VietCredit cho vay vượt 9.000 tỷ đồng nhờ đối tác số, nhưng lộ rõ rủi ro và nợ xấu

Ánh Tuyết
Sau khi chuyển đổi sang mô hình kinh doanh số, VietCredit mở rộng tiếp cận tín dụng tiêu dùng qua nền tảng của nhiều đối tác, đưa dư nợ cho vay đạt 9.327 tỷ đồng cuối quý III/2025, tăng 48% so với cuối năm 2024 và 111% so với năm 2022. Tuy nhiên, kết luận thanh tra cho thấy nhiều tồn tại, đặc biệt trong cấp tín dụng qua bên thứ ba và xử lý nợ xấu khi chỉ đạt 3% kế hoạch.
aa
VietCredit tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông bất thường Cảnh báo dấu hiệu mập mờ khi cung cấp dịch vụ cho vay tiêu dùng Ngân hàng Nhà nước đề xuất tăng hạn mức cho vay tiêu dùng gấp 4 lần, lên 400 triệu đồng

Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Kết luận thanh tra số 86/KL-TTNH5 đối với Công ty Tài chính tổng hợp cổ phần Tín Việt (VietCredit) và tiến hành công bố, công khai kết luận thanh tra tại trụ sở Thanh tra Ngân hàng Nhà nước.

Thu hồi nợ xấu đạt 3% kế hoạch, vi phạm cho vay qua nền tảng số

Thông báo kết luận thanh tra ghi nhận một số kết quả đạt được trong quá trình hoạt động. Theo đó, sau khi chuyển đổi mô hình từ kinh doanh truyền thống sang mô hình kinh doanh trên nền tảng số, công ty đã tiết giảm đáng kể chi phí vận hành.

VietCredit cho vay vượt 9.000 tỷ đồng nhờ đối tác số, nhưng lộ rõ rủi ro và nợ xấu
VietCredit cho vay vượt 9.000 tỷ đồng nhờ đối tác số, nhưng lộ rõ rủi ro và nợ xấu. Ảnh minh hoạ.

Thời điểm cuối năm 2023, VietCredit (mã Ck: TIN) có 1.327 nhân viên với 27 điểm giới thiệu dịch vụ và 01 chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh; đến ngày 30/6/2024 còn 689 nhân viên tại trụ sở chính và 01 chi nhánh; đến ngày 31/7/2025 chỉ còn 355 nhân viên.

Việc chuyển đổi giúp người dùng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ nhu cầu đời sống và tín dụng tiêu dùng một cách nhanh chóng, thuận tiện, thông qua việc phân tầng, tiếp cận và cung ứng sản phẩm tín dụng phù hợp cho từng đối tượng khách hàng trên các nền tảng số của bên thứ ba như: MISA Lending, KiotViet, Grab, MoMo, Zalo-Fiza, VNPT Money, 10ffice, Viettel Money, TOPI.

Bên cạnh kết quả đạt được, cơ quan thanh tra chỉ rõ những tồn tại, vi phạm trong thời kỳ thanh tra. Theo đó, về công tác xử lý nợ xấu và thực hiện các giải pháp xử lý nợ xấu, VietCredit đã hoàn thành thu hồi nợ xấu nội bảng và ngoại bảng năm 2023 vượt kế hoạch.

Theo đó, năm 2023, mục tiêu thu hồi nợ xấu nội bảng là 0,03 tỷ đồng, kết quả thu được 0,69 tỷ đồng; mục tiêu thu hồi nợ ngoại bảng là 3,35 tỷ đồng, kết quả thu được 31,7 tỷ đồng.

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ, năm 2024 và trong 7 tháng đầu năm 2025, VietCredit chỉ đạt 3% so với kế hoạch thu hồi nợ xấu nội bảng đặt ra. Với các khoản nợ đã bán cho Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC), VietCredit đã tiến hành mua lại một phần khoản nợ khi trái phiếu đặc biệt đến hạn và tiếp tục đôn đốc khách hàng, khởi kiện…, nhưng chưa đạt mục tiêu như kế hoạch.

Trong hoạt động cấp tín dụng, kết quả thanh tra cho thấy hoạt động cấp tín dụng của VietCredit đối với khách hàng thông qua các nền tảng số do bên thứ ba cung ứng còn tồn tại nhiều vi phạm.

Theo đó, VietCredit vi phạm về thẩm định và quyết định cho vay; vi phạm về lập hợp đồng và thỏa thuận cấp tín dụng khi nội dung chưa đầy đủ về biện pháp đôn đốc, thu hồi nợ và thời hạn xử lý đề nghị tra soát, khiếu nại.

Cùng với đó, vi phạm về kiểm tra và giám sát sau cho vay; vi phạm về thời điểm trích lập dự phòng rủi ro; vi phạm về thông báo chuyển nợ quá hạn khi không thông báo đầy đủ lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn.

