Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/12:

Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/12 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh ở các kỳ hạn ngắn, trong khi các kỳ hạn dài vẫn neo quanh 7%, phản ánh áp lực thanh khoản chưa hoàn toàn được giải tỏa. Trong khi đó, tỷ giá USD/VND duy trì ổn định và biến động trong biên độ hẹp ở kênh chính thức, song giảm mạnh trên thị trường tự do, lùi xuống dưới mốc 27.000 đồng.
aa
Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ "Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường

Lãi suất qua đêm hạ nhiệt, áp lực thanh khoản chưa hoàn toàn giải tỏa

Diễn biến nổi bật tuần qua cho thấy, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm mạnh ở các kỳ hạn ngắn, trong khi các kỳ hạn dài giảm nhẹ hơn, phản ánh trạng thái thanh khoản hệ thống được cải thiện rõ rệt sau giai đoạn căng thẳng trước đó.

Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm sâu nhất, từ mức 7,08% vào cuối tuần trước xuống 4,58% ngày 18/12, tương đương mức giảm khoảng 2,5 điểm phần trăm. Diễn biến này cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn đã hạ nhiệt đáng kể, đặc biệt sau các phiên Ngân hàng Nhà nước bơm ròng mạnh qua kênh thị trường mở (OMO) ròng rã nhiều tuần. Ở kỳ hạn 1 tuần, lãi suất vay liên ngân hàng giảm xuống 5,07%, tương ứng mức giảm hơn 2 điểm phần trăm.

Các kỳ hạn dài hơn, lãi suất liên ngân hàng vẫn ở mức cao, mức giảm hẹp hơn. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 2 tuần chỉ giảm khoảng 0,8 điểm phần trăm, về mức 6,68%. Lãi suất 1 tháng giảm nhẹ 0,21 điểm phần trăm, xuống 7,19%, trong khi kỳ hạn 3 tháng chỉ giảm 0,09 điểm phần trăm, duy trì ở mức cao khoảng 7,4%. Điều này cho thấy kỳ vọng về mặt bằng lãi suất dài hơn vẫn ở mức cao, trong bối cảnh nhu cầu vốn cuối năm và áp lực cân đối nguồn vốn của hệ thống chưa hoàn toàn biến mất.

Tuần qua, kênh thị trường mở (OMO) ghi nhận xu hướng Ngân hàng Nhà nước hút ròng thanh khoản là chủ đạo 4/5 phiên, ngoại trừ phiên cuối tuần có bơm ròng trở lại. Riêng phiên 17/12, không có khối lượng nào trúng thầu, đây là một trong những phiên hiếm hoi không phát sinh OMO.

Đến phiên ngày 19/12, cơ quan điều hành đã đảo chiều sang bơm ròng khoảng 20.375 tỷ đồng qua kênh OMO, phản ánh động thái chủ động hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn cho hệ thống, tránh áp lực từ lãi suất liên ngân hàng trong giai đoạn căng vốn cuối năm.

Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh

Theo đó, tuần qua, có 61.029,15 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất 4,5%. Ở chiều ngược lại, có tới 64.527,85 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, lượng vốn OMO lưu hành còn 375.522,07 tỷ đồng. Tính chung, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 3.498,7 tỷ đồng trong tuần, đảo chiều so với mức bơm ròng mạnh trên 122.000 tỷ đồng 3 tuần trước.

Báo cáo từ Phòng Nghiên cứu và Phân tích - Khối Khách hàng cá nhân Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho thấy, nhu cầu vốn ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng vẫn đang ở mức cao, đặc biệt khi chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động ngày càng cao. Đồng thời, việc Ngân hàng Nhà nước duy trì mức lãi suất OMO 4,5% sau khi tăng từ đầu tháng 12 cũng đang từng bước hình thành mặt bằng chi phí vốn mới cho thị trường.

Theo báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 11/2025, tín dụng tăng 16,56% so với cuối 2024, trong khi tăng trưởng huy động đạt khoảng 9,6 - 10,2%, dẫn đến tình trạng mất cân đối tạm thời về nguồn trong ngắn hạn buộc các ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động.

Trước diễn biến tăng mạnh của lãi suất liên ngân hàng hồi đầu tháng 12, Ngân hàng Nhà nước cũng chủ động sử dụng công cụ hoán đổi (Swap) USD với VND nhằm hỗ trợ thanh khoản VND trên hệ thống liên ngân hàng kể từ ngày 5/12/2025.

Cũng chung quan điểm, theo Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, quyết định của Ngân hàng Nhà nước nâng lãi suất OMO từ 4% lên 4,5% dường như cũng hướng vào mục tiêu duy trì sự ổn định của tỷ giá và mức lãi suất hợp lý.

Dựa trên kỳ hạn, nhóm phân tích Techcombank cho rằng, chênh lệch giá USD/VND mua ngay và mua kỳ hạn, lãi suất liên ngân hàng VND kỳ hạn ngắn nên nằm trong vùng khoảng 5%.

Tỷ giá tự do mất mốc 27.000 đồng, kênh chính thức "lặng sóng"

Nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, tỷ giá USD/VND trong có thể giảm nhẹ trong bối cảnh đồng USD tiếp tục yếu đi khi đồng EUR và JPY đang mạnh lên. Bên cạnh đó, lượng kiều hối về cuối năm, trong dịp Giáng sinh, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán gia tăng sẽ góp phần tăng cung USD trong nước.

Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh
Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/12: Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh. Ảnh minh hoạ.

