Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/12:

Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/12 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng giảm mạnh ở các kỳ hạn ngắn, trong khi các kỳ hạn dài vẫn neo quanh 7%, phản ánh áp lực thanh khoản chưa hoàn toàn được giải tỏa. Trong khi đó, tỷ giá USD/VND duy trì ổn định và biến động trong biên độ hẹp ở kênh chính thức, song giảm mạnh trên thị trường tự do, lùi xuống dưới mốc 27.000 đồng.
aa
Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ "Big 4" đồng loạt nâng lãi suất, dâng sóng huy động tiền gửi toàn thị trường

Lãi suất qua đêm hạ nhiệt, áp lực thanh khoản chưa hoàn toàn giải tỏa

Diễn biến nổi bật tuần qua cho thấy, lãi suất liên ngân hàng có xu hướng giảm mạnh ở các kỳ hạn ngắn, trong khi các kỳ hạn dài giảm nhẹ hơn, phản ánh trạng thái thanh khoản hệ thống được cải thiện rõ rệt sau giai đoạn căng thẳng trước đó.

Cụ thể, lãi suất qua đêm giảm sâu nhất, từ mức 7,08% vào cuối tuần trước xuống 4,58% ngày 18/12, tương đương mức giảm khoảng 2,5 điểm phần trăm. Diễn biến này cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn đã hạ nhiệt đáng kể, đặc biệt sau các phiên Ngân hàng Nhà nước bơm ròng mạnh qua kênh thị trường mở (OMO) ròng rã nhiều tuần. Ở kỳ hạn 1 tuần, lãi suất vay liên ngân hàng giảm xuống 5,07%, tương ứng mức giảm hơn 2 điểm phần trăm.

Các kỳ hạn dài hơn, lãi suất liên ngân hàng vẫn ở mức cao, mức giảm hẹp hơn. Theo đó, lãi suất kỳ hạn 2 tuần chỉ giảm khoảng 0,8 điểm phần trăm, về mức 6,68%. Lãi suất 1 tháng giảm nhẹ 0,21 điểm phần trăm, xuống 7,19%, trong khi kỳ hạn 3 tháng chỉ giảm 0,09 điểm phần trăm, duy trì ở mức cao khoảng 7,4%. Điều này cho thấy kỳ vọng về mặt bằng lãi suất dài hơn vẫn ở mức cao, trong bối cảnh nhu cầu vốn cuối năm và áp lực cân đối nguồn vốn của hệ thống chưa hoàn toàn biến mất.

Tuần qua, kênh thị trường mở (OMO) ghi nhận xu hướng Ngân hàng Nhà nước hút ròng thanh khoản là chủ đạo 4/5 phiên, ngoại trừ phiên cuối tuần có bơm ròng trở lại. Riêng phiên 17/12, không có khối lượng nào trúng thầu, đây là một trong những phiên hiếm hoi không phát sinh OMO.

Đến phiên ngày 19/12, cơ quan điều hành đã đảo chiều sang bơm ròng khoảng 20.375 tỷ đồng qua kênh OMO, phản ánh động thái chủ động hỗ trợ thanh khoản ngắn hạn cho hệ thống, tránh áp lực từ lãi suất liên ngân hàng trong giai đoạn căng vốn cuối năm.

Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh

Theo đó, tuần qua, có 61.029,15 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất 4,5%. Ở chiều ngược lại, có tới 64.527,85 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, lượng vốn OMO lưu hành còn 375.522,07 tỷ đồng. Tính chung, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 3.498,7 tỷ đồng trong tuần, đảo chiều so với mức bơm ròng mạnh trên 122.000 tỷ đồng 3 tuần trước.

Báo cáo từ Phòng Nghiên cứu và Phân tích - Khối Khách hàng cá nhân Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho thấy, nhu cầu vốn ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng vẫn đang ở mức cao, đặc biệt khi chênh lệch giữa tăng trưởng tín dụng và huy động ngày càng cao. Đồng thời, việc Ngân hàng Nhà nước duy trì mức lãi suất OMO 4,5% sau khi tăng từ đầu tháng 12 cũng đang từng bước hình thành mặt bằng chi phí vốn mới cho thị trường.

Theo báo cáo từ Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 11/2025, tín dụng tăng 16,56% so với cuối 2024, trong khi tăng trưởng huy động đạt khoảng 9,6 - 10,2%, dẫn đến tình trạng mất cân đối tạm thời về nguồn trong ngắn hạn buộc các ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động.

Trước diễn biến tăng mạnh của lãi suất liên ngân hàng hồi đầu tháng 12, Ngân hàng Nhà nước cũng chủ động sử dụng công cụ hoán đổi (Swap) USD với VND nhằm hỗ trợ thanh khoản VND trên hệ thống liên ngân hàng kể từ ngày 5/12/2025.

Cũng chung quan điểm, theo Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính của Ngân hàng Techcombank, quyết định của Ngân hàng Nhà nước nâng lãi suất OMO từ 4% lên 4,5% dường như cũng hướng vào mục tiêu duy trì sự ổn định của tỷ giá và mức lãi suất hợp lý.

Dựa trên kỳ hạn, nhóm phân tích Techcombank cho rằng, chênh lệch giá USD/VND mua ngay và mua kỳ hạn, lãi suất liên ngân hàng VND kỳ hạn ngắn nên nằm trong vùng khoảng 5%.

