Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng giúp ngân hàng giảm áp lực huy động vốn dài hạn, cải thiện NIM và tăng khả năng cung ứng tín dụng. Tuy nhiên, chính sách cũng có thể làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn, dòng vốn liên đới bất động sản và khiến chi phí vốn ngắn hạn cho sản xuất kinh doanh đắt đỏ hơn.
aa
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR Ngân hàng “gồng mình” giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn Tín dụng trung dài hạn tăng mạnh 27%, ngân hàng trước sức ép thanh khoản gia tăng

Công ty Cổ phần Chứng khoán KB Việt Nam (Chứng khoán KB - KBSV) vừa có báo cáo đánh giá tác động lên ngành ngân hàng trước đề xuất nới trần tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn lên 40% của Ngân hàng Nhà nước.

Trước đó, ngày 17/6/2026, Ngân hàng Nhà nước công bố dự thảo sửa đổi Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, trong đó, đề xuất nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ mức 30% hiện hành lên 40%. Đây là thay đổi đáng chú ý khi tỷ lệ này đã được siết giảm theo lộ trình từ 40% xuống 30% kể từ 2020 đến nay, nhằm hạn chế rủi ro kỳ hạn trong hệ thống ngân hàng.

“Động thái nới lỏng của Ngân hàng Nhà nước cho thấy ưu tiên chính sách đang chuyển sang hỗ trợ tăng trưởng tín dụng và đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài hạn của nền kinh tế trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao và áp lực huy động vốn dài hạn của các ngân hàng gia tăng” - Chứng khoán KB nhận định.

Đánh giá tác động lên hệ thống ngân hàng, Chứng khoán KB nhìn nhận dự thảo này kỳ vọng sẽ tạo tác động tích cực lên ngành ngân hàng ở các khía cạnh là biên lãi ròng (NIM) và tăng trưởng tín dụng.

Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn
“Chúng tôi không loại trừ khả năng mức độ mất cân đối giữa kỳ hạn nguồn vốn và kỳ hạn tài sản gia tăng khi các ngân hàng thương mại đẩy mạnh tài trợ cho các khoản vay trung dài hạn bằng nguồn vốn ngắn hạn” - Chứng khoán KB lưu ý.

Theo đó, với NIM, việc nới trần tỷ lệ cho phép các ngân hàng thương mại gia tăng tỷ trọng sử dụng nguồn vốn ngắn hạn có chi phí vốn (COF) thấp hơn để tài trợ cho danh mục tín dụng trung và dài hạn, qua đó, giảm áp lực huy động vốn kỳ hạn dài hoặc phát hành giấy tờ có giá với COF cao hơn đáng kể và cải thiện NIM.

Với tăng trưởng tín dụng, Chứng khoán KB cho rằng, trong bối cảnh Chính phủ đẩy mạnh đầu tư công, phát triển hạ tầng chiến lược và thúc đẩy đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn trung và dài hạn được kỳ vọng duy trì tích cực.

Việc điều chỉnh tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung dài hạn lên 40% góp phần gia tăng khả năng cung ứng vốn trung và dài hạn, đồng thời giảm bớt áp lực về cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn của hệ thống.

“Cùng với xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ của ngành ngân hàng, yêu cầu về quản trị tài sản - nguồn vốn và kiểm soát rủi ro thanh khoản cần được chú trọng hơn, đặc biệt trong bối cảnh lãi suất biến động như hiện tại” - nhóm phân tích Chứng khoán KB phân tích.

Tại báo cáo “Định hướng thanh khoản - Gỡ nút thắt” mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán Mirae Asset Việt Nam (Chứng khoán Mirae Asset) cho rằng, các ngân hàng lớn mặc dù vẫn duy trì được tỷ lệ huy động ngắn hạn cho vay trung và dài hạn phù hợp, dư địa cũng ngày càng thu hẹp. Ngược lại, nhu cầu cung ứng vốn từ hệ thống tín dụng cho các dự án/đại dự án (vay dài hạn) lại tương đối lớn và cấp bách.

Trong bối cảnh đó, thay vì hỗ trợ thanh khoản trực tiếp vào hệ thống từ phía nhà điều hành, dự thảo mới sửa đổi Thông tư số 22/2019/TT-NHNN cho phép sử dụng nhiều vốn ngắn hạn hơn cho các hoạt động tín dụng trung và dài hạn.

Nhóm phân tích Chứng khoán Mirae Asset cho rằng, đề xuất này không ảnh hưởng trực tiếp đến cung tiền, tránh ảnh hưởng đến tỷ giá và lạm phát, nhưng được kỳ vọng sẽ giảm áp lực tái cơ cấu kỳ hạn đối với các ngân hàng thương mại.

Nếu được sớm áp dụng, dự thảo thông tư sẽ hỗ trợ thu nhập cho các thành phần kinh tế bao gồm ngân hàng thương mại (ổn định biên lãi suất) và các thực thể có nhu cầu vay (lãi suất cho vay không tiếp tục tăng).

