Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/12:

Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua cho thấy, tỷ giá trung tâm biến động nhẹ khi giảm 3 đồng, trong khi tỷ giá USD tự do hạ nhiệt tuần thứ tư liên tiếp, bám sát đà suy yếu của đồng USD sau khi Fed hạ lãi suất lần thứ ba. Cùng lúc, lãi suất liên ngân hàng vẫn neo trên 7% ở nhiều kỳ hạn, dù Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 12.938,36 tỷ đồng.
aa
Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/12: Thanh khoản hụt “oxy”, lãi suất liên ngân hàng áp sát 7,5% "Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa

Ngày 12/12, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.148 đồng, giảm 6 đồng so với ngày 11/12. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch trong vùng tỷ giá trần 26.405 VND/USD và tỷ giá sàn 23.890,6 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước ở mức 24.941 VND/USD (mua vào) và 26.355 VND/USD (bán ra), giảm tương ứng.

Tỷ giá hạ nhiệt, USD suy yếu mạnh sau khi Fed hạ lãi suất

Tính chung tuần qua, từ ngày 8/12 đến ngày 12/12, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 3 đồng so với cuối tuần trước, cho thấy cơ quan điều hành tiếp tục duy trì định hướng ổn định, hỗ trợ tâm lý thị trường khi áp lực từ bên ngoài giảm dần.

Dữ liệu tỷ giá niêm yết tại Vietcombank và BIDV ngày 12/12 cho thấy, thị trường ngoại tệ tiếp tục ổn định, nhưng mức biến động giữa các đồng tiền lại phân hóa khá rõ rệt. Theo đó, tỷ giá USD tại Vietcombank giảm mạnh 43 đồng chiều mua, còn 26.095 VND/USD, trong khi giá bán giảm 3 đồng, xuống 26.405 VND/USD. Xu hướng tương tự ghi nhận tại BIDV, tỷ giá USD giao dịch ở mức 26.120 - 26.405 VND/USD.

Tỷ giá USD tự do tiếp đà hạ nhiệt sâu 4 tuần liên tiếp, xuống còn 27.100 - 27.200 VND/USD, giảm 100 đồng chiều mua và 60 đồng chiều bán so với cuối tuần trước.

Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD
Trong tuần 8 - 12/12, tỷ giá hạ theo đà USD suy yếu. Ảnh minh hoạ.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, giảm 0,4% xuống 98,4 điểm, đánh dấu mức thấp nhất trong nhiều tháng. Đồng USD suy yếu mạnh sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thực hiện lần giảm lãi suất mới.

Với các ngoại tệ khác, EUR là đồng tiền tăng mạnh nhất trong tuần. Vietcombank điều chỉnh tăng 135,8 đồng ở chiều mua và tăng 143,1 đồng ở chiều bán, lên 30.077 - 31.662,61 VND/EUR. BIDV cũng tăng tương ứng lên 30.430 - 31.685 VND/EUR.

Đồng bảng Anh cũng tăng mạnh. Vietcombank nâng chiều mua tiền mặt thêm 70,6 đồng, chiều bán tăng 73,7 đồng, giao dịch ở mức 34.322,41 - 35.779,36 VND/GBP.

Ngày 10/12, như kỳ vọng của thị trường, Fed đã hạ lãi suất thêm 25 điểm cơ bản lần thứ ba trong năm, đưa lãi suất xuống mức 3,5 - 3,75%, thấp nhất kể từ tháng 11/2022.

Fed dự báo tăng trưởng kinh tế sẽ đạt mức 2,3% vào năm 2026, từ mức 1,7% của năm 2025; tỷ lệ thất nghiệp duy trì ổn định, nhưng nhu cầu lao động có dấu hiệu chậm lại. Lạm phát vẫn cao hơn mục tiêu 2% của Fed và các yếu tố làm tăng lạm phát hiện nay đến từ chính sách thuế quan cũng như hạn chế nhập cư, chứ không phải do mặt bằng lãi suất thấp.

Đối với năm 2026, câu hỏi đặt ra là Fed sẽ chỉ cắt giảm thêm một lần nữa hay sẽ nhượng bộ trước yêu cầu của Tổng thống Donald Trump và hạ lãi suất điều hành xuống 3% hoặc thấp hơn. Mặc dù thị trường kỳ vọng sẽ có 2 lần giảm lãi suất, song định hướng chính sách vẫn thận trọng, dự kiến chỉ còn 2 lần giảm lãi suất trong các năm 2026 và 2027.

