Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần cuối tháng 11/2025 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ giá trung tâm lên 25.155 VND/USD, tăng 62 đồng tháng qua, trong khi USD tự do “hạ sốt” sau hai tuần giảm liên tiếp. Sức ép tỷ giá hạ nhiệt nhưng thanh khoản vẫn căng, buộc Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 106.427,6 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng nhiều kỳ hạn vượt 6%. Lãi suất huy động cũng ồ ạt tăng, ngay cả ở nhóm "big 4".
aa
Thị trường tiền tệ tháng 8: Ngân hàng Nhà nước "hãm phanh" tỷ giá, rút ròng hơn 25.000 tỷ đồng Thị trường tiền tệ tháng 10: Tỷ giá “chợ đen” vẫn căng, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 39.000 tỷ đồng Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 11/2025

Vốn ngắn hạn căng thẳng, lãi suất liên ngân hàng vượt 6,5%

Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tháng 11/2025 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang kéo dài kỳ hạn đấu thầu thị trường mở (OMO) lên 105 ngày sau nhiều năm.

Trong báo cáo mới phát hành, Phòng Nghiên cứu và Phân tích - Khối Khách hàng cá nhân Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam cho rằng, nhà điều hành muốn duy trì lượng tiền bơm ra hệ thống trong thời gian dài hơn để ổn định mặt bằng thanh khoản và lãi suất liên ngân hàng trong suốt quý IV/2025, trong bối cảnh thanh khoản có phần thiếu hụt và lãi suất liên ngân hàng duy trì đà tăng mạnh từ đầu tháng 10 cho tới nay.

Tuần qua từ ngày 24/11 đến ngày 28/11, lãi suất liên ngân hàng tuần qua bật tăng mạnh ở hầu hết kỳ hạn, phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn gia tăng trong hệ thống. Ngày 26/11, kỳ hạn qua đêm lên 5,74%, tăng tổng cộng 1,36 đpt.

Các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần cũng tăng lần lượt 1,13 và 1,3 đpt, lên quanh 5,84 - 6,19%, trong khi kỳ hạn 1 tháng tăng 0,83 đpt lên 6,15%. Riêng kỳ hạn 3 tháng chỉ nhích nhẹ 0,27 đpt lên 6,52%. Diễn biến này phù hợp với bối cảnh tín dụng tăng tốc cuối năm, trong khi nhu cầu thanh khoản của các ngân hàng tăng lên rõ rệt.

Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở
Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ. Ảnh tư liệu.

Trên thị trường mở, tuần từ ngày 24 - 28/11 ghi nhận quy mô bơm vốn rất mạnh, với 120.604,25 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất duy trì cố định 4%.

Bơm ròng mạnh trên 106.000 tỷ đồng, bơm mạnh kỳ hạn 91 ngày

Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 73.923,26 tỷ đồng trong tuần, nâng tổng mức bơm ròng tháng 11 lên 106.427,6 tỷ đồng, qua đó duy trì mặt bằng thanh khoản ổn định nhằm hỗ trợ nhu cầu tín dụng tăng cao cuối năm.

Đáng chú ý, kỳ hạn 91 ngày chiếm tới 46%, tương đương 55.925 tỷ đồng, cho thấy Ngân hàng Nhà nước ưu tiên hỗ trợ thanh khoản ổn định hơn ở kỳ hạn dài hơn. Riêng phiên 25/11, lượng bơm kỳ hạn 91 ngày đạt 21.774,26 tỷ đồng, mức cao lịch sử, phản ánh nhu cầu vốn của hệ thống đang tăng mạnh.

Ở chiều ngược lại, 55.924,95 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, đưa lượng vốn OMO lưu hành lên 330.765,26 tỷ đồng, tiếp tục ở vùng đỉnh mới.

Còn trên thị trường 1, nhiều ngân hàng tiếp tục tăng lãi suất huy động dù lần điều chỉnh gần nhất chưa đầy 1 tháng, việc này không chỉ diễn ra tại các ngân hàng vừa và nhỏ và cả các ngân hàng lớn.