Tỷ giá tự do mất mốc 27.000 đồng, kênh chính thức "lặng sóng"

Nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta cho rằng, tỷ giá USD/VND trong có thể giảm nhẹ trong bối cảnh đồng USD tiếp tục yếu đi khi đồng EUR và JPY đang mạnh lên. Bên cạnh đó, lượng kiều hối về cuối năm, trong dịp Giáng sinh, Tết Dương lịch và Tết Nguyên đán gia tăng sẽ góp phần tăng cung USD trong nước.

Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh
Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/12: Hút ròng gần 3.500 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng dịu nhiệt, tỷ giá USD tự do rơi mạnh. Ảnh minh hoạ.

Về diễn biến tỷ giá, Ngân hàng Nhà nước ngày 19/12 niêm yết tỷ giá trung tâm ở 25.148 VND/USD, tăng 5 đồng so với phiên trước, song giảm 3 đồng so với cuối tuần trước. Với biên độ 5%, tỷ giá trần được phép giao dịch là 26.405 VND/USD, trong khi tỷ giá sàn là 23.891 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước được công bố ở mức 23.941 - 26.355 VND/USD (mua vào - bán ra).

Tuần qua, tỷ giá USD/VND nhìn chung "lặng sóng" ở kênh chính thức. Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ngày 19/12 ở mức 25.148 VND/USD, giảm 3 đồng so với cuối tuần trước. Trên thị trường tự do, tỷ USD giảm khoảng 200 đồng, về 26.900 - 27.000 VND/USD, phản ánh tâm lý thị trường hạ nhiệt.

Tỷ giá USD/VND nhìn chung biến động trong biên độ hẹp và có xu hướng giảm nhẹ ở kênh chính thức so với tuần trước. Tại Vietcombank ngày 19/12, tỷ giá USD niêm yết ở 26.095 - 26.405 VND/USD, không thay đổi so với cuối tuần trước ở cả hai chiều. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.130 - 26.405 VND/USD, trong đó giá mua tăng nhẹ 10 đồng, còn giá bán ra giữ nguyên.

Còn tỷ giá USD trên thị trường tự do có biến động mạnh hơn so với khu vực chính thức, chốt tuần ở mức 26.900 - 27.000 VND/USD, giảm 200 đồng so với cuối tuần trước. Mức giảm này cho thấy tâm lý đầu cơ ngoại tệ hạ nhiệt, nguồn cung USD có dấu hiệu cải thiện.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, đo sức mạnh của USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt ở mức 98,7 điểm, tăng nhẹ tuần qua. Tuy nhiên, các số liệu kinh tế mới công bố của Mỹ tiếp tục tạo áp lực giảm đối với USD. Theo Bộ Lao động Mỹ, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 tăng 2,7% so với cùng kỳ, thấp hơn đáng kể so với mức dự báo 3,1% của các nhà kinh tế.

Bên cạnh đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump cho biết Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (Fed) tiếp theo sẽ là người tin vào việc hạ lãi suất mạnh mẽ. Các ứng viên tiềm năng đều được đánh giá là ủng hộ mặt bằng lãi suất thấp hơn hiện nay, khiến thị trường giảm bớt kỳ vọng về khả năng duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt kéo dài.

Trong khi đó, tại châu Á, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) ngày 19/12 nâng lãi suất ngắn hạn từ 0,5% lên 0,75%, cao nhất 30 năm qua khi giá thực phẩm tăng cao tiếp tục đẩy lạm phát vượt mục tiêu 2%. Diễn biến này cho thấy chính sách tiền tệ toàn cầu vẫn phân hóa, qua đó tác động đan xen lên diễn biến tỷ giá trong nước.

Với các ngoại tệ khác, với tỷ giá EUR, GBP, JPY đều biến động khá nhỏ. Trong khi đó, tỷ giá CNY có xu hướng tăng tại cả hai ngân hàng. Vietcombank niêm yết ở mức 3.643,21 - 3.797,86 VND/CNY, tăng 8,8 đồng ở chiều mua và 9,1 đồng ở chiều bán so với cuối tuần trước. BIDV cũng điều chỉnh tăng, với giá mua tăng 10 đồng và giá bán tăng 8 đồng, lên mức 3.686 - 3.791 VND/CNY./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

(TBTCO) - Sáng 24/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.192 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đạt 101,44 điểm, tăng 0,03% khi kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách gia tăng; xác suất nâng lãi suất trong tháng 9 đã tăng lên 70,2%. Trong khi đó, đồng yên suy yếu mạnh, làm gia tăng lo ngại Nhật Bản có thể can thiệp.
Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

(TBTCO) - Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50/2014/NĐ-CP về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước có nhiều đề xuất đáng chú ý về bổ sung công cụ quyền chọn, tăng tính chủ động trong can thiệp thị trường... Hiện quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 87,6 tỷ USD tính đến ngày 18/6/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (22/6): USD tự do tăng vọt gần 200 đồng, DXY trên 100 điểm trước nguy cơ đổ vỡ hòa giải Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 22/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.183 đồng, tăng 2 đồng. Tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.750 - 26.780 VND/USD, tăng mạnh 170 - 180 đồng hai chiều. Chỉ số DXY tăng lên 100,77 điểm, thị trường dõi theo nguy cơ đổ vỡ tiến trình hòa giải Mỹ - Iran, trong khi Fed phát tín hiệu duy trì lãi suất ở mức cao trong thời gian dài.
Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

(TBTCO) - Sáng 20/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.181 đồng, tăng 26 đồng trong tuần và ghi nhận tuần tăng thứ sáu liên tiếp, lên cao nhất kể từ đầu tháng 10/2025. Trong khi đó, DXY chốt tuần tại 100,76 điểm, tăng 1,01%, nhờ kỳ vọng Fed nâng lãi suất trước cuối năm, còn ECB vẫn để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80