Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/10: Tỷ giá tự do phá đỉnh, lãi suất liên ngân hàng lên gần 6%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 13 - 17/10 ghi nhận diễn biến trái chiều rõ nét khi tỷ giá USD trên thị trường chính thức giảm, còn tự do tăng phá đỉnh cũ, sát 27.400 VND/USD. Giới phân tích kỳ vọng Fed hạ lãi suất sẽ giúp giảm áp lực tỷ giá. Tuần qua cũng chứng kiến lãi suất liên ngân hàng tăng vọt gần 6%, nhà điều hành bơm ròng 8.574 tỷ đồng.
aa
Thủ tướng Chính phủ yêu cầu báo cáo tình hình, giải pháp quản lý thị trường tiền tệ, vàng, chứng khoán Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/10: Tỷ giá biến động trái chiều, tiếp đà hút ròng gần 20.000 tỷ đồng Điều hành chính sách tiền tệ giữa "vòng xoáy” thách thức từ thị trường bất động sản, sự cố SCB

Ngày 17/10, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều chỉnh giảm tỷ giá trung tâm xuống còn 25.101 VND/USD, thấp hơn 8 đồng so với phiên liền trước. Theo biên độ giao dịch 5%, tỷ giá trần là 26.356 VND/USD, mức sàn là 23.846 VND/USD. Tại Sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước, tỷ giá tham khảo được công bố ở 23.896 VND/USD cho chiều mua vào và 26.306 VND/USD cho chiều bán ra, giảm tương ứng 8 đồng. Cùng xu hướng, tỷ giá USD tại các ngân hàng thương mại lớn đồng loạt giảm nhẹ, với mức điều chỉnh phổ biến từ 2 - 10 đồng ở cả hai chiều.

Tỷ giá USD thị trường tự do “phá đỉnh”, kênh chính thức hạ nhiệt

Trái ngược với kênh chính thức, tỷ giá USD tự do ngày 17/10 tiếp đà tăng mạnh phiên thứ 3 liên tiếp trong tuần.

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/10: Tỷ giá tự do phá đỉnh, lãi suất liên ngân hàng lên gần 6%
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/10: Tỷ giá tự do phá đỉnh, lãi suất liên ngân hàng lên gần 6%. Ảnh minh hoạ.

Tính chung tuần qua từ ngày 13/10 đến ngày 17/10, tỷ giá USD/VND ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các kênh, phản ánh sự phân hóa ngày càng rõ nét giữa thị trường chính thức và tự do.

Theo đó, tỷ giá trung tâm giảm 27 đồng tuần qua, nối tiếp đà giảm tuần thứ 3 liên tiếp, xuống còn 25.101 VND/USD. Tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại cũng đi theo xu hướng này,

Đơn cử, tại Vietcombank giao dịch ở 26.116 - 26.356 VND/USD (mua vào - bán ra), gần như đi ngang so với cuối tuần trước, chỉ giảm nhẹ 28 đồng ở chiều bán ra. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.156 - 26.356 VND/USD, giảm tương tự 8 đồng ở chiều mua và 28 đồng ở chiều bán.

Tuần qua từ ngày 13 - 17/10, tỷ giá USD/VND diễn biến trái chiều giữa các kênh, phản ánh sự phân hóa rõ nét giữa thị trường chính thức và tự do. Trong khi tỷ giá trung tâm giảm 27 đồng tuần qua, nối tiếp đà giảm tuần thứ 3 liên tiếp, xuống còn 25.101 VND/USD, cùng ngân hàng giảm nhẹ; thị trường tự do tiếp tục tăng mạnh, phá đỉnh cũ lên 27.235 - 27.385 VND/USD.

Trái ngược hoàn toàn, tỷ giá USD trên thị trường tự do bật tăng mạnh lên 27.235 - 27.385 VND/USD, tăng tới 455 đồng chỉ trong một tuần. Đây là tuần thứ 4 tỷ giá tự do tiếp đà đi lên và phá đỉnh từng thiết lập ngày 9 - 10/9 vừa qua (26.915 - 27.015 VND/USD hai chiều). Diễn biến này cho thấy nhu cầu USD trên thị trường tự do đang gia tăng.

Với các ngoại tệ khác, đơn cử như EUR, tỷ giá tại Vietcombank tăng lên 30.046 - 31.631 VND/EUR, tăng mạnh 330 - 348 đồng; BIDV cũng tăng tương ứng lên 30.447 - 31.570 VND/EUR, tăng khoảng 300 đồng.

GBP cũng tăng mạnh tương tự. Vietcombank niêm yết ở mức 34.504 - 35.968 VND/GBP, tăng gần 400 đồng; BIDV ở mức 35.031 - 35.934 VND/GBP.

Đối với JPY, Vietcombank niêm yết 169,22 - 179,97 VND/JPY; BIDV ở mức 172,51 - 179,89 VND/JPY, cùng tăng khoảng 3 đồng ở cả hai chiều.

Ngược lại, CNY đi ngược xu hướng chung khi giảm nhẹ. Vietcombank niêm yết 3.603 - 3.756 VND/CNY, giảm gần 1 đồng; BIDV ở mức 3.651 - 3.745 VND/CNY, giảm khoảng 3 đồng ở chiều bán.

Kỳ vọng áp lực tỷ giá sớm được giải tỏa

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt, giảm tuần qua còn 98,52 điểm. Giới phân tích nhận định đồng USD tiếp tục suy yếu do kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ cắt giảm lãi suất 25 điểm cơ bản vào tháng 10 và có thể thêm một lần nữa vào tháng 12, sau khi Chủ tịch Jerome Powell phát đi tín hiệu ôn hòa hơn trong các phát biểu gần đây.

