Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/12:

Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua cho thấy, tỷ giá trung tâm biến động nhẹ khi giảm 3 đồng, trong khi tỷ giá USD tự do hạ nhiệt tuần thứ tư liên tiếp, bám sát đà suy yếu của đồng USD sau khi Fed hạ lãi suất lần thứ ba. Cùng lúc, lãi suất liên ngân hàng vẫn neo trên 7% ở nhiều kỳ hạn, dù Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 12.938,36 tỷ đồng.
aa
Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/12: Thanh khoản hụt “oxy”, lãi suất liên ngân hàng áp sát 7,5% "Sóng" tỷ giá lặng dần nhờ kỳ vọng Fed hạ lãi suất, nhiều áp lực dần giải tỏa

Ngày 12/12, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.148 đồng, giảm 6 đồng so với ngày 11/12. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch trong vùng tỷ giá trần 26.405 VND/USD và tỷ giá sàn 23.890,6 VND/USD. Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước ở mức 24.941 VND/USD (mua vào) và 26.355 VND/USD (bán ra), giảm tương ứng.

Tỷ giá hạ nhiệt, USD suy yếu mạnh sau khi Fed hạ lãi suất

Tính chung tuần qua, từ ngày 8/12 đến ngày 12/12, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 3 đồng so với cuối tuần trước, cho thấy cơ quan điều hành tiếp tục duy trì định hướng ổn định, hỗ trợ tâm lý thị trường khi áp lực từ bên ngoài giảm dần.

Dữ liệu tỷ giá niêm yết tại Vietcombank và BIDV ngày 12/12 cho thấy, thị trường ngoại tệ tiếp tục ổn định, nhưng mức biến động giữa các đồng tiền lại phân hóa khá rõ rệt. Theo đó, tỷ giá USD tại Vietcombank giảm mạnh 43 đồng chiều mua, còn 26.095 VND/USD, trong khi giá bán giảm 3 đồng, xuống 26.405 VND/USD. Xu hướng tương tự ghi nhận tại BIDV, tỷ giá USD giao dịch ở mức 26.120 - 26.405 VND/USD.

Tỷ giá USD tự do tiếp đà hạ nhiệt sâu 4 tuần liên tiếp, xuống còn 27.100 - 27.200 VND/USD, giảm 100 đồng chiều mua và 60 đồng chiều bán so với cuối tuần trước.

Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD
Trong tuần 8 - 12/12, tỷ giá hạ theo đà USD suy yếu. Ảnh minh hoạ.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với 6 đồng tiền chủ chốt, giảm 0,4% xuống 98,4 điểm, đánh dấu mức thấp nhất trong nhiều tháng. Đồng USD suy yếu mạnh sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thực hiện lần giảm lãi suất mới.

Với các ngoại tệ khác, EUR là đồng tiền tăng mạnh nhất trong tuần. Vietcombank điều chỉnh tăng 135,8 đồng ở chiều mua và tăng 143,1 đồng ở chiều bán, lên 30.077 - 31.662,61 VND/EUR. BIDV cũng tăng tương ứng lên 30.430 - 31.685 VND/EUR.

Đồng bảng Anh cũng tăng mạnh. Vietcombank nâng chiều mua tiền mặt thêm 70,6 đồng, chiều bán tăng 73,7 đồng, giao dịch ở mức 34.322,41 - 35.779,36 VND/GBP.

Ngày 10/12, như kỳ vọng của thị trường, Fed đã hạ lãi suất thêm 25 điểm cơ bản lần thứ ba trong năm, đưa lãi suất xuống mức 3,5 - 3,75%, thấp nhất kể từ tháng 11/2022.

Fed dự báo tăng trưởng kinh tế sẽ đạt mức 2,3% vào năm 2026, từ mức 1,7% của năm 2025; tỷ lệ thất nghiệp duy trì ổn định, nhưng nhu cầu lao động có dấu hiệu chậm lại. Lạm phát vẫn cao hơn mục tiêu 2% của Fed và các yếu tố làm tăng lạm phát hiện nay đến từ chính sách thuế quan cũng như hạn chế nhập cư, chứ không phải do mặt bằng lãi suất thấp.

