Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/12:

Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/12 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh ở các kỳ hạn ngắn, trong khi các kỳ hạn dài vẫn neo quanh 7%, phản ánh áp lực thanh khoản chưa hoàn toàn được giải tỏa. Trong khi đó, tỷ giá USD/VND duy trì ổn định và biến động trong biên độ hẹp ở kênh chính thức, song giảm mạnh trên thị trường tự do, lùi xuống dưới mốc 27.000 đồng.
aa
Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ "Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường

Lãi suất qua đêm hạ nhiệt, áp lực thanh khoản chưa hoàn toàn giải tỏa

Diễn biến nổi bật tuần qua cho thấy, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm mạnh ở các kỳ hạn ngắn, trong khi các kỳ hạn dài giảm nhẹ hơn, phản ánh trạng thái thanh khoản hệ thống được cải thiện rõ rệt sau giai đoạn căng thẳng trước đó.

Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm sâu nhất, từ mức 7,08% vào cuối tuần trước xuống 4,58% ngày 18/12, tương đương mức giảm khoảng 2,5 điểm phần trăm. Diễn biến này cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn đã hạ nhiệt đáng kể, đặc biệt sau các phiên Ngân hàng Nhà nước bơm ròng mạnh qua kênh thị trường mở (OMO) ròng rã nhiều tuần. Ở kỳ hạn 1 tuần, lãi suất vay liên ngân hàng giảm xuống 5,07%, tương ứng mức giảm hơn 2 điểm phần trăm.

Các kỳ hạn dài hơn, lãi suất liên ngân hàng vẫn ở mức cao, mức giảm hẹp hơn. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 2 tuần chỉ giảm khoảng 0,8 điểm phần trăm, về mức 6,68%. Lãi suất 1 tháng giảm nhẹ 0,21 điểm phần trăm, xuống 7,19%, trong khi kỳ hạn 3 tháng chỉ giảm 0,09 điểm phần trăm, duy trì ở mức cao khoảng 7,4%. Điều này cho thấy kỳ vọng về mặt bằng lãi suất dài hơn vẫn ở mức cao, trong bối cảnh nhu cầu vốn cuối năm và áp lực cân đối nguồn vốn của hệ thống chưa hoàn toàn biến mất.

Tuần qua, kênh thị trường mở (OMO) ghi nhận xu hướng Ngân hàng Nhà nước hút ròng thanh khoản là chủ đạo 4/5 phiên, ngoại trừ phiên cuối tuần có bơm ròng trở lại. Riêng phiên 17/12, không có khối lượng nào trúng thầu, đây là một trong những phiên hiếm hoi không phát sinh OMO.

Đến phiên ngày 19/12, cơ quan điều hành đã đảo chiều sang bơm ròng khoảng 20.375 tỷ đồng qua kênh OMO, phản ánh động thái chủ động hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn cho hệ thống, tránh áp lực từ lãi suất liên ngân hàng trong giai đoạn căng vốn cuối năm.

Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh

Theo đó, tuần qua, có 61.029,15 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất 4,5%. Ở chiều ngược lại, có tới 64.527,85 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, lượng vốn OMO lưu hành còn 375.522,07 tỷ đồng. Tính chung, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 3.498,7 tỷ đồng trong tuần, đảo chiều so với mức bơm ròng mạnh trên 122.000 tỷ đồng 3 tuần trước.

Báo cáo từ Phòng Nghiên cứu và Phân tích - Khối Khách hàng cá nhân Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho thấy, nhu cầu vốn ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng vẫn đang ở mức cao, đặc biệt khi chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động ngày càng cao. Đồng thời, việc Ngân hàng Nhà nước duy trì mức lãi suất OMO 4,5% sau khi tăng từ đầu tháng 12 cũng đang từng bước hình thành mặt bằng chi phí vốn mới cho thị trường.