VietinBank vừa điều chỉnh tăng lãi suất, trở thành ngân hàng thứ 21 nâng lãi suất tiền gửi từ đầu tháng 11/2025 và là "big 4" đầu tiên nhập cuộc. Theo biểu lãi suất tiết kiệm trực tuyến mới, VietinBank nâng lãi suất kỳ hạn 1 - 2 tháng thêm 0,4 điểm phần trăm (đpt) lên 2,4%/năm; kỳ hạn 3 - 5 tháng tăng 0,5 đpt lên 2,8%/năm. Còn các kỳ hạn 6 - 11 tháng tăng 0,6 đpt lên 3,9%/năm.

Số liệu Ngân hàng Nhà nước cho thấy, tăng trưởng tín dụng tính tới cuối tháng 10/2025 đã ở mức 14,77% và nhu cầu huy động vốn cho vay của các ngân hàng tiếp tục tăng cao trong bối cảnh kích thích tăng trưởng và đầu tư trong toàn nền kinh tế.

"Với xu hướng này, áp lực tăng lãi suất cho vay có thể hiện hữu vào đầu năm 2026, khi chênh lệch lãi suất cho vay - lãi suất huy động đã thu hẹp đáng kể trong hơn 1 tháng qua" - Chứng khoán Yuanta đánh giá.

Tỷ giá trung tâm tăng 62 đồng, tự do nguội dần sau chuỗi tăng nóng

Về biến động tỷ giá, ngày 28/11, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.155 VND/USD, tăng 3 đồng so với phiên liền trước. Với biên độ 5%, các ngân hàng giao dịch trong khoảng 23.897 - 26.413 VND/USD theo tỷ giá sàn và tỷ giá trần. Tỷ giá tham khảo tại Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước cũng nhích nhẹ, ở mức 23.948 - 26.362 VND/USD (mua vào - bán ra).

Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở

Tính chung tuần qua, tỷ giá trung tâm đi lên nhẹ qua mỗi phiên, kết tuần ở mức 25.155 VND/USD, tăng 19 đồng so với cuối tuần trước và tiếp đà tăng liền mạch 4 tuần, tức tăng 62 đồng trong tháng 11/2025.

Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá USD tại Vietcombank tăng thêm 35 - 65 đồng so với cuối tháng trước, lên mức 26.132 - 26.412 đồng/USD; tại BIDV, mức tăng đồng loạt 65 đồng ở cả hai chiều, lên 26.192 - 26.412 đồng/USD.

Ngày 28/11, Ngân hàng Nhà nước nâng tỷ giá trung tâm lên 25.155 VND/USD, tăng 19 đồng so với cuối tuần trước và cộng 62 đồng trong tháng 11. Tỷ giá USD ngân hàng tăng tương ứng. Ngược chiều, USD tự do giảm tổng cộng 50 - 70 đồng trong tuần, còn 27.486 - 27.636 VND/USD, tương ứng "hạ sốt" tuần thứ hai sau chuỗi tăng ròng ra.

Tỷ giá USD tự do lại đi theo chiều ngược lại tuần qua, giảm liên tục 4 phiên còn 27.650 - 27.730 VND/USD, giảm 50 đồng chiều mua và 70 đồng chiều bán, tiếp xu hướng hạ nhiệt như tuần trước.

Diễn biến này cho thấy cơn “sốt” USD trên thị trường tự do có dấu hiệu hạ nhiệt, trong khi kênh chính thức được dù tăng, nhưng với các bước điều chỉnh rất nhỏ.

Chỉ số DXY, thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt, ghi nhận ở mức 99,66 điểm, giảm nhẹ tuần qua.

Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh cố vấn kinh tế Nhà Trắng Kevin Hassett nổi lên như ứng viên hàng đầu cho vị trí Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed), người được đánh giá có quan điểm ủng hộ mạnh mẽ việc cắt giảm lãi suất, qua đó có thể gây thêm sức ép giảm lên đồng USD. Điều này dự kiến sẽ làm đồng USD tiếp tục suy yếu thêm trong năm 2026.