Đối với năm 2026, câu hỏi đặt ra là Fed sẽ chỉ cắt giảm thêm một lần nữa hay sẽ nhượng bộ trước yêu cầu của Tổng thống Donald Trump và hạ lãi suất điều hành xuống 3% hoặc thấp hơn. Mặc dù thị trường kỳ vọng sẽ có 2 lần giảm lãi suất, song định hướng chính sách vẫn thận trọng, dự kiến chỉ còn 2 lần giảm lãi suất trong các năm 2026 và 2027.

Áp lực tỷ giá giảm dần, lãi suất liên ngân hàng neo cao

Theo quan điểm của Khối Nghiên cứu, Công ty cổ phần Chứng khoán MBS (MBS), sẽ chỉ có 1 lần giảm lãi suất khoảng 25 điểm cơ bản, sớm nhất là vào tháng 5/2026, trong 3 cuộc họp cuối cùng dưới nhiệm kỳ của Chủ tịch Jerome Powell. Nguyên nhân chủ yếu là lạm phát khó giảm mạnh do ảnh hưởng của chính sách thuế quan, hạn chế nhập cư, nhu cầu năng lượng liên quan đến trí tuệ nhân tạo, cùng với việc cắt giảm thuế làm thu hẹp dư địa nới lỏng tiền tệ.

Lãi suất liên ngân hàng neo trên 7%, tỷ giá hạ theo đà suy yếu của USD

Dự báo tỷ giá chỉ tăng 2,5%
trong năm 2026

Theo nhóm phân tích MBS, tại Việt Nam, tỷ giá đã bắt đầu hạ nhiệt từ giữa tháng 11. Tính đến ngày 11/12, tỷ giá liên ngân hàng đạt 26.346 VND/USD, giảm 0,3% so với đỉnh, nhưng vẫn tăng 3,5% so với đầu năm. Trên thị trường tự do, tỷ giá cũng giảm 2,5% so với đỉnh.

"Với dự báo chỉ số DXY suy yếu, cùng nguồn cung USD dồi dào hơn vào cuối năm từ xuất khẩu và kiều hối, chúng tôi cho rằng, tỷ giá chỉ tăng khoảng 2,2 - 2,5% trong năm 2026" - MBS dự báo.

Nhóm phân tích cho rằng, sức mạnh của đồng USD sẽ suy yếu đáng kể trong năm 2026, qua đó giảm áp lực lên tỷ giá USD/đồng Việt Nam.

Mặc dù dự báo chỉ có thêm 1 lần giảm lãi suất, nhóm phân tích MBS cho rằng, DXY vẫn sẽ giảm về vùng 95 điểm trong năm 2026.

Sự suy yếu này phản ánh sự khác biệt ngày càng lớn trong chính sách tiền tệ giữa các ngân hàng trung ương lớn. Theo đó, ngân hàng trung ương châu Âu và Anh ám chỉ quan điểm họ đã hoàn tất chu kỳ nới lỏng, giảm lo ngại về tác động tiêu cực của chính sách thuế quan mới và dần theo dõi lạm phát nhiều hơn.

Sự yếu đi của USD cũng thể hiện qua sự phục hồi của JPY và GBP, trước thềm quyết định tăng lãi suất của Ngân hàng Nhật Bản và cắt giảm của Ngân hàng Anh vào tuần tới.

Về diễn biến lãi suất liên ngân hàng, từ ngày 8/12 đến ngày 12/12, lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì mặt bằng cao và biến động phân hóa giữa các kỳ hạn. Theo đó, lãi suất qua đêm ngày 12/12 gần như đi ngang, giữ nguyên ở mức 7,37% như cuối tuần trước. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng 0,35 điểm phần trăm, lên 7,44%; lãi suất kỳ hạn 2 tuần tăng 0,22 điểm phần trăm, lên 7,57% và cao nhất trong các kỳ hạn.

Ngược lại, các kỳ hạn dài hơn có xu hướng hạ nhiệt, trong đó, lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,18 điểm phần trăm, chỉ còn 6,8% và 3 tháng giảm 0,03 điểm phần trăm, xuống 7,18%. Diễn biến này cho thấy áp lực thanh khoản vẫn tập trung ở nhóm kỳ hạn ngắn, trong khi mặt bằng lãi suất dài hơn có phần ổn định trở lại.

Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì nhịp độ bơm hút vốn trên kênh thị trường mở (OMO) với quy mô giảm hơn 2 tuần bơm ròng trước đó, nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống. Theo đó, tuần qua, có 77.789,91 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất 4,5%. Ở chiều ngược lại, có 66.815,55 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, tiếp tục đưa lượng vốn OMO lưu hành lên vùng đỉnh mới, 379.020,77 tỷ đồng.

Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 12.938,36 tỷ đồng trong tuần, nối tiếp đà bơm ròng mạnh gần 110.000 tỷ đồng 2 tuần trước./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Tỷ giá USD hôm nay (3/10): USD biến động hẹp, việc làm Mỹ suy yếu khiến Fed khó tăng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (3/10): USD biến động hẹp, việc làm Mỹ suy yếu khiến Fed khó tăng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 3/10, tỷ giá trung tâm tăng 12 đồng lên 25.636 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,91 điểm, tăng 0,93% dù hạ nhiệt phiên cuối tuần. Dữ liệu PCE và việc làm Mỹ suy yếu kéo xác suất Fed tăng lãi suất tháng 10 từ khoảng 70% xuống 21,59%, qua đó giảm áp lực lên USD.
Tỷ giá USD hôm nay (2/10): USD đồng loạt tăng, DXY lên cao nhất từ cuối tháng 3/2025 trước dữ liệu việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (2/10): USD đồng loạt tăng, DXY lên cao nhất từ cuối tháng 3/2025 trước dữ liệu việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 2/10, tỷ giá trung tâm tăng 12 đồng lên 25.636 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt đi lên. Chỉ số DXY bật tăng 0,57% lên 102,04 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025. Giới đầu tư đang chờ báo cáo việc làm tháng 9 của Mỹ để tìm tín hiệu chính sách của Fed, khi kỳ vọng tăng lãi suất tháng 10 suy giảm.
Tỷ giá USD hôm nay (1/10): Tỷ giá trung tâm nối dài đà giảm, dữ liệu lạm phát Mỹ đẩy lùi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (1/10): Tỷ giá trung tâm nối dài đà giảm, dữ liệu lạm phát Mỹ đẩy lùi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 1/10, tỷ giá trung tâm tiếp đà giảm 3 đồng xuống 25.624 đồng, tỷ giá tại ngân hàng cũng đi xuống. Chỉ số DXY nhích lên 101,48 điểm. Dữ liệu lạm phát Mỹ thấp hơn dự báo khiến thị trường lùi kỳ vọng Fed tăng lãi suất từ tháng 10 sang tháng 12, trong khi căng thẳng Trung Đông và bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ tiếp tục được chú ý.
Tỷ giá USD hôm nay (30/9): Tỷ giá trung tâm giảm, DXY tiến sát đỉnh hai tháng khi thị trường chờ PCE Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (30/9): Tỷ giá trung tâm giảm, DXY tiến sát đỉnh hai tháng khi thị trường chờ PCE Mỹ

(TBTCO) - Sáng 30/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 đồng, giảm 3 đồng so với phiên trước, trong khi USD tại các ngân hàng diễn biến trái chiều. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,2% lên 101,38 điểm, tiến sát mức cao nhất kể từ cuối tháng 7. Thị trường đang chờ loạt dữ liệu kinh tế Mỹ, đáng chú ý là báo cáo việc làm và chỉ số PCE.
Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Tỷ giá USD hôm nay (28/9): DXY giữ trên 101 điểm, USD chờ “phép thử” từ dữ liệu lao động Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (28/9): DXY giữ trên 101 điểm, USD chờ “phép thử” từ dữ liệu lao động Mỹ

(TBTCO) - Sáng 28/9, tỷ giá trung tâm giảm 9 đồng, xuống 25.632 đồng/USD, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do diễn biến phân hóa. DXY mở đầu tuần nhích 0,09%, lên 101,13 điểm. Tuần này, thị trường tập trung vào dữ liệu lao động, sản xuất của Mỹ và phát biểu của quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), giữa kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản vào cuối tháng 10.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Hà Nội - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Miền Tây - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 ▼300K 143,000 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 ▼30K 14,320 ▼30K
NL 99.99 13,250 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150 ▼50K
Trang sức 99.9 13,600 ▼60K 14,200 ▼60K
Trang sức 99.99 13,610 ▼60K 14,210 ▼60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 06/10/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,697 25,817 26,190
USD20 25,667 25,817 26,190
USD1 25,647 25,817 26,190
AUD 17,823 17,923 19,031
EUR 28,572 28,672 30,331
CAD 17,810 17,910 19,216
SGD 20,026 20,176 21,332
JPY 161.25 162.75 168.28
GBP 33,817 33,967 35,280
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/10/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30