Các biện pháp kiểm tra, giám sát sau cho vay (qua cuộc gọi tự động, thư điện tử, cuộc gọi thoại) không đủ hiệu quả khi không xác định được mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng. Ngoài ra, việc tham chiếu Thông tin tín dụng quốc gia (CIC) trên các kênh sản phẩm S37 (sản phẩm cảnh báo khách hàng vay tức thời) và R21 (sản phẩm thông tin bảo đảm tiền vay), nhưng chưa tham chiếu CIC trên kênh B11T (sản phẩm thông tin quan hệ tín dụng cá nhân cơ bản tức thời) đối với nghĩa vụ nợ của khách hàng tại các tổ chức tín dụng khác.

Từ đó, VietCredit không có đủ cơ sở đánh giá năng lực tài chính và khả năng trả nợ, làm phát sinh rủi ro tiềm ẩn về khả năng trả nợ trong tương lai.

"Về hoạt động cấp tín dụng qua thẻ vay, VietCredit chưa có biện pháp tích cực phối hợp bên thứ ba (trung gian thanh toán hoặc ngân hàng đại lý) để kiểm soát chặt chẽ hoặc hạn chế giao dịch rút tiền qua máy rút tiền tự động ngay sau khi khoản vay được kích hoạt, cũng như xác định mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng" - cơ quan thanh tra nêu rõ.

Nhiều tồn tại trong quản trị và giám sát rủi ro

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước cũng chỉ rõ hàng loạt tồn tại trong hoạt động quản trị, điều hành, quản lý rủi ro. Đơn cử, báo cáo đánh giá định kỳ hàng năm (năm 2023, năm 2024) của Hội đồng quản trị chưa đánh giá độc lập hiệu quả làm việc của Tổng Giám đốc theo quy định. Báo cáo hoạt động năm 2024 không có nội dung đánh giá cụ thể hiệu quả làm việc của từng thành viên Hội đồng quản trị theo quy định.

Biên bản họp của Ủy ban Quản lý rủi ro, đặc biệt là các cuộc họp có nhiều nội dung, không có bảng tổng hợp kết quả biểu quyết thống nhất và không thống nhất của từng thành viên...

Hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc (người điều hành) thực hiện chưa hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn trong việc kiểm tra, giám sát, chỉ đạo, dẫn đến để xảy ra một số tồn tại, vi phạm như: ban hành quy định nội bộ về phân loại tài sản có, trích lập dự phòng rủi ro và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro; quy định về phân loại nợ, cam kết ngoại bảng, trích lập và sử dụng dự phòng...

Về nguyên nhân, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ, Hội đồng quản trị, Ban Kiểm soát và Người điều hành chưa thực hiện đầy đủ và hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định pháp luật và Điều lệ VietCredit trong hoạt động quản trị, điều hành, kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ về tổ chức, điều hành và triển khai hoạt động kinh doanh.

Công tác kiểm tra, kiểm soát và kiểm toán nội bộ chưa kịp thời phát hiện các vi phạm, tồn tại để kiến nghị và chấn chỉnh, dẫn đến để xảy ra nhiều tồn tại, vi phạm.

Trưởng Đoàn thanh tra VietCredit đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 13/QĐ-XPHC ngày 09/10/2025 đối với 8 hành vi vi phạm hành chính, với tổng số tiền phạt là 702 triệu đồng./.

Tín dụng bứt tốc, VietCredit chật vật với kế hoạch xử lý nợ xấu

Được biết, VietCredit được thành lập và hoạt động theo Giấy phép hoạt động số 142/GP-NHNN ngày 29/5/2008 với tên đầy đủ là Công ty Tài chính cổ phần Xi Măng. Đến ngày 18/6/2018, Ngân hàng Nhà nước cấp Giấy phép thành lập và hoạt động số 59/GP-NHNN (thay thế Giấy phép số 142/GP-NHNN), công ty được đổi tên thành Công ty Tài chính cổ phần Tín Việt. Người đại diện theo pháp luật là ông Hồ Minh Tâm - Tổng Giám đốc.

VietCredit có trụ sở chính tại Hà Nội và một chi nhánh tại TP. Hồ Chí Minh và không có điểm giới thiệu dịch vụ. Tổng số nhân viên toàn hệ thống tính đến ngày 31/7/2025 là 355 người.

