngành kỳ vọng đạt 17% so với đầu năm.

“Việc nâng trần lên 40% không phải là sự “lùi bước” trong quản trị rủi ro, mà là biện pháp nới lỏng có tính toán để hỗ trợ nền kinh tế, tạo thời gian và không gian cho các ngân hàng tích lũy nguồn lực trước khi bước vào giai đoạn chuẩn hóa Basel III khắt khe hơn từ năm 2028” - nhóm phân tích nêu quan điểm.

Bên cạnh đó, hỗ trợ giảm áp lực huy động vốn kỳ hạn dài và tạo động lực cải thiện NIM (biên lãi ròng).

Trong bối cảnh lãi suất huy động dài hạn thường cao hơn đáng kể so với kỳ hạn ngắn, việc được phép sử dụng nhiều hơn nguồn vốn ngắn hạn sẽ giúp áp lực phải phát hành trái phiếu tăng vốn cấp 2 kỳ hạn dài với lãi suất cao, góp phần cải thiện chi phí vốn và hỗ trợ NIM của ngân hàng trong nửa cuối năm 2026.

Ngân hàng sát ngưỡng 30% được gỡ áp lực

Đánh giá triển vọng của từng nhóm ngân hàng với việc Thông tư 25 được thông qua, VCBS cho rằng, nhóm ngân hàng quốc doanh (BIDV, VietinBank, Vietcombank) luôn duy trì tỷ lệ SMLR ở mức rất an toàn dao động từ 20 - 25%.

Nhóm này sở hữu lợi thế lớn về cấu trúc tiền gửi có kỳ hạn dài ổn định và lượng vốn điều lệ lớn. Cùng với việc sửa đổi công thức tính LDR cho phép bổ sung trở lại 20% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào huy động, nhóm này sẽ được hỗ trợ thanh khoản, nhằm thúc đẩy tín dụng các lĩnh vực xây dựng đầu tư công, tài trợ dự án hạ tầng giao thông, năng lượng...

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?
Nguồn: VCBS.

Nhóm ngân hàng tư nhân lớn: Techcombank, MB, SACOMBANK, ACB, VPBank kiểm soát tỷ lệ SMLR ổn định xung quanh mức khá cao 24 - 27%. Nhóm này tận dụng tốt dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA) dồi dào để tối ưu hóa chi phí vốn mà không vi phạm quy định rủi ro kỳ hạn.

Dự thảo được thông qua sẽ tạo thêm dư địa đẩy mạnh cho vay các phân khúc có lợi suất cao như: cho vay mua nhà, cho vay dự án hạ tầng và bất động sản, đồng thời giảm nhu cầu huy động vốn dài hạn với chi phí cao, qua đó hỗ trợ cải thiện NIM.

Với nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ, một số ngân hàng quy mô nhỏ có tỷ trọng cho vay xây dựng - bất động sản rất cao và đang bám sát trần quy định với mức tỷ lệ SMLR sát ngưỡng 29% - 30%. Việc Ngân hàng nhà nước đề xuất nâng trần lên 40% đã tháo gỡ áp lực trực tiếp cho nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ, giảm bớt cuộc đua lãi suất huy động kỳ hạn dài.

Ngoài ra, nhóm tiên phong triển khai sớm Basel III như: VIB, Techcombank, ACB, VPBank, HDBank, TPBank, OCB sẽ có lợi thế lớn, nhờ việc được miễn áp dụng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn và nới lỏng room tăng trưởng tín dụng. Nhờ đó, các ngân hàng này có thể tối ưu hóa việc sử dụng vốn và bảo vệ NIM, đồng thời chủ động cân bằng giữa rủi ro và tăng trưởng trong dài hạn./.

Yêu cầu cao hơn với quản trị thanh khoản và tối ưu danh mục

Tuy nhiên việc nới trần tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn cũng đặt ra những thách thức cho hệ thống ngân hàng.