Theo báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 11/2025, tín dụng tăng 16,56% so với cuối 2024, trong khi tăng trưởng huy động đạt khoảng 9,6 - 10,2%, dẫn đến tình trạng mất cân đối tạm thời về nguồn trong ngắn hạn buộc các ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động.

Trước diễn biến tăng mạnh của lãi suất liên ngân hàng hồi đầu tháng 12, Ngân hàng Nhà nước cũng chủ động sử dụng công cụ hoán đổi (Swap) USD với VND nhằm hỗ trợ thanh khoản VND trên hệ thống liên ngân hàng kể từ ngày 5/12/2025.

Cũng chung quan điểm, theo Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, quyết định của Ngân hàng Nhà nước nâng lãi suất OMO từ 4% lên 4,5% dường như cũng hướng vào mục tiêu duy trì sự ổn định của tỷ giá và mức lãi suất hợp lý.

Dựa trên kỳ hạn, nhóm phân tích Techcombank cho rằng, chênh lệch giá USD/VND mua ngay và mua kỳ hạn, lãi suất liên ngân hàng VND kỳ hạn ngắn nên nằm trong vùng khoảng 5%.

Tỷ giá tự do mất mốc 27.000 đồng, kênh chính thức "lặng sóng"

Nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, tỷ giá USD/VND trong có thể giảm nhẹ trong bối cảnh đồng USD tiếp tục yếu đi khi đồng EUR và JPY đang mạnh lên. Bên cạnh đó, lượng kiều hối về cuối năm, trong dịp Giáng sinh, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán gia tăng sẽ góp phần tăng cung USD trong nước.

Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh
Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/12: Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh. Ảnh minh hoạ.

Về diễn biến tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước ngày 19/12 niêm yết tỷ giá trung tâm ở 25.148 VND/USD, tăng 5 đồng so với phiên trước, song giảm 3 đồng so với cuối tuần trước. Với biên độ 5%, tỷ giá trần được phép giao dịch là 26.405 VND/USD, trong khi tỷ giá sàn là 23.891 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước được công bố ở mức 23.941 - 26.355 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tuần qua, tỷ giá USD/VND nhìn chung "lặng sóng" ở kênh chính thức. Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ngày 19/12 ở mức 25.148 VND/USD, giảm 3 đồng so với cuối tuần trước. Trên thị trường tự do, tỷ USD giảm khoảng 200 đồng, về 26.900 - 27.000 VND/USD, phản ánh tâm lý thị trường hạ nhiệt.

Tỷ giá USD/VND nhìn chung biến động trong biên độ hẹp và có xu hướng giảm nhẹ ở kênh chính thức so với tuần trước. Tại Vietcombank ngày 19/12, tỷ giá USD niêm yết ở 26.095 - 26.405 VND/USD, không thay đổi so với cuối tuần trước ở cả hai chiều. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.130 - 26.405 VND/USD, trong đó giá mua tăng nhẹ 10 đồng, còn giá bán ra giữ nguyên.

Còn tỷ giá USD trên thị trường tự do có biến động mạnh hơn so với khu vực chính thức, chốt tuần ở mức 26.900 - 27.000 VND/USD, giảm 200 đồng so với cuối tuần trước. Mức giảm này cho thấy tâm lý đầu cơ ngoại tệ hạ nhiệt, nguồn cung USD có dấu hiệu cải thiện.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh của USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt ở mức 98,7 điểm, tăng nhẹ tuần qua. Tuy nhiên, các số liệu kinh tế mới công bố của Mỹ tiếp tục tạo áp lực giảm đối với USD. Theo Bộ Lao động Mỹ, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 tăng 2,7% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể so với mức dự báo 3,1% của các nhà kinh tế.

Bên cạnh đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tiếp theo sẽ là người tin vào việc hạ lãi suất mạnh mẽ. Các ứng viên tiềm năng đều được đánh giá là ủng hộ mặt bằng lãi suất thấp hơn hiện nay, khiến thị trường giảm bớt kỳ vọng về khả năng duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt kéo dài.