Tăng trưởng tín dụng của VietCredit tăng mạnh qua các năm, đặc biệt khi cung ứng sản phẩm tín dụng trên các nền tảng số của bên thứ ba. Theo đó, năm 2022, VietCredit cho vay khách hàng đạt 4.418,4 tỷ đồng. Hết quý III/2025, đạt 9.327 tỷ đồng, tăng 48% so với cuối năm 2024 và tăng mạnh 111% so với năm 2022. Tuy nhiên, VietCredit còn nhiều tồn tại trong cấp tín dụng qua bên thứ ba, giám sát sau cho vay và xử lý nợ xấu./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 9/5: Giá vàng trong nước neo quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 9/5 đi ngang quanh ngưỡng 164,5 - 167,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, giá vàng thế giới tiếp tục dao động ở vùng cao trước các yếu tố địa chính trị và kỳ vọng lãi suất của Fed.
Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

Thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi tên gọi và địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch (PGD) trực thuộc.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

Áp lực và cơ hội song hành, ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới

(TBTCO) - Khối lợi nhuận tích lũy chưa phân phối cao vượt trội cùng cơ chế mới và yêu cầu nâng chuẩn hệ số an toàn vốn (CAR) đang tạo lực đẩy mạnh cho nhóm ngân hàng “big 4” bước vào chu kỳ tăng vốn mới.
Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

Không để gián đoạn quyền lợi người hưởng khi giấy ủy quyền nhận lương hưu hết hiệu lực

(TBTCO) - Trước thời điểm 1/7/2026, nhiều trường hợp ủy quyền nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng có thể hết hiệu lực theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố chủ động rà soát, phối hợp hỗ trợ người hưởng lập lại văn bản ủy quyền hoặc chuyển sang nhận qua tài khoản cá nhân, bảo đảm chi trả đúng người, đúng chế độ, không để gián đoạn việc chi trả.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 16,750
Kim TT/AVPL 16,450 16,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 16,750
Nguyên Liệu 99.99 15,400 15,600
Nguyên Liệu 99.9 15,350 15,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 16,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 16,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 16,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,300 167,300
Hà Nội - PNJ 164,300 167,300
Đà Nẵng - PNJ 164,300 167,300
Miền Tây - PNJ 164,300 167,300
Tây Nguyên - PNJ 164,300 167,300
Đông Nam Bộ - PNJ 164,300 167,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 16,750
Miếng SJC Nghệ An 16,450 16,750
Miếng SJC Thái Bình 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 16,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 16,750
NL 99.90 15,150
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,200
Trang sức 99.9 15,940 16,640
Trang sức 99.99 15,950 16,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,645 16,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,645 16,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 164 167
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 164 1,671
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 162 1,655
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 157,361 163,861
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 115,387 124,287
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 103,801 112,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 92,215 101,115
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 87,746 96,646
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,027 6,917
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,645 1,675
Cập nhật: 09/05/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18518 18795 19385
CAD 18699 18977 19594
CHF 33218 33605 34257
CNY 0 3827 3920
EUR 30361 30636 31675
GBP 35052 35447 36387
HKD 0 3229 3432
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15381 15977
SGD 20212 20496 21029
THB 731 794 849
USD (1,2) 26038 0 0
USD (5,10,20) 26079 0 0
USD (50,100) 26108 26127 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,117 26,117 26,367
USD(1-2-5) 25,073 - -
USD(10-20) 25,073 - -
EUR 30,444 30,468 31,764
JPY 163.58 163.87 172.93
GBP 35,183 35,278 36,312
AUD 18,708 18,776 19,389
CAD 18,956 19,017 19,619
CHF 33,426 33,530 34,337
SGD 20,354 20,417 21,117
CNY - 3,803 3,928
HKD 3,300 3,310 3,432
KRW 16.53 17.24 18.66
THB 778.98 788.6 841.14
NZD 15,357 15,500 15,879
SEK - 2,801 2,885
DKK - 4,074 4,197
NOK - 2,791 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,288.73 - 7,064.1
TWD 758.45 - 914.22
SAR - 6,910.9 7,242.58
KWD - 83,802 88,718
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,127 26,367
EUR 30,300 30,422 31,604
GBP 35,039 35,180 36,191
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,133 33,266 34,211
JPY 163.73 164.39 171.87
AUD 18,621 18,696 19,293
SGD 20,378 20,460 21,047
THB 795 798 833
CAD 18,918 18,994 19,571
NZD 0 15,386 15,922
KRW 0 17.22 18.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26367
AUD 18682 18782 19710
CAD 18925 19025 20040
CHF 33411 33441 35024
CNY 3807.6 3832.6 3967.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30511 30541 32266
GBP 35312 35362 37122
HKD 0 3355 0
JPY 164.35 164.85 175.39
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20369 20499 21227
THB 0 761.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16400000 16400000 16700000
SBJ 14000000 14000000 16700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,134 26,184 26,367
USD20 26,134 26,184 26,367
USD1 23,857 26,184 26,367
AUD 18,734 18,834 19,942
EUR 30,657 30,657 32,068
CAD 18,872 18,972 20,280
SGD 20,448 20,598 21,490
JPY 164.89 166.39 170.97
GBP 35,216 35,566 36,430
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,717 0
THB 0 797 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/05/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80