Đánh giá nhóm ngân hàng được hưởng lợi, Chứng khoán KB kỳ vọng các nhóm ngân hàng sẽ có lợi thế rõ nét hơn một khi dự thảo được thông qua gồm: nhóm sở hữu tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung dài hạn tiệm cận mức trần 30% theo quy định tại Thông tư 22/2019/TT-NHNN; nhóm có danh mục cho vay trung dài hạn chiếm tỷ trọng lớn; nhóm ngân hàng có nguồn vốn CASA (tiền gửi không kỳ hạn) dồi dào./.

Dòng vốn có thể gián tiếp chảy vào bất động sản, vốn ngắn hạn đắt đỏ hơn

Chứng khoán Mirae Asset cũng chỉ rõ những rủi ro cần theo dõi khi nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ mức 30% hiện hành lên 40%.

Theo đó, định hướng từ đầu 2026, nhằm giảm thiểu rủi ro tập trung đối với bất động sản, Ngân hàng Nhà nước đã hạn chế tốc độ giải ngân đối với nhóm này trên bình diện chung. Mục tiêu của dự thảo được cho là nhằm hỗ trợ cấp vốn thực hiện các dự án đầu tư công hoặc các đại dự án cấp quốc gia được thực hiện bởi các tập đoàn tư nhân, những dự án này cũng không thể tránh khỏi có phần liên quan đến bất động sản. Thực tế, tại các dự án BT về đổi dự án lấy hạ tầng, mặc dù mục đích giải ngân có thể sẽ được ghi nhận không liên quan đến bất động sản, nhưng về bản chất cũng vẫn có sự liên đới.

“Nhìn vào diễn biến tăng trưởng tín dụng quý I/2026, đa phần hạn mức tăng trưởng được sử dụng triệt để, cho thấy sự phụ thuộc lớn của kinh tế vào tín dụng, nhưng nếu nắn dòng vốn thiên về cho vay dài hạn, những khoản vay ngắn hạn cho mục đích sản xuất kinh doanh có thể bị đội chi phí do lệch pha cung cầu” - Chứng khoán Mirae Asset lưu ý./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

Giá vàng hôm nay ngày 22/6: Vàng miếng, vàng nhẫn bật tăng thêm cả triệu

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 22/6 tiếp tục bật tăng khá mạnh. Ghi nhận đầu giờ, cả giá vàng miếng và vàng nhẫn ở các cửa hàng kinh doanh vàng đều tăng từ 1,5 - 2 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm Bảo Việt: Thương hiệu niềm tin của nhiều thế hệ khách hàng

Bảo hiểm Bảo Việt: Thương hiệu niềm tin của nhiều thế hệ khách hàng

(TBTCO) - Trong ngành bảo hiểm, có một sự khác biệt rất lớn giữa “doanh nghiệp dẫn đầu thị phần” và “thương hiệu dẫn đầu niềm tin”. Thị phần có thể thay đổi theo từng giai đoạn của thị trường, nhưng niềm tin là thứ chỉ được tạo dựng sau rất nhiều năm duy trì năng lực tài chính, khả năng chi trả và sự ổn định trong những thời điểm khó khăn nhất.
Dai-ichi Life Việt Nam: Giữ nhịp tăng trưởng, thúc đẩy ESG trong chu kỳ tái định hình thị trường

Dai-ichi Life Việt Nam: Giữ nhịp tăng trưởng, thúc đẩy ESG trong chu kỳ tái định hình thị trường

(TBTCO) - Sau hơn 19 năm hoạt động tại Việt Nam, Dai-ichi Life Việt Nam tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định và đẩy mạnh thực thi các mục tiêu ESG, khẳng định định hướng phát triển dài hạn dựa trên nền tảng tài chính vững chắc, đổi mới liên tục và trách nhiệm đồng hành cùng khách hàng, cộng đồng và nền kinh tế.
Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

Nâng chuẩn dịch vụ bảo hiểm từ năng lực bồi thường và công nghệ số

(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ngày càng cạnh tranh về chất lượng dịch vụ, năng lực bồi thường và mức độ số hóa đang trở thành thước đo quan trọng đối với uy tín doanh nghiệp. Với Bảo hiểm PVI, hai yếu tố này không chỉ hỗ trợ tăng trưởng, mà còn trực tiếp định hình trải nghiệm khách hàng tại thời điểm rủi ro xảy ra.
Goldman Sachs hạ dự báo giá vàng thêm 500 USD do Fed không cắt giảm lãi suất

Goldman Sachs hạ dự báo giá vàng thêm 500 USD do Fed không cắt giảm lãi suất

(TBTCO) - Tập đoàn Goldman Sachs đã cắt giảm dự báo giá vàng cuối năm thêm 500 USD/ounce do Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) không còn được kỳ vọng sẽ giảm lãi suất trong năm 2026.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

