Tín dụng bất động sản nóng lên, nhiều ngân hàng “chuyển van” an toàn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng bất động sản hiện chiếm tới 24% tổng dư nợ toàn hệ thống, thậm chí tại một số ngân hàng lên tới 30%. Trước yêu cầu điều hành mới, hướng dòng vốn vào lĩnh vực ưu tiên, các ngân hàng tái cân bằng danh mục, giữ tăng trưởng tín dụng bất động sản hợp lý và siết quản trị rủi ro, đảm bảo an toàn.
aa

Chính phủ siết rủi ro, ngân hàng tái cân bằng danh mục

Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 11 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai hiệu quả các gói tín dụng ưu tiên, đặc biệt là nhà ở xã hội và chương trình cho vay ưu đãi dành cho người trẻ dưới 35 tuổi. Đồng thời, Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, trong đó có lĩnh vực bất động sản.

Mới đây, chia sẻ về định hướng tăng trưởng tín dụng giai đoạn cuối năm và thời gian tới, đặc biệt với lĩnh vực bất động sản, ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB cho biết, ngân hàng dự kiến đạt tăng trưởng tín dụng khoảng 18%, tương đương mặt bằng chung của toàn ngành và sẽ tiếp tục duy trì động lực này. Song song đó, ACB đặt trọng tâm vào quản trị rủi ro, tránh tăng trưởng nóng ở những lĩnh vực có thể phát sinh rủi ro trong tương lai.

Tín dụng bất động sản nóng lên, nhiều ngân hàng “chuyển van” an toàn

Tỷ trọng tín dụng chảy vào bất động sản tiếp tục tăng mạnh, hiện chiếm khoảng 24% tổng dư nợ toàn hệ thống. Ảnh tư liệu.

Hiện danh mục cho vay kinh doanh bất động sản của ACB còn thấp, chiếm dưới 5%. Nhiều nhà phân tích và nhà đầu tư cho rằng, tỷ lệ đó khó hỗ trợ cải thiện biên lãi ròng (NIM). Về vấn đề này, ông Phát nhấn mạnh, ACB thấy rõ thực trạng và sẽ tiếp tục lựa chọn những nhà đầu tư bất động sản có năng lực, uy tín để hợp tác.

"Nếu tăng trưởng thiếu kiểm soát ở mảng bất động sản sẽ tạo rủi ro trong tương lai và phá vỡ tăng trưởng bền vững của một định chế. Do đó, ACB sẽ duy trì sự hài hòa và cân bằng trong tín dụng" - lãnh đạo ACB khẳng định.

Nhìn nhận tăng trưởng cho vay người mua nhà là động lực lớn, lãnh đạo ACB cho biết, ngân hàng sẽ tiếp tục đẩy mạnh mảng này. Trong 9 tháng 2025, mảng cho vay cá nhân mua nhà của ACB tăng trưởng khoảng 17%, vượt trội so với các mảng cá nhân khác. Những giải pháp mà ACB mang đến cho khách hàng không chỉ dừng lại ở lãi suất thấp, phù hợp, mà còn liên quan đến nhiều chính sách hỗ trợ.

Tại một ngân hàng lớn khác, tính đến cuối quý III/2025, dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản chiếm khoảng 31% tổng dư nợ; riêng khối khách hàng doanh nghiệp, tỷ lệ này lên tới 58%. Đối với mảng khách hàng cá nhân, cho vay mua nhà chiếm khoảng 70% tổng dư nợ. Đại diện ngân hàng này nêu rõ định hướng trong 5 năm tới, sẽ đưa tỷ trọng cho vay bất động sản về mức khoảng 22% tổng dư nợ.

Theo đánh giá của bà Phạm Thị Thanh Hoài - Thành viên Hội đồng quản trị VietinBank, thực chất thị trường bất động sản đang trong trạng thái neo giá ở mức cao, trong khi thanh khoản có xu hướng giảm, đặc biệt ở phân khúc hạng sang và cao cấp. Mặc dù chưa xuất hiện dấu hiệu bất thường, nhưng rủi ro tiềm ẩn gia tăng trong thời gian tới.

Bà Hoài cho biết, thời gian qua, VietinBank duy trì cơ cấu tỷ lệ cho vay bất động sản ổn định với khách hàng doanh nghiệp lẫn người vay mua nhà và không hề “đóng cửa” với lĩnh vực bất động sản. "Tất cả các dự án tốt, chúng tôi vẫn tìm kiếm cơ hội để cấp tín dụng cho cả chủ đầu tư và người vay tiêu dùng" - lãnh đạo VietinBank chia sẻ.

Dè chừng rủi ro khi tín dụng bất động sản bị "bơm" căng

Hiện chưa có số liệu cập nhật nhất về tăng trưởng tín dụng lĩnh vực bất động sản. Tuy nhiên, theo báo cáo nhà ở và thị trường bất động sản quý III/2025 của Bộ Xây dựng, dư nợ tín dụng bất động sản đã vượt mốc 4 triệu tỷ đồng vào cuối tháng 8/2025.

Đưa dòng vốn trở lại đúng phân khúc

Chúng ta cần có cảnh báo sớm, nhưng cũng phải có cái nhìn đúng đắn về vai trò của bất động sản. Theo đó, hạn chế đầu cơ, hạn chế các hoạt động không tạo ra giá trị; đồng thời, phải hướng dòng vốn vào nhu cầu ở thật và vào các dự án tạo ra cơ sở hạ tầng tốt cho nền kinh tế.

TS. Châu Đình Linh

Nhiều thống kê cho thấy, tỷ trọng tín dụng chảy vào bất động sản tiếp tục tăng mạnh, hiện chiếm khoảng 24% tổng dư nợ toàn hệ thống. Ở một số ngân hàng, tỷ lệ này thậm chí lên tới 30% tổng dư nợ và tới 58% dư nợ cho vay doanh nghiệp.

Nhìn nhận về cơ cấu tăng trưởng tín dụng vừa qua, lãnh đạo ACB cho rằng, tín dụng bất động sản tăng trưởng nhanh, vượt trên 20%, trong khi các mảng hoạt động khác chỉ tăng trưởng ở mức trung bình. Điều này cho thấy, tín dụng vẫn có sự chênh lệch đáng kể giữa khả năng hấp thụ vốn, khi các khoản đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh không có nhiều điểm nổi bật.

Lý giải việc ngân hàng "ưu ái" cho vay bất động sản, TS. Châu Đình Linh - Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, không chỉ ở Việt Nam, mà nhiều quốc gia khác như Trung Quốc, thực trạng cho vay đối với những lĩnh vực có suất sinh lời cao cũng tương tự. Đây là một “cặp bài trùng”, nhưng ở nước ta, mức độ gắn kết giữa ngân hàng và bất động sản lại rất lớn.

Tăng trưởng tín dụng đang dồn quá nhiều vào lĩnh vực này, nếu so với cùng kỳ, dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản của các ngân hàng niêm yết tăng tới 40%, còn tính từ đầu năm tăng hơn 25%. Như vậy, rủi ro trong lĩnh vực cho vay bất động sản là có thật, thậm chí có thể dồn sang các năm tới.

"Không nên tập trung rủi ro vào một chỗ, câu chuyện ở đây là phải phân tán danh mục" - ông Linh nhấn mạnh. Bởi trong lĩnh vực bất động sản, dòng vốn lại tập trung vào những phân khúc không hướng tới nhu cầu ở thật. Chính vì vậy, xuất hiện tình trạng rót vốn nhiều vào phân khúc cao cấp, hay đầu cơ sang tay, mua đi bán lại. Vấn đề nằm ở chỗ, dòng vốn bị sử dụng sai, đưa vào phân lô bán nền, đầu cơ, thổi giá. Điều này khiến nhu cầu ở thật của người dân ngày càng xa vời.

Thẳng thắn nhìn nhận, chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu cho rằng, thị trường bất động sản Việt Nam đang tiệm cận nguy cơ hình thành bong bóng nếu không được điều tiết kịp thời. Thị trường nóng lên, trong khi khả năng tiếp cận nhà ở của người dân ngày càng thu hẹp, thì nguồn cung có thể tăng ồ ạt, hàng tồn kho phình to.

Kiểm soát để ổn định, nhưng cần tránh tạo "cú sốc" đột ngột

Có thể nhận thấy nỗ lực của Chính phủ trong việc duy trì một thị trường bất động sản lành mạnh, giảm thiểu rủi ro nóng sốt và lệch pha cung - cầu khi hàng loạt dự thảo nghị định, nghị quyết đang được xem xét.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Trí Hiếu đề xuất, chính sách tiền tệ cần điều chỉnh quyết liệt, bao gồm giảm tỷ trọng cho vay bất động sản xuống dưới 20% để hạn chế rủi ro và ngăn chặn dòng vốn chảy vào hoạt động đầu cơ. Nếu khả năng tiếp cận tín dụng của người dân không được cải thiện, trong khi hàng tồn kho tiếp tục tăng, thị trường hoàn toàn có thể đối mặt nguy cơ bong bóng bất động sản trong thời gian tới.

Nhấn mạnh các hoạt động kiểm soát này là cần thiết, nhưng lãnh đạo ACB kỳ vọng, chính sách sẽ có sự dung hòa, hài hòa để không cản trở tăng trưởng của một ngành đóng vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam, cũng như không ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng.

Nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) cũng cho rằng, việc đưa ra các biện pháp kiểm soát giá bất động sản cần có lộ trình phù hợp, tránh tạo ra những cú sốc đột ngột có thể ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường đầu tư và nền kinh tế. Ở thời điểm hiện tại, tăng cung nhà ở xã hội và nhà ở thương mại được xem là một trong những giải pháp trọng tâm nhằm giúp thị trường cân bằng hơn về cung - cầu và giá.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Kim TT/AVPL 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Nguyên Liệu 99.99 15,240 ▼160K 15,440 ▼160K
Nguyên Liệu 99.9 15,190 ▼160K 15,390 ▼160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 ▼180K 16,420 ▼180K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 ▼180K 16,370 ▼180K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 ▼180K 16,350 ▼180K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Nghệ An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Thái Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
NL 99.90 15,070 ▼80K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120 ▼80K
Trang sức 99.9 15,710 ▼230K 16,410 ▼230K
Trang sức 99.99 15,720 ▼230K 16,420 ▼230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 ▼23K 16,522 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 ▼23K 16,523 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 ▲1453K 1,647 ▲1480K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 ▲1453K 1,648 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▲1436K 1,633 ▼22K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼2178K 161,683 ▼2178K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼1650K 122,637 ▼1650K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼1496K 111,205 ▼1496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼1342K 99,773 ▼1342K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼1283K 95,363 ▼1283K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▲53326K 68,253 ▲61336K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cập nhật: 11/05/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80