Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/12:

Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/12 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh ở các kỳ hạn ngắn, trong khi các kỳ hạn dài vẫn neo quanh 7%, phản ánh áp lực thanh khoản chưa hoàn toàn được giải tỏa. Trong khi đó, tỷ giá USD/VND duy trì ổn định và biến động trong biên độ hẹp ở kênh chính thức, song giảm mạnh trên thị trường tự do, lùi xuống dưới mốc 27.000 đồng.
aa
Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ "Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường

Lãi suất qua đêm hạ nhiệt, áp lực thanh khoản chưa hoàn toàn giải tỏa

Diễn biến nổi bật tuần qua cho thấy, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm mạnh ở các kỳ hạn ngắn, trong khi các kỳ hạn dài giảm nhẹ hơn, phản ánh trạng thái thanh khoản hệ thống được cải thiện rõ rệt sau giai đoạn căng thẳng trước đó.

Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm sâu nhất, từ mức 7,08% vào cuối tuần trước xuống 4,58% ngày 18/12, tương đương mức giảm khoảng 2,5 điểm phần trăm. Diễn biến này cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn đã hạ nhiệt đáng kể, đặc biệt sau các phiên Ngân hàng Nhà nước bơm ròng mạnh qua kênh thị trường mở (OMO) ròng rã nhiều tuần. Ở kỳ hạn 1 tuần, lãi suất vay liên ngân hàng giảm xuống 5,07%, tương ứng mức giảm hơn 2 điểm phần trăm.

Các kỳ hạn dài hơn, lãi suất liên ngân hàng vẫn ở mức cao, mức giảm hẹp hơn. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 2 tuần chỉ giảm khoảng 0,8 điểm phần trăm, về mức 6,68%. Lãi suất 1 tháng giảm nhẹ 0,21 điểm phần trăm, xuống 7,19%, trong khi kỳ hạn 3 tháng chỉ giảm 0,09 điểm phần trăm, duy trì ở mức cao khoảng 7,4%. Điều này cho thấy kỳ vọng về mặt bằng lãi suất dài hơn vẫn ở mức cao, trong bối cảnh nhu cầu vốn cuối năm và áp lực cân đối nguồn vốn của hệ thống chưa hoàn toàn biến mất.

Tuần qua, kênh thị trường mở (OMO) ghi nhận xu hướng Ngân hàng Nhà nước hút ròng thanh khoản là chủ đạo 4/5 phiên, ngoại trừ phiên cuối tuần có bơm ròng trở lại. Riêng phiên 17/12, không có khối lượng nào trúng thầu, đây là một trong những phiên hiếm hoi không phát sinh OMO.

Đến phiên ngày 19/12, cơ quan điều hành đã đảo chiều sang bơm ròng khoảng 20.375 tỷ đồng qua kênh OMO, phản ánh động thái chủ động hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn cho hệ thống, tránh áp lực từ lãi suất liên ngân hàng trong giai đoạn căng vốn cuối năm.

Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh

Theo đó, tuần qua, có 61.029,15 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất 4,5%. Ở chiều ngược lại, có tới 64.527,85 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, lượng vốn OMO lưu hành còn 375.522,07 tỷ đồng. Tính chung, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 3.498,7 tỷ đồng trong tuần, đảo chiều so với mức bơm ròng mạnh trên 122.000 tỷ đồng 3 tuần trước.

Báo cáo từ Phòng Nghiên cứu và Phân tích - Khối Khách hàng cá nhân Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho thấy, nhu cầu vốn ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng vẫn đang ở mức cao, đặc biệt khi chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động ngày càng cao. Đồng thời, việc Ngân hàng Nhà nước duy trì mức lãi suất OMO 4,5% sau khi tăng từ đầu tháng 12 cũng đang từng bước hình thành mặt bằng chi phí vốn mới cho thị trường.

Theo báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 11/2025, tín dụng tăng 16,56% so với cuối 2024, trong khi tăng trưởng huy động đạt khoảng 9,6 - 10,2%, dẫn đến tình trạng mất cân đối tạm thời về nguồn trong ngắn hạn buộc các ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động.

Trước diễn biến tăng mạnh của lãi suất liên ngân hàng hồi đầu tháng 12, Ngân hàng Nhà nước cũng chủ động sử dụng công cụ hoán đổi (Swap) USD với VND nhằm hỗ trợ thanh khoản VND trên hệ thống liên ngân hàng kể từ ngày 5/12/2025.

Cũng chung quan điểm, theo Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, quyết định của Ngân hàng Nhà nước nâng lãi suất OMO từ 4% lên 4,5% dường như cũng hướng vào mục tiêu duy trì sự ổn định của tỷ giá và mức lãi suất hợp lý.

Dựa trên kỳ hạn, nhóm phân tích Techcombank cho rằng, chênh lệch giá USD/VND mua ngay và mua kỳ hạn, lãi suất liên ngân hàng VND kỳ hạn ngắn nên nằm trong vùng khoảng 5%.