Về diễn biến tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước ngày 19/12 niêm yết tỷ giá trung tâm ở 25.148 VND/USD, tăng 5 đồng so với phiên trước, song giảm 3 đồng so với cuối tuần trước. Với biên độ 5%, tỷ giá trần được phép giao dịch là 26.405 VND/USD, trong khi tỷ giá sàn là 23.891 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước được công bố ở mức 23.941 - 26.355 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tuần qua, tỷ giá USD/VND nhìn chung "lặng sóng" ở kênh chính thức. Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ngày 19/12 ở mức 25.148 VND/USD, giảm 3 đồng so với cuối tuần trước. Trên thị trường tự do, tỷ USD giảm khoảng 200 đồng, về 26.900 - 27.000 VND/USD, phản ánh tâm lý thị trường hạ nhiệt.

Tỷ giá USD/VND nhìn chung biến động trong biên độ hẹp và có xu hướng giảm nhẹ ở kênh chính thức so với tuần trước. Tại Vietcombank ngày 19/12, tỷ giá USD niêm yết ở 26.095 - 26.405 VND/USD, không thay đổi so với cuối tuần trước ở cả hai chiều. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.130 - 26.405 VND/USD, trong đó giá mua tăng nhẹ 10 đồng, còn giá bán ra giữ nguyên.

Còn tỷ giá USD trên thị trường tự do có biến động mạnh hơn so với khu vực chính thức, chốt tuần ở mức 26.900 - 27.000 VND/USD, giảm 200 đồng so với cuối tuần trước. Mức giảm này cho thấy tâm lý đầu cơ ngoại tệ hạ nhiệt, nguồn cung USD có dấu hiệu cải thiện.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh của USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt ở mức 98,7 điểm, tăng nhẹ tuần qua. Tuy nhiên, các số liệu kinh tế mới công bố của Mỹ tiếp tục tạo áp lực giảm đối với USD. Theo Bộ Lao động Mỹ, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 tăng 2,7% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể so với mức dự báo 3,1% của các nhà kinh tế.

Bên cạnh đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tiếp theo sẽ là người tin vào việc hạ lãi suất mạnh mẽ. Các ứng viên tiềm năng đều được đánh giá là ủng hộ mặt bằng lãi suất thấp hơn hiện nay, khiến thị trường giảm bớt kỳ vọng về khả năng duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt kéo dài.

Trong khi đó, tại châu Á, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) ngày 19/12 nâng lãi suất ngắn hạn từ 0,5% lên 0,75%, cao nhất 30 năm qua khi giá thực phẩm tăng cao tiếp tục đẩy lạm phát vượt mục tiêu 2%. Diễn biến này cho thấy chính sách tiền tệ toàn cầu vẫn phân hóa, qua đó tác động đan xen lên diễn biến tỷ giá trong nước.

Với các ngoại tệ khác, với tỷ giá EUR, GBP, JPY đều biến động khá nhỏ. Trong khi đó, tỷ giá CNY có xu hướng tăng tại cả hai ngân hàng. Vietcombank niêm yết ở mức 3.643,21 - 3.797,86 VND/CNY, tăng 8,8 đồng ở chiều mua và 9,1 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. BIDV cũng điều chỉnh tăng, với giá mua tăng 10 đồng và giá bán tăng 8 đồng, lên mức 3.686 - 3.791 VND/CNY./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

(TBTCO) - Sức ép chi phí đang phủ bóng ngành hàng không, khi khách tăng, doanh thu lập đỉnh nhưng lợi nhuận bị nhiên liệu “ăn mòn”. Giá nhiên liệu tăng mạnh khiến nhiều hãng từ lãi chuyển lỗ, buộc các hãng bay phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dù nhu cầu đi lại tiếp tục là lực đỡ cho thị trường.
Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

(TBTCO) - Sáng 21/8, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lần đầu chạm 25.600 đồng, trong khi tại ngân hàng diễn biến trái chiều, nhiều nơi giảm 70 đồng. Chỉ số DXY dao động hẹp, hiện quanh 98,77 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ nhẹ khi thị trường chờ loạt PMI sơ bộ tại châu Âu, Anh và Mỹ, tìm thêm tín hiệu về triển vọng kinh tế và chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

(TBTCO) - Sáng 20/8, tỷ giá USD trong nước phân hóa rõ rệt, khi tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.590 đồng, các ngân hàng thương mại đi ngang, trong khi USD tự do tăng vọt. Chỉ số DXY giảm mạnh 0,88% xuống 98,76 điểm do áp lực từ chính sách hỗ trợ trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, dù Fed vẫn để ngỏ khả năng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

(TBTCO) - Sáng 19/8, tỷ giá trung tâm tăng 18 đồng lên 25.598 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,06% lên 99,64 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp gần nhất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), trong bối cảnh phần lớn chuyên gia dự báo Fed giữ nguyên lãi suất đến cuối năm, song căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tiếp tục tạo lực đỡ cho đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 18/8, tỷ giá USD diễn biến phân hóa khi tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng xuống 25.580 đồng, USD tự do giảm 150 đồng, trong khi giá USD tại nhiều ngân hàng bật tăng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,01% lên 99,6 điểm khi dữ liệu kinh tế Mỹ kém khả quan làm giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục nâng lãi suất cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18201 18477 19056
CAD 18376 18652 19272
CHF 31955 32336 32981
CNY 0 3840 3950
EUR 29891 30114 31197
GBP 34852 35246 36186
HKD 0 3209 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15292 15879
SGD 20055 20338 20908
THB 716 779 832
USD (1,2) 25907 0 0
USD (5,10,20) 25947 0 0
USD (50,100) 25976 25990 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18396 18496 19421
CAD 18564 18664 19679
CHF 32202 32232 33823
CNY 3833.1 3858.1 3993.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30072 30102 31827
GBP 35164 35214 36985
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20218 20348 21071
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 23:00
Ngân hàng