(TBTCO) - Sau khi ghi nhận tăng trưởng tín dụng gần 37% trong năm 2025, thuộc nhóm cao nhất hệ thống, bước sang năm 2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 30% và duy trì dư địa tăng trưởng 30 - 35% trong những năm tới. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phạm Như Ánh - Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc MB đã chia sẻ về những yếu tố tạo nền tăng trưởng cho MB, định hướng dòng vốn cũng như chiến lược cân bằng giữa mở rộng quy mô và kiểm soát rủi ro.
Giá vàng hôm nay ngày 19/6: Vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh giảm

Giá vàng hôm nay ngày 19/6: Vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng tiếp tục duy trì phổ biến ở mức 148,8 - 151,3 triệu đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp, trong khi vàng nhẫn giảm tại nhiều thương hiệu, có nơi lùi về vùng 145,8 - 149,8 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,500 ▲80K 14,800 ▲80K
Kim TT/AVPL 14,500 ▲80K 14,800 ▲80K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 ▲80K 14,800 ▲80K
Nguyên Liệu 99.99 13,360 ▲310K 13,560 ▲310K
Nguyên Liệu 99.9 13,310 ▲310K 13,510 ▲310K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 ▲300K 14,600 ▲400K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 ▲300K 14,550 ▲400K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 ▲300K 14,530 ▲400K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,900 ▲700K 147,900 ▲700K
Hà Nội - PNJ 144,900 ▲700K 147,900 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 144,900 ▲700K 147,900 ▲700K
Miền Tây - PNJ 144,900 ▲700K 147,900 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 144,900 ▲700K 147,900 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,900 ▲700K 147,900 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,500 ▲80K 14,800 ▲80K
Miếng SJC Nghệ An 14,500 ▲80K 14,800 ▲80K
Miếng SJC Thái Bình 14,500 ▲80K 14,800 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,480 ▲130K 14,780 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,480 ▲130K 14,780 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,480 ▲130K 14,780 ▲80K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,970 ▲80K 14,670 ▲80K
Trang sức 99.99 13,980 ▲80K 14,680 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1297K 148 ▼1324K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 145 ▼1297K 14,802 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 145 ▼1297K 14,803 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,449 ▲8K 1,479 ▲8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,449 ▲8K 148 ▼1324K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,429 ▲8K 1,464 ▲8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,795 ▼123363K 14,495 ▼129663K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,461 ▲600K 109,961 ▲600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,212 ▲544K 99,712 ▲544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,963 ▲488K 89,463 ▲488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,601 ▼67942K 8,551 ▼76492K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,705 ▲334K 61,205 ▲334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1297K 148 ▼1324K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1297K 148 ▼1324K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1297K 148 ▼1324K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1297K 148 ▼1324K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1297K 148 ▼1324K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1297K 148 ▼1324K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1297K 148 ▼1324K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1297K 148 ▼1324K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1297K 148 ▼1324K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1297K 148 ▼1324K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 145 ▼1297K 148 ▼1324K
Cập nhật: 22/06/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17906 18180 18753
CAD 18023 18298 18911
CHF 31916 32297 32939
CNY 0 3842 3934
EUR 29521 29742 30823
GBP 33976 34366 35297
HKD 0 3226 3428
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14764 15349
SGD 19820 20102 20673
THB 714 778 831
USD (1,2) 26050 0 0
USD (5,10,20) 26091 0 0
USD (50,100) 26120 26134 26442
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,122 26,122 26,442
USD(1-2-5) 25,078 - -
USD(10-20) 25,078 - -
EUR 29,705 29,729 31,076
JPY 158.7 158.99 168.19
GBP 34,232 34,325 35,426
AUD 18,146 18,212 18,853
CAD 18,247 18,306 18,933
CHF 32,229 32,329 33,196
SGD 19,974 20,036 20,776
CNY - 3,817 3,954
HKD 3,293 3,303 3,434
KRW 15.84 16.52 17.93
THB 763.75 773.18 825.84
NZD 14,788 14,925 15,333
SEK - 2,703 2,793
DKK - 3,974 4,105
NOK - 2,673 2,762
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,945.62 - 6,697.61
TWD 752.16 - 908.47
SAR - 6,898.8 7,249.72
KWD - 83,362 88,487
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,102 26,122 26,442
EUR 29,622 29,741 30,924
GBP 34,190 34,327 35,338
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 32,031 32,160 33,056
JPY 158.84 159.48 167.28
AUD 18,113 18,186 18,777
SGD 20,022 20,102 20,682
THB 780 783 818
CAD 18,236 18,309 18,863
NZD 14,854 15,387
KRW 16.47 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26442
AUD 18111 18211 19133
CAD 18219 18319 19334
CHF 32189 32219 33810
CNY 3827.1 3852.1 3988
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29737 29767 31490
GBP 34308 34358 36127
HKD 0 3355 0
JPY 159.49 159.99 170.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14897 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 19993 20123 20851
THB 0 744.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,442
USD20 26,140 26,190 26,442
USD1 23,924 26,190 26,442
AUD 18,143 18,243 19,366
EUR 29,862 29,862 31,284
CAD 18,154 18,254 19,565
SGD 20,064 20,214 20,779
JPY 159.9 161.4 166
GBP 34,184 34,534 35,669
XAU 14,418,000 0 14,722,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/06/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80