VCBS cho rằng, việc nới lỏng giới hạn này cũng làm gia tăng yêu cầu đối với công tác quản trị rủi ro thanh khoản các ngân hàng trong bối cảnh cơ cấu nguồn vốn của hệ thống ngân hàng hiện vẫn chủ yếu dựa vào tiền gửi ngắn hạn dưới 12 tháng (chiếm 80 - 90% tổng tiền gửi), trong khi nhu cầu tín dụng của nền kinh tế tập trung nhiều ở các khoản vay trung và dài hạn.

Điều này có thể làm gia tăng chênh lệch kỳ hạn giữa tài sản và nguồn vốn, cũng như yêu cầu chiến lược tối ưu hóa danh mục và quản trị rủi ro thanh khoản hợp lý của các ngân hàng cho từng giai đoạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

(TBTCO) - Sáng 24/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.192 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đạt 101,44 điểm, tăng 0,03% khi kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách gia tăng; xác suất nâng lãi suất trong tháng 9 đã tăng lên 70,2%. Trong khi đó, đồng yên suy yếu mạnh, làm gia tăng lo ngại Nhật Bản có thể can thiệp.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 23/6: Thế giới tăng thêm 36 USD/ounce, trong nước quay đầu giảm nhẹ

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 36 USD/ounce so với phiên trước, giao dịch quanh mức 4.192 USD/ounce. Trong nước, ghi nhận sáng ngày 23/6, giá vàng miếng và vàng nhẫn lại quay đầu giảm nhẹ ở nhiều doanh nghiệp vàng lớn.
Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

Chính thức nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40% sau nhiều năm siết chặt

(TBTCO) - Ngày 22/6/2026, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, trong đó, nổi bật là việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, sau chưa đầy 1 tuần công bố dự thảo để lấy ý kiến. Động thái mới được kỳ vọng mở rộng dư địa cấp vốn trung dài hạn cho nền kinh tế.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▼100K 13,500 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▼100K 13,450 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,790 ▼100K 14,490 ▼100K
Trang sức 99.99 13,800 ▼100K 14,500 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 24/06/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17622 17895 18476
CAD 17968 18243 18858
CHF 31770 32151 32801
CNY 0 3828 3921
EUR 29248 29468 30543
GBP 33897 34287 35231
HKD 0 3228 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14553 15141
SGD 19748 20030 20605
THB 703 766 819
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26152 26451
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,131 26,131 26,451
USD(1-2-5) 25,086 - -
USD(10-20) 25,086 - -
EUR 29,452 29,476 30,808
JPY 158.58 158.87 168.06
GBP 34,153 34,245 35,343
AUD 17,873 17,938 18,573
CAD 18,188 18,246 18,871
CHF 32,095 32,195 33,058
SGD 19,898 19,960 20,698
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,293 3,303 3,434
KRW 15.73 16.4 17.8
THB 752.94 762.24 813.9
NZD 14,582 14,717 15,114
SEK - 2,658 2,745
DKK - 3,940 4,069
NOK - 2,639 2,726
LAK - 0.91 1.27
MYR 5,948.8 - 6,699.53
TWD 749.79 - 906.17
SAR - 6,902.31 7,252.78
KWD - 83,298 88,418
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,131 26,451
EUR 29,387 29,505 30,684
GBP 34,121 34,258 35,268
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,944 32,072 32,985
JPY 158.76 159.40 167.20
AUD 17,866 17,938 18,524
SGD 19,946 20,026 20,602
THB 771 774 809
CAD 18,191 18,264 18,824
NZD 14,667 15,197
KRW 16.42 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26451
AUD 17859 17959 18887
CAD 18170 18270 19285
CHF 32083 32113 33695
CNY 3816.5 3841.5 3976.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29480 29510 31235
GBP 34223 34273 36033
HKD 0 3355 0
JPY 159.37 159.87 170.4
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14703 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19909 20039 20767
THB 0 734 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,150 26,101 26,451
USD20 26,150 26,101 26,451
USD1 23,933 26,101 26,451
AUD 17,908 18,008 19,132
EUR 29,634 29,634 31,053
CAD 18,121 18,221 19,535
SGD 19,990 20,140 20,708
JPY 159.87 161.37 166
GBP 34,124 34,474 35,349
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/06/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80