Ngân hàng “gồng mình” giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn

Chí Tín
(TBTCO) - Từ tháng 10/2022, tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn sẽ phải tiếp tục giảm xuống từ 37% hiện nay xuống 34%. Trong khi đó, phía Ngân hàng Nhà nước không có động thái nào cho thấy có thể cho phép kéo dài thời hạn này. Điều này đặt các ngân hàng vào thế buộc phải gồng mình để đáp ứng các yêu cầu mới.
aa

Thời hạn “xuống nấc” ngày một cận kề

Theo đúng quy định tại Thông tư số 22/2019/TT-NHNN (được sửa đổi một số điều tại Thông tư 08/2020/TT-NHNN), thời hạn để các ngân hàng buộc phải “xuống nấc” đưa tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn sẽ chỉ còn hơn 2 tháng nữa. Cụ thể đầu tháng 10/2022, “nấc” mới sẽ chỉ còn 34% thay vì 37% như hiện nay.

Ngoài quy định về tỷ lệ nêu trên, các nội dung cơ bản khác của Thông tư 22 đều hướng tới việc đảm bảo các yêu cầu cần thiết nhằm đảm bảo an toàn hoạt động của các ngân hàng.

Thông tư 22 quy định các ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (gọi chung là ngân hàng) hàng ngày phải báo cáo Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tỷ lệ khả năng chi trả theo quy định về báo cáo thống kê áp dụng đối với ngân hàng. Trước 10 giờ sáng ngày hôm sau, ngân hàng phải có văn bản báo cáo tỷ lệ khả năng chi trả thiếu hụt tạm thời (nếu có) và các biện pháp đã thực hiện để bù đắp thiếu hụt.

Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Đồ họa: Thế Dương
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Thế Dương

Thời gian qua, khó khăn do dịch Covid-19 kéo dài gần 2 năm cũng như việc các ngân hàng đã phải sát cánh hỗ trợ giảm lãi, phí… cho khách hàng là lý do khách quan có thể được “xem xét” nới lỏng các điều kiện về an toàn vốn. Tuy nhiên, giới chuyên gia cho rằng, việc nếu tiếp tục kéo dài sẽ không có lợi cho chính các ngân hàng và thời điểm này chính là lúc các ngân hàng phải tự nỗ lực để cải thiện các chỉ số tài chính.

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Tổng Thư ký Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam cho biết, Thông tư 22 đã được ban hành với lộ trình rõ ràng, do đó cần phải thực hiện nghiêm túc, dứt khoát đến tháng 10/2022 các ngân hàng phải đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn đạt tỷ lệ 34% như quy định. “Tôi rất ủng hộ quan điểm của NHNN trong việc không lùi thời hạn áp dụng Thông tư 22, vì tôi cho rằng, chỉ có như vậy hoạt động thị trường vốn và thị trường tiền tệ mới lành mạnh được” - ông Hùng nói.

Trong khi đó, về phía NHNN, cơ quan này luôn đặt các chỉ tiêu an toàn tài chính vào “tầm ngắm” để dõi theo hoạt động của các ngân hàng trong mọi thời điểm. Ông Phạm Chí Quang - Phó Vụ trưởng phụ trách Vụ Chính sách tiền tệ NHNN cho biết, NHNN liên tục cập nhật thông tin số liệu việc tuân thủ hệ số an toàn của các ngân hàng.

Xoay phương án tăng vốn dài hạn

Theo NHNN Việt Nam, đến ngày 30/6/2022, tín dụng toàn nền kinh tế đạt trên 11,4 triệu tỷ đồng, tăng 9,35% (cùng kỳ năm 2021 tăng 6,47%). Huy động vốn đạt trên 11,8 triệu tỷ đồng, tăng 4,51% so với cuối năm 2021 (cùng kỳ năm 2021 tăng 4,09%). So sánh tốc độ tăng trưởng 2 chỉ tiêu cho vay và huy động vốn cho thấy mặc dù tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng nhanh hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước, nhưng tốc độ tăng trưởng vốn huy động tăng nhanh hơn không đáng kể so với cùng kỳ. Điều này cho thấy, các ngân hàng dù cần vốn để phục vụ nhu cầu cho vay, nhưng họ vẫn chỉ tỏ ra cầm chừng với vốn huy động tiền gửi dân cư vì phần lớn đây là vốn ngắn hạn.

Quy định lộ trình tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn theo Thông tư 22 (sửa đổi bởi Thông tư 08)

- Từ ngày 1/01/2020 đến hết ngày 30/9/2021: 40%;

- Từ ngày 1/10/2021 đến hết ngày 30/9/2022: 37%;

- Từ ngày 1/10/2022 đến hết ngày 30/9/2023: 34%;

- Từ ngày 1/10/2023: 30%.

Theo đó, một trong những kênh các ngân hàng sử dụng để tăng vốn dài hạn là giữ lại cổ tức (hoặc chỉ chia cổ tức bằng cổ phiếu, không chia bằng tiền). Năm 2022, nhiều ngân hàng công bố mức chia cổ tức khá cao, nhưng đều chỉ là cổ tức bằng cổ phiếu. Chẳng hạn như nếu không có gì thay đổi, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) chia cổ tức 50%, Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) chia cổ tức 35%, Ngân hàng TMCP Hàng Hải (MSB) chia 30%, OCB chia 30%, Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank) chia 29%, ACB chia 25%... Một số ngân hàng khác chấp nhận “nhìn thẳng vào sự thật” hơn nên đã không chia cổ tức và họ giải thích với cổ đông rằng, chia cổ tức bằng cổ phiếu nếu tính ảnh hưởng của yếu tố pha loãng sau chia thì thực tế cũng như không.

Động thái giữ lại lợi nhuận để tăng vốn dài hạn là một động thái tích cực của các ngân hàng. Tuy nhiên, một số chuyên gia cũng cảnh báo các ngân hàng cũng sẽ vẫn phải kìm tỷ lệ tăng trưởng tín dụng ở mức hợp lý. Lý do là, nếu tín dụng tăng quá cao, trong khi tốc độ tăng vốn không theo kịp và các ngân hàng lại phải dùng vốn ngắn hạn để bù đắp tăng trưởng tín dụng thì mọi nỗ lực tăng vốn chủ sở hữu cũng vẫn cho kết quả “cài số lùi” về việc cải thiện chỉ số an toàn tài chính.

Trong khi đó, một trong những kênh khác được các ngân hàng tỏ ra khá tích cực tận dụng là trái phiếu. Về bản chất, trái phiếu tuy vẫn chỉ là vốn vay, nhưng dù sao cũng vẫn có tính chất dài hạn hơn vốn huy động tiền gửi và trái chủ không được rút vốn trước hạn như tiền gửi tiết kiệm.

Theo thống kê từ Hiệp hội Thị trường trái phiếu Việt Nam (VBMA), trong 5 tháng đầu năm 2022, nhóm ngân hàng thương mại đứng đầu về giá trị phát hành trong tháng với 14.629 tỷ đồng, chiếm 60,68% tổng giá trị phát hành. Tiếp đó trong tháng 6 (dữ liệu thống kê đến ngày 24/6), nhóm ngân hàng thương mại cũng vẫn đứng đầu về giá trị phát hành với giá trị là 15.790 tỷ đồng.

Chí Tín

Đọc thêm

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 14,470
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 14,380
Trang sức 99.99 13,790 14,390
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 14/08/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Cập nhật: 14/08/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80