Áp lực tỷ giá giảm dần, lãi suất liên ngân hàng neo cao

Theo quan điểm của Khối Nghiên cứu, Công ty cổ phần Chứng khoán MBS (MBS), sẽ chỉ có 1 lần giảm lãi suất khoảng 25 điểm cơ bản, sớm nhất là vào tháng 5/2026, trong 3 cuộc họp cuối cùng dưới nhiệm kỳ của Chủ tịch Jerome Powell. Nguyên nhân chủ yếu là lạm phát khó giảm mạnh do ảnh hưởng của chính sách thuế quan, hạn chế nhập cư, nhu cầu năng lượng liên quan đến trí tuệ nhân tạo, cùng với việc cắt giảm thuế làm thu hẹp dư địa nới lỏng tiền tệ.

Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD

Dự báo tỷ giá chỉ tăng 2,5%
trong năm 2026

Theo nhóm phân tích MBS, tại Việt Nam, tỷ giá đã bắt đầu hạ nhiệt từ giữa tháng 11. Tính đến ngày 11/12, tỷ giá liên ngân hàng đạt 26.346 VND/USD, giảm 0,3% so với đỉnh, nhưng vẫn tăng 3,5% so với đầu năm. Trên thị trường tự do, tỷ giá cũng giảm 2,5% so với đỉnh.

"Với dự báo chỉ số DXY suy yếu, cùng nguồn cung USD dồi dào hơn vào cuối năm từ xuất khẩu và kiều hối, chúng tôi cho rằng, tỷ giá chỉ tăng khoảng 2,2 - 2,5% trong năm 2026" - MBS dự báo.

Nhóm phân tích cho rằng, sức mạnh của đồng USD sẽ suy yếu đáng kể trong năm 2026, qua đó giảm áp lực lên tỷ giá USD/đồng Việt Nam.

Mặc dù dự báo chỉ có thêm 1 lần giảm lãi suất, nhóm phân tích MBS cho rằng, DXY vẫn sẽ giảm về vùng 95 điểm trong năm 2026.

Sự suy yếu này phản ánh sự khác biệt ngày càng lớn trong chính sách tiền tệ giữa các ngân hàng trung ương lớn. Theo đó, ngân hàng trung ương châu Âu và Anh ám chỉ quan điểm họ đã hoàn tất chu kỳ nới lỏng, giảm lo ngại về tác động tiêu cực của chính sách thuế quan mới và dần theo dõi lạm phát nhiều hơn.

Sự yếu đi của USD cũng thể hiện qua sự phục hồi của JPY và GBP, trước thềm quyết định tăng lãi suất của Ngân hàng Nhật Bản và cắt giảm của Ngân hàng Anh vào tuần tới.

Về diễn biến lãi suất liên ngân hàng, từ ngày 8/12 đến ngày 12/12, lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì mặt bằng cao và biến động phân hóa giữa các kỳ hạn. Theo đó, lãi suất qua đêm ngày 12/12 gần như đi ngang, giữ nguyên ở mức 7,37% như cuối tuần trước. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng 0,35 điểm phần trăm, lên 7,44%; lãi suất kỳ hạn 2 tuần tăng 0,22 điểm phần trăm, lên 7,57% và cao nhất trong các kỳ hạn.

Ngược lại, các kỳ hạn dài hơn có xu hướng hạ nhiệt, trong đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,18 điểm phần trăm, chỉ còn 6,8% và 3 tháng giảm 0,03 điểm phần trăm, xuống 7,18%. Diễn biến này cho thấy áp lực thanh khoản vẫn tập trung ở nhóm kỳ hạn ngắn, trong khi mặt bằng lãi suất dài hơn có phần ổn định trở lại.

Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì nhịp độ bơm hút vốn trên kênh thị trường mở (OMO) với quy mô giảm hơn 2 tuần bơm ròng trước đó, nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống. Theo đó, tuần qua, có 77.789,91 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất 4,5%. Ở chiều ngược lại, có 66.815,55 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, tiếp tục đưa lượng vốn OMO lưu hành lên vùng đỉnh mới, 379.020,77 tỷ đồng.

Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 12.938,36 tỷ đồng trong tuần, nối tiếp đà bơm ròng mạnh gần 110.000 tỷ đồng 2 tuần trước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

(TBTCO) - Sáng 20/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.181 đồng, tăng 26 đồng trong tuần và ghi nhận tuần tăng thứ sáu liên tiếp, lên cao nhất kể từ đầu tháng 10/2025. Trong khi đó, DXY chốt tuần tại 100,76 điểm, tăng 1,01%, nhờ kỳ vọng Fed nâng lãi suất trước cuối năm, còn ECB vẫn để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Tỷ giá USD hôm nay (16/6): Tỷ giá trung tâm đứng yên, DXY suy yếu trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (16/6): Tỷ giá trung tâm đứng yên, DXY suy yếu trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 16/6, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.165 đồng; trong khi tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.300 - 26.320 VND/USD, thấp hơn tỷ giá ngân hàng. Chỉ số DXY ở mức 99,63 điểm khi đồng USD suy yếu, giữa lúc thị trường chờ cuộc họp của Fed và đón nhận thông tin Mỹ - Iran hướng tới chấm dứt xung đột.
Tỷ giá USD hôm nay (15/6): Tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, DXY suy yếu sau tín hiệu kết thúc xung đột Mỹ - Iran gần 4 tháng

Tỷ giá USD hôm nay (15/6): Tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, DXY suy yếu sau tín hiệu kết thúc xung đột Mỹ - Iran gần 4 tháng

(TBTCO) - Sáng 15/6, tỷ giá trung tâm công bố ở mức 25.165 đồng, tăng 10 đồng so với cuối tuần trước. Trong khi đó, tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.300 - 26.320 VND/USD, tăng 50 - 60 đồng hai chiều. DXY suy yếu hiện ở mức 99,57 điểm, giảm 0,18%, sau thông tin Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận nhằm chấm dứt xung đột kéo dài gần 4 tháng.
Tỷ giá USD hôm nay (13/6): Tỷ giá trung tâm tăng 5 tuần liên tiếp, chờ loạt ngân hàng trung ương họp lãi suất tuần tới

Tỷ giá USD hôm nay (13/6): Tỷ giá trung tâm tăng 5 tuần liên tiếp, chờ loạt ngân hàng trung ương họp lãi suất tuần tới

(TBTCO) - Sáng 13/6, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.155 đồng/USD, tăng 8 đồng so với cuối tuần trước và nối dài chuỗi tăng 5 tuần liên tiếp. Ngược lại, tỷ giá USD tự do giảm 140 đồng, về 26.240 - 26.270 VND/USD. Chỉ số DXY chốt tuần ở 99,78 điểm, giảm 0,29%, khi nhà đầu tư chờ tín hiệu chính sách từ Fed, BoE và BoJ trong tuần tới.
Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5% đến hết năm 2026, đồng VND có thể chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026, song triển vọng trung hạn vẫn tích cực.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 24/06/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17745 18018 18595
CAD 18019 18294 18913
CHF 31839 32220 32876
CNY 0 3838 3932
EUR 29376 29596 30680
GBP 33989 34379 35327
HKD 0 3226 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14652 15240
SGD 19778 20060 20629
THB 708 771 825
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26448
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,448
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 29,581 29,605 30,943
JPY 158.49 158.78 167.98
GBP 34,232 34,325 35,426
AUD 17,979 18,044 18,680
CAD 18,225 18,284 18,913
CHF 32,164 32,264 33,133
SGD 19,920 19,982 20,719
CNY - 3,811 3,947
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.76 16.44 17.84
THB 756.9 766.25 817.94
NZD 14,652 14,788 15,193
SEK - 2,684 2,772
DKK - 3,958 4,087
NOK - 2,657 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,940.34 - 6,690.03
TWD 750.56 - 907.1
SAR - 6,898.04 7,248.34
KWD - 83,341 88,465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,128 26,448
EUR 29,513 29,632 30,813
GBP 34,234 34,371 35,383
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 31,999 32,128 33,022
JPY 158.78 159.42 167.22
AUD 18,045 18,117 18,707
SGD 19,998 20,078 20,657
THB 779 782 816
CAD 18,251 18,324 18,884
NZD 0 14,761 15,293
KRW 0 16.41 17.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26132 26132 26448
AUD 17956 18056 18982
CAD 18204 18304 19318
CHF 32079 32109 33695
CNY 3819.7 3844.7 3980
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29572 29602 31327
GBP 34288 34338 36096
HKD 0 3355 0
JPY 159.56 160.06 170.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14777 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20798
THB 0 739 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,448
USD20 26,151 26,201 26,448
USD1 26,151 26,201 26,448
AUD 18,077 18,177 19,285
EUR 29,780 29,780 31,188
CAD 18,184 18,284 19,588
SGD 20,044 20,194 20,757
JPY 159.91 161.41 165.97
GBP 34,257 34,607 35,703
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/06/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80