Tỷ giá tự do mất mốc 27.000 đồng, kênh chính thức "lặng sóng"

Nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, tỷ giá USD/VND trong có thể giảm nhẹ trong bối cảnh đồng USD tiếp tục yếu đi khi đồng EUR và JPY đang mạnh lên. Bên cạnh đó, lượng kiều hối về cuối năm, trong dịp Giáng sinh, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán gia tăng sẽ góp phần tăng cung USD trong nước.

Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh
Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/12: Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh. Ảnh minh hoạ.

Về diễn biến tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước ngày 19/12 niêm yết tỷ giá trung tâm ở 25.148 VND/USD, tăng 5 đồng so với phiên trước, song giảm 3 đồng so với cuối tuần trước. Với biên độ 5%, tỷ giá trần được phép giao dịch là 26.405 VND/USD, trong khi tỷ giá sàn là 23.891 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước được công bố ở mức 23.941 - 26.355 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tuần qua, tỷ giá USD/VND nhìn chung "lặng sóng" ở kênh chính thức. Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ngày 19/12 ở mức 25.148 VND/USD, giảm 3 đồng so với cuối tuần trước. Trên thị trường tự do, tỷ USD giảm khoảng 200 đồng, về 26.900 - 27.000 VND/USD, phản ánh tâm lý thị trường hạ nhiệt.

Tỷ giá USD/VND nhìn chung biến động trong biên độ hẹp và có xu hướng giảm nhẹ ở kênh chính thức so với tuần trước. Tại Vietcombank ngày 19/12, tỷ giá USD niêm yết ở 26.095 - 26.405 VND/USD, không thay đổi so với cuối tuần trước ở cả hai chiều. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.130 - 26.405 VND/USD, trong đó giá mua tăng nhẹ 10 đồng, còn giá bán ra giữ nguyên.

Còn tỷ giá USD trên thị trường tự do có biến động mạnh hơn so với khu vực chính thức, chốt tuần ở mức 26.900 - 27.000 VND/USD, giảm 200 đồng so với cuối tuần trước. Mức giảm này cho thấy tâm lý đầu cơ ngoại tệ hạ nhiệt, nguồn cung USD có dấu hiệu cải thiện.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh của USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt ở mức 98,7 điểm, tăng nhẹ tuần qua. Tuy nhiên, các số liệu kinh tế mới công bố của Mỹ tiếp tục tạo áp lực giảm đối với USD. Theo Bộ Lao động Mỹ, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 tăng 2,7% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể so với mức dự báo 3,1% của các nhà kinh tế.

Bên cạnh đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tiếp theo sẽ là người tin vào việc hạ lãi suất mạnh mẽ. Các ứng viên tiềm năng đều được đánh giá là ủng hộ mặt bằng lãi suất thấp hơn hiện nay, khiến thị trường giảm bớt kỳ vọng về khả năng duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt kéo dài.

Trong khi đó, tại châu Á, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) ngày 19/12 nâng lãi suất ngắn hạn từ 0,5% lên 0,75%, cao nhất 30 năm qua khi giá thực phẩm tăng cao tiếp tục đẩy lạm phát vượt mục tiêu 2%. Diễn biến này cho thấy chính sách tiền tệ toàn cầu vẫn phân hóa, qua đó tác động đan xen lên diễn biến tỷ giá trong nước.

Với các ngoại tệ khác, với tỷ giá EUR, GBP, JPY đều biến động khá nhỏ. Trong khi đó, tỷ giá CNY có xu hướng tăng tại cả hai ngân hàng. Vietcombank niêm yết ở mức 3.643,21 - 3.797,86 VND/CNY, tăng 8,8 đồng ở chiều mua và 9,1 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. BIDV cũng điều chỉnh tăng, với giá mua tăng 10 đồng và giá bán tăng 8 đồng, lên mức 3.686 - 3.791 VND/CNY./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 12 - 16/10 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 8.188,63 tỷ đồng sau hai tuần hút mạnh trên 90.000 tỷ đồng, trong khi lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt ở các kỳ hạn ngắn. Thị trường ngoại hối diễn biến trái chiều khi USD thị trường tự do giảm 130 đồng, trong khi DXY mất mốc 102 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (16/10): USD trong nước đồng loạt giảm, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed

Tỷ giá USD hôm nay (16/10): USD trong nước đồng loạt giảm, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed

(TBTCO) - Sáng 16/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.637 đồng, USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY nhích 0,05% lên 102,03 điểm sau phiên giảm trước đó. Dữ liệu CPI và PPI Mỹ cho thấy áp lực lạm phát gia tăng, thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm tín hiệu về chính sách lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (15/10): USD giảm nhẹ dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, Fed đứng trước áp lực tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (15/10): USD giảm nhẹ dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, Fed đứng trước áp lực tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 15/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.642 đồng, USD ngân hàng cũng giảm nhẹ. Chỉ số DXY giảm 0,49% xuống 102,05 điểm, sau phiên tăng nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ. CPI tháng 9 tăng 3,7%, vượt dự báo, khiến xác suất Fed tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm trong tháng 10 tăng vọt lên 53%.
Tỷ giá USD hôm nay (14/10): Tỷ giá USD trong nước trái chiều, CPI Mỹ tăng có thể khiến Fed nâng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (14/10): Tỷ giá USD trong nước trái chiều, CPI Mỹ tăng có thể khiến Fed nâng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 14/10, tỷ giá trung tâm tăng 13 đồng lên 25.646 đồng, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng giảm. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 102,18 điểm. Thị trường chờ dữ liệu lạm phát Mỹ, khi một số nhà phân tích nhận định CPI lõi tăng 0,4% trong tháng 9 có thể khiến Fed đẩy sớm quyết định tăng lãi suất lên tháng 10.
Tỷ giá USD hôm nay (12/10): DXY giữ trên 102 điểm, thị trường chờ tín hiệu lãi suất Fed từ dữ liệu lạm phát Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (12/10): DXY giữ trên 102 điểm, thị trường chờ tín hiệu lãi suất Fed từ dữ liệu lạm phát Mỹ