Trong khi đó, tại châu Á, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) ngày 19/12 nâng lãi suất ngắn hạn từ 0,5% lên 0,75%, cao nhất 30 năm qua khi giá thực phẩm tăng cao tiếp tục đẩy lạm phát vượt mục tiêu 2%. Diễn biến này cho thấy chính sách tiền tệ toàn cầu vẫn phân hóa, qua đó tác động đan xen lên diễn biến tỷ giá trong nước.

Với các ngoại tệ khác, với tỷ giá EUR, GBP, JPY đều biến động khá nhỏ. Trong khi đó, tỷ giá CNY có xu hướng tăng tại cả hai ngân hàng. Vietcombank niêm yết ở mức 3.643,21 - 3.797,86 VND/CNY, tăng 8,8 đồng ở chiều mua và 9,1 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. BIDV cũng điều chỉnh tăng, với giá mua tăng 10 đồng và giá bán tăng 8 đồng, lên mức 3.686 - 3.791 VND/CNY./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

(TBTCO) - Sáng ngày 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 1 đồng xuống 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do phổ biến quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Chỉ số DXY tăng 0,19% lên 98,25 điểm, cho thấy đồng USD phục hồi nhẹ, khi giới đầu tư chờ phản hồi từ Iran về đề xuất mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột kéo dài 10 tuần.
Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

Tỷ giá USD hôm nay (7/5): USD tự do đi lùi, DXY hồi nhẹ nhờ khả năng eo biển Hormuz mở cửa lại

(TBTCO) - Sáng ngày 7/5, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm 40 đồng xuống quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Còn DXY nhích nhẹ lên 98,03 điểm sau khi rơi dưới mốc 98 điểm, nhờ kỳ vọng căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt, eo biển Hormuz có thể được mở cửa trở lại và áp lực trú ẩn vào USD suy yếu.
Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

Tỷ giá USD hôm nay (6/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY lùi sát 98 điểm khi Mỹ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu qua Hormuz

(TBTCO) - Sáng ngày 6/5, tỷ giá trung tâm tăng 2 đồng lên 25.113 đồng, trong khi USD tự do giảm về 26.620 - 26.660 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,17% xuống 98,28 điểm khi Mỹ sẽ tạm dừng chiến dịch hỗ trợ tàu thương mại qua Hormuz để chờ tiến triển đàm phán với Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Tỷ giá USD hôm nay (4/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ sau nghỉ lễ, DXY quanh 98 điểm chờ đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm

Tỷ giá USD hôm nay (4/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ sau nghỉ lễ, DXY quanh 98 điểm chờ đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.112 đồng sau kỳ nghỉ lễ, tỷ giá USD tự do lùi 60 đồng. DXY đầu tuần quanh 98,17 điểm, trong bối cảnh USD chịu áp lực trước khả năng Nhật Bản can thiệp tỷ giá, tuần này, thị trường tập trung vào đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm Mỹ.
Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 2/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng do kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Còn DXY chốt tuần ở 98,23 điểm, tăng 0,17% sau nhịp giảm dưới 98 điểm, song vẫn thấp hơn 0,72% so với tuần trước. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu hạ nhiệt xung đột Mỹ - Iran và ước tính Nhật Bản dùng 34,5 tỷ USD hỗ trợ đồng yên, song triển vọng vẫn tích cực nhờ lập trường chính sách của Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng trong kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ 10 đồng còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lên 98,17 điểm, USD tăng so với nhiều đồng tiền nhưng vẫn thấp hơn phiên trước. Đáng chú ý, Nhật Bản can thiệp tỷ giá khiến tỷ giá USD/JPY giảm gần 3% trong một phiên, song sức mạnh USD vẫn duy trì do áp lực từ giá dầu và rủi ro địa chính trị.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 11/05/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80