Ngân hàng năm 2026 đứng trước bài toán chi phí vốn và tăng trưởng tín dụng

Thu Hương
(TBTCO) - Năm 2026 được dự báo tiếp tục là giai đoạn phân hóa của ngành ngân hàng khi chi phí huy động và áp lực thanh khoản gia tăng trong bối cảnh tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức cao. Những yếu tố này có thể tác động khác nhau đến kết quả kinh doanh giữa các nhóm ngân hàng.
aa

Theo phân tích của VIS Rating, kết quả kinh doanh của ngành ngân hàng Việt Nam trong năm 2025 ghi nhận sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm tổ chức tín dụng. Chất lượng tài sản của một số ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân quy mô lớn cải thiện, góp phần kéo tỷ lệ nợ xấu toàn ngành giảm từ 2,3% năm 2024 xuống còn 2,1% trong năm 2025. Diễn biến này diễn ra trong bối cảnh thị trường bất động sản từng bước phục hồi và nhiều ngân hàng thực hiện xóa nợ vào cuối năm.

Sự cải thiện chất lượng tín dụng chủ yếu đến từ một số ngân hàng lớn khi tỷ lệ chậm trả các khoản vay mua nhà giảm, đồng thời khả năng trả nợ của khách hàng doanh nghiệp có dấu hiệu cải thiện. Bên cạnh đó, nợ xấu tại một số lĩnh vực như năng lượng tái tạo cũng giảm so với trước. Trong khi đó, tại một số ngân hàng quy mô vừa và nhỏ có danh mục cho vay mua nhà mang tính đầu cơ, việc xử lý chất lượng tài sản được thực hiện thông qua hoạt động xóa nợ nhằm làm giảm tỷ lệ nợ xấu trên báo cáo tài chính.

Ngân hàng năm 2026 đứng trước bài toán chi phí vốn và tăng trưởng tín dụng

Ở chiều ngược lại, áp lực suy giảm chất lượng tài sản vẫn hiện hữu tại một số ngân hàng có dư nợ liên quan đến các doanh nghiệp xuất khẩu hoặc doanh nghiệp trong lĩnh vực hàng không đang gặp khó khăn. Đây được xem là những phân khúc tín dụng tiếp tục cần theo dõi trong thời gian tới.

Cùng với biến động về chất lượng tài sản, khả năng sinh lời của hệ thống ngân hàng trong năm 2025 nhìn chung không có nhiều thay đổi. Theo ông Phan Huy Hưng - Giám đốc, Chuyên gia phân tích cao cấp từ VIS Rating, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROAA) toàn ngành giữ ở mức khoảng 1,5%, trong bối cảnh chi phí tín dụng giảm và một số ngân hàng ghi nhận thêm lợi nhuận từ hoạt động thu hồi nợ xấu, qua đó phần nào bù đắp sự suy giảm của biên lãi ròng.

Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 19% trong năm 2025, mức cao nhất trong vòng 5 năm trở lại đây. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ cho vay doanh nghiệp bất động sản, cho vay mua nhà và lĩnh vực sản xuất. Tuy nhiên, biên lãi ròng (NIM) toàn ngành giảm khoảng 30 điểm cơ bản xuống còn 3,1%, trong bối cảnh chi phí huy động vốn gia tăng. Áp lực này thể hiện rõ hơn tại các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ khi chi phí huy động tăng, trong khi lãi suất cho vay có xu hướng thấp hơn do chuyển dịch sang cho vay khách hàng doanh nghiệp.

Ngân hàng năm 2026 đứng trước bài toán chi phí vốn và tăng trưởng tín dụng

Đối với nhóm ngân hàng lớn, tăng trưởng lợi nhuận cũng có sự khác biệt. Một số ngân hàng ghi nhận lợi nhuận cải thiện nhờ giảm chi phí tín dụng, tăng thu hồi nợ xấu hoặc gia tăng nguồn thu từ hoạt động dịch vụ và công ty chứng khoán. Trong khi đó, một số ngân hàng khác vẫn chịu áp lực từ việc gia tăng chi phí dự phòng.

Về năng lực vốn, ông Hưng cho biết tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của toàn ngành trong năm 2025 giảm khoảng 25 điểm cơ bản so với năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do một số ngân hàng chi trả cổ tức tiền mặt ở mức cao, trong khi tăng trưởng tín dụng nhanh khiến tài sản có rủi ro gia tăng. Tuy vậy, một số ngân hàng quy mô nhỏ đã cải thiện đáng kể bộ đệm vốn thông qua các đợt tăng vốn mới.

Bên cạnh đó, áp lực thanh khoản có xu hướng gia tăng, đặc biệt tại nhóm ngân hàng quy mô vừa và nhỏ. Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) trên tổng dư nợ cho vay toàn ngành giảm xuống còn