Theo Chứng khoán Yuanta, bức tranh hỗn hợp về thị trường lao động không làm thay đổi nhiều kỳ vọng về việc cắt giảm lãi suất Fed trong tháng 12 và sự chia rẽ trong nội bộ Fed về quan điểm lãi suất ngày càng trầm trọng hơn. Thị trường cũng tăng kỳ vọng về việc Fed cắt giảm lãi suất trong tháng 12 này.

Trong khi đó, đồng EUR tiếp tục được hỗ trợ bởi kỳ vọng tăng trưởng khu vực Euro và việc Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) có thể sẽ kéo dài việc giữ lãi suất cao. Ngược lại, đồng JPY tiếp tục suy yếu mạnh do áp lực tăng nợ công từ gói kích thích tài khóa khiến Bộ Tài chính cảnh báo sẽ can thiệp ngoại hối và Thống đốc Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) gợi ý có thể tăng lãi suất trong tháng 12.

Với tỷ giá EUR, Vietcombank niêm yết 29.733,48 - 31.300,93 VND/EUR, tăng 82 - 86 đồng; trong khi BIDV điều chỉnh mạnh hơn, lên 30.185 - 31.355 đồng/EUR, cao hơn cuối tháng trước 166 - 171 đồng, phản ánh đồng Euro lên giá đáng kể.

GBP là đồng tiền tăng mạnh nhất, tỷ giá GBP tại Vietcombank lên 33.948,46 - 35.389,44 VND/GBP, cao hơn 239 - 249 đồng so với cuối tháng trước; BIDV cũng nâng lên 34.529 - 35.427 VND/GBP, tăng tới khoảng 340 đồng mỗi chiều.

Trái chiều, JPY lại suy yếu, khi Vietcombank giảm xuống 163 - 173 VND/JPY, thấp hơn cuối tháng trước 2 đồng; BIDV cũng điều chỉnh về 166 - 173 VND/JPY, giảm tương ứng Vietcombank.

Với CNY, cả hai ngân hàng đều ghi nhận nhích tăng nhẹ, Vietcombank lên 3.631,32 - 3.785,46 VND/CNY, tăng 25 đồng; BIDV niêm yết 3.678 - 3.776 VND/CNY, cao hơn cuối tháng trước 26 - 27 đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 14/8, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.561 đồng/USD sau chuỗi phiên tăng mạnh, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại đi lên. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 99,92 điểm, khi chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 7 của Mỹ đi ngang và thấp hơn dự báo, nối tiếp CPI hạ nhiệt, gây sức ép lên đồng USD và kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

(TBTCO) - Sáng 13/8, tỷ giá USD diễn biến trái chiều. Tỷ giá trung tâm tăng 27 đồng lên 25.566 đồng/USD, USD tự do tăng tới 200 đồng, lên 25.950 - 25.990 VND/USD, trong khi nhiều ngân hàng lại điều chỉnh giảm đáng kể. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,17% lên 99,85 điểm, dù tình hình lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt, làm giảm kỳ vọng Fed mạnh tay tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (12/8): Tỷ giá trung tâm tăng lên 25.539 đồng, giá dầu tăng kỳ vọng Fed thắt chặt trở lại

Tỷ giá USD hôm nay (12/8): Tỷ giá trung tâm tăng lên 25.539 đồng, giá dầu tăng kỳ vọng Fed thắt chặt trở lại

(TBTCO) - Sáng 12/8, tỷ giá trung tâm tăng 23 đồng lên 25.539 đồng, trong khi tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng vẫn chưa dứt xu hướng điều chỉnh giảm. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,02% lên 99,84 điểm, giá dầu tăng khơi lại lo ngại lạm phát, đẩy lợi suất trái phiếu Mỹ đi lên và gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt, trái chiều với tín hiệu từ báo cáo việc làm yếu.
Tỷ giá USD hôm nay (11/8): Tỷ giá trung tâm vượt 25.500 đồng, đồng Yên chịu áp lực dù can thiệp quy mô kỷ lục