Cùng với đó, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và tâm lý phòng thủ của nhà đầu tư đã khiến dòng tiền chảy mạnh sang các tài sản trú ẩn như vàng và bạc, tạo áp lực khiến đồng USD giảm giá trên toàn cầu.

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/10: Tỷ giá tự do phá đỉnh, lãi suất liên ngân hàng lên gần 6%
Theo đại diện ACBS, hiện Việt Nam nỗ lực duy trì chính sách tiền tệ mở rộng, với mặt bằng lãi suất ổn định ở mức thấp để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Do đó, rất cần sự “ủng hộ” từ diễn biến tỷ giá. Trong bối cảnh đó, nếu Fed giảm lãi suất, áp lực tỷ giá có thể được giải tỏa, giúp Ngân hàng Nhà nước thuận lợi hơn trong điều hành; ngược lại, nếu tỷ giá biến động mạnh, việc duy trì chính sách sẽ khá khó khăn. Đây là yếu tố mà nhà đầu tư cần đặc biệt theo dõi trong hai đến ba tuần tới.

Chia sẻ gần đây, bà Đỗ Minh Trang - Giám đốc Phòng Phân tích và Chiến lược Thị trường, Công ty cổ phần Chứng khoán ACB (ACBS) nhận định, yếu tố đáng chú ý trong thời gian tới là quyết định hạ lãi suất của Fed dự kiến vào cuối tháng này. Theo bà Trang, động thái này sẽ tác động trực tiếp đến bức tranh kinh tế vĩ mô toàn cầu và ảnh hưởng rõ nét nhất tới tỷ giá tại Việt Nam.

Trong báo cáo kinh tế vĩ mô và thị trường tài chính tháng 10/2025 mới công bố, Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính nhóm Ngân hàng Doanh nghiệp và Định chế Tài chính thuộc Ngân hàng Techcombank cho rằng nhiều khả năng Fed sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất trong năm nay vào tháng 10 và 12, sẽ giúp Ngân hàng Nhà nước có nhiều dư địa thuận lợi để điều tiết tỷ giá hơn.

Nhóm phân tích cũng dự báo, tỷ giá sẽ hạ nhiệt và có thể về vùng 26.200 - 26.300 VND/USD do mùa chuyển lợi nhuận về nước kết thúc khiến nhu cầu mua USD của các FDI giảm. Cùng với đó, kỳ vọng về luồng ngoại tệ sẽ về vào thời điểm cuối năm nhờ vào dòng tiền từ kiều hối.

Dù vậy, triển vọng cắt lãi suất trong thời gian tới là rất khó đoán định. Việc Fed cắt lãi suất trong năm 2026 còn chịu ảnh hưởng bởi Thống đốc mới, người được đề cử bởi Nhà Trắng vốn đang theo quan điểm cắt giảm lãi suất nhiều hơn, khi ông Powell kết thúc nhiệm kỳ vào tháng 5/2026, hay cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ diễn ra vào tháng 11/2026 cũng sẽ ảnh hưởng đến triển vọng kinh tế của Mỹ./.

Thanh khoản có dấu hiệu căng, lãi suất liên ngân hàng lên gần 6%

Tuần qua, lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh trên hầu hết các kỳ hạn. Theo đó, ngày 16/10, lãi suất qua đêm vọt lên 5,75%, tăng gần 1 điểm phần trăm so với tuần trước; các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần lần lượt đạt 5,72% và 5,8%, tăng tương ứng 0,81 điểm phần trăm và 0,71 điểm phần trăm. Ở kỳ hạn 1 tháng, lãi suất nhích nhẹ lên 5,46%, trong khi kỳ hạn 3 tháng tăng lên 5,79%, cao hơn 0,19 điểm phần trăm. Diễn biến cho thấy mặt bằng lãi suất ngắn hạn vẫn duy trì ở vùng cao, phản ánh nhu cầu thanh khoản tạm thời gia tăng.

Về diễn biến nổi bật trên thị trường mở (OMO) trong tuần từ ngày 13/10 đến ngày 17/10, khối lượng trúng thầu trên kênh cầm cố đạt 60.000 tỷ đồng, ở các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày, 28 ngày và 91 ngày, với mức lãi suất 4%. Trong khi đó, có 51.426,07 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố. Có 150.630,73 tỷ đồng lưu hành trên kênh cầm cố. Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 8.574 tỷ đồng trong tuần qua kênh thị trường mở, đảo chiều so với hai tuần trước/.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Sáng ngày 20/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND, tăng 13 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,88%, hiện ở mức 99,23 điểm.
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS nhấn mạnh, cần đặc biệt theo dõi diễn biến tỷ giá và thanh khoản hệ thống ngân hàng để đánh giá xu hướng lãi suất. Bối cảnh tỷ giá thuận lợi và mặt bằng thanh khoản dồi dào sẽ là nền tảng phù hợp để Ngân hàng Nhà nước mở rộng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn nửa sau năm 2026.
Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Tỷ giá USD hôm nay (18/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt giảm

Sáng ngày 18/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.067 VND, giảm 1 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,15%, hiện ở mức 99,57 điểm.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 170,000
Hà Nội - PNJ 167,000 170,000
Đà Nẵng - PNJ 167,000 170,000
Miền Tây - PNJ 167,000 170,000
Tây Nguyên - PNJ 167,000 170,000
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 170,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 17,020
Miếng SJC Nghệ An 16,720 17,020
Miếng SJC Thái Bình 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 17,020
NL 99.90 15,470
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,210 16,910
Trang sức 99.99 16,220 16,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 17,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 17,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cập nhật: 25/03/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80