(TBTCO) - Sáng 12/10, tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.621 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,1% xuống 102,1 điểm nhưng vẫn duy trì trên ngưỡng 102 điểm, gây sức ép lên nhiều đồng tiền chủ chốt. Thị trường ngoại hối hướng sự chú ý đến dữ liệu lạm phát Mỹ tuần này để đánh giá triển vọng chính sách lãi suất của Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (10/10): USD trong nước trái chiều, DXY cao nhất 18 tháng trước thềm công bố lạm phát Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (10/10): USD trong nước trái chiều, DXY cao nhất 18 tháng trước thềm công bố lạm phát Mỹ

(TBTCO) - Sáng 10/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.629 đồng, giảm 7 đồng so với cuối tuần trước; tỷ giá USD tại ngân hàng giảm mạnh, trái chiều với mức tăng 220 đồng trên thị trường tự do. Chỉ số DXY chốt tuần ở 102,22 điểm, tăng 0,28%, cao nhất kể từ đầu tháng 4/2025. Thị trường đang chờ báo cáo lạm phát của Mỹ tuần tới.
Tỷ giá USD hôm nay (9/10): USD ngân hàng giảm mạnh, Fed để ngỏ khả năng tạm dừng tăng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (9/10): USD ngân hàng giảm mạnh, Fed để ngỏ khả năng tạm dừng tăng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 9/10, Ngân hàng Nhà nước giảm tỷ giá trung tâm 5 đồng, xuống 25.629 đồng/USD, trong khi USD tại các ngân hàng giảm mạnh tới 80 đồng, còn chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 102,11 điểm. Thống đốc Fed Christopher Waller để ngỏ khả năng tạm dừng tăng lãi suất trong tháng 10, dù vẫn cho rằng có thể cần tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,100 143,100
Hà Nội - PNJ 140,100 143,100
Đà Nẵng - PNJ 140,100 143,100
Miền Tây - PNJ 140,100 143,100
Tây Nguyên - PNJ 140,100 143,100
Đông Nam Bộ - PNJ 140,100 143,100
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,060 14,360
Miếng SJC Nghệ An 14,060 14,360
Miếng SJC Thái Bình 14,060 14,360
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,280
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,406 14,362
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,406 14,363
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,401 1,431
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,401 1,432
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,376 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,693 140,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,936 106,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,988 96,788
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,704 8,684
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,203 83,003
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,612 59,412
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cập nhật: 18/10/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17448 17720 18309
CAD 17779 18053 18675
CHF 30781 31158 31797
CNY 0 3830 3926
EUR 28473 28690 29770
GBP 33709 34098 35033
HKD 0 3168 3371
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14320 14917
SGD 19695 19976 20546
THB 689 752 806
USD (1,2) 25630 0 0
USD (5,10,20) 25668 0 0
USD (50,100) 25696 25710 26080
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,507 28,530 29,883
JPY 159.19 159.48 169.13
GBP 33,818 33,910 35,099
AUD 17,673 17,737 18,408
CAD 17,917 17,975 18,641
CHF 30,968 31,064 31,993
SGD 19,791 19,853 20,642
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.9 18.67 20.31
THB 738.13 747.25 799.91
NZD 14,335 14,468 14,904
SEK - 2,566 2,656
DKK - 3,823 3,959
NOK - 2,691 2,787
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,923.13 - 6,687.65
TWD 721.45 - 874.11
SAR - 6,776.46 7,138.59
KWD - 81,705 86,947
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,665 25,695 26,075
EUR 28,502 28,645 29,870
GBP 33,836 34,006 35,040
HKD 3,225 3,244 3,361
CHF 30,831 30,986 31,935
JPY 158.94 160.55 168.54
AUD 17,634 17,758 18,354
SGD 19,774 19,954 20,548
THB 743 758 796
CAD 17,928 18,018 18,617
NZD 14,425 14,982
KRW 18.75 20.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25690 25690 26086
AUD 17676 17776 18701
CAD 17939 18039 19053
CHF 31052 31082 32659
CNY 3811.7 3836.7 3971.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28705 28735 30460
GBP 34035 34085 35837
HKD 0 3315 0
JPY 160.49 160.99 171.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14481 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19866 19996 20717
THB 0 720.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14090000 14090000 14390000
SBJ 12500000 12500000 14390000
Cập nhật: 18/10/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30