Tỷ giá USD hôm nay (11/8): Tỷ giá trung tâm vượt 25.500 đồng, đồng Yên chịu áp lực dù can thiệp quy mô kỷ lục

(TBTCO) - Sáng 11/8, tỷ giá trung tâm tăng 25 đồng, lên 25.516 đồng/USD, lần đầu vượt 25.500 đồng, kéo tỷ giá trần lên sát 26.792 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng nhẹ lên 99,8 điểm, trong khi đồng Yên tiếp tục chịu áp lực giảm giá dù Nhật Bản can thiệp kỷ lục, khi chênh lệch lãi suất Mỹ - Nhật vẫn là yếu tố chi phối.
Tỷ giá USD hôm nay (10/8): Tỷ giá trung tâm tiếp tục leo dốc, USD chờ tín hiệu mới từ CPI Mỹ tháng 7

Tỷ giá USD hôm nay (10/8): Tỷ giá trung tâm tiếp tục leo dốc, USD chờ tín hiệu mới từ CPI Mỹ tháng 7

(TBTCO) - Sáng 10/8, tỷ giá trung tâm tăng 28 đồng, lên 25.491 đồng/USD, song giá bán USD tại ngân hàng vẫn thấp hơn trần gần 400 đồng. Trên thị trường tự do, USD giảm mạnh 170 đồng, xuống 25.800 - 25.830 VND/USD. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,13% lên 99,66 điểm. Tuần này, CPI tháng 7 của Mỹ sẽ là chất xúc tác quan trọng đối với đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

(TBTCO) - Sáng 8/8, tỷ giá trung tâm tiếp tục lập đỉnh lịch sử mới tại 25.463 đồng, tăng 125 đồng chỉ sau một tuần. Trái chiều, tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng đồng loạt giảm, còn chỉ số DXY lùi về mức thấp nhất 7 tuần còn 99,6 điểm. Đồng bạc xanh chịu áp lực sau khi kinh tế Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm trong tháng 7 và Nhật Bản can thiệp hỗ trợ đồng yên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 142,600
Hà Nội - PNJ 139,100 142,600
Đà Nẵng - PNJ 139,100 142,600
Miền Tây - PNJ 139,100 142,600
Tây Nguyên - PNJ 139,100 142,600
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 142,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 14,270
Miếng SJC Nghệ An 13,970 14,270
Miếng SJC Thái Bình 13,970 14,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 14,320
NL 99.99 13,400
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300
Trang sức 99.9 13,630 14,230
Trang sức 99.99 13,640 14,240
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 14,272
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 14,273
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 1,422
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 1,407
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 139,307
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 105,686
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 95,836
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 85,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 82,186
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 58,828
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cập nhật: 20/08/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17987 18262 18846
CAD 18340 18616 19236
CHF 31659 32039 32684
CNY 0 3830 3940
EUR 29753 29975 31056
GBP 34677 35069 36021
HKD 0 3208 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15677
SGD 19971 20253 20823
THB 707 770 824
USD (1,2) 25914 0 0
USD (5,10,20) 25954 0 0
USD (50,100) 25983 25997 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,759 29,783 31,198
JPY 159.97 160.26 169.94
GBP 34,837 34,931 36,147
AUD 18,170 18,236 18,926
CAD 18,516 18,575 19,259
CHF 31,892 31,991 32,930
SGD 20,082 20,144 20,931
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.25 17.99 19.57
THB 754.12 763.43 817.1
NZD 15,035 15,175 15,623
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,991 4,132
NOK - 2,734 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,795.06
TWD 741 - 897.09
SAR - 6,853.46 7,218.85
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18182 18282 19207
CAD 18520 18620 19636
CHF 31908 31938 33516
CNY 3825.2 3850.2 3985.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29933 29963 31686
GBP 34993 35043 36796
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20130 20260 20982
THB 0 736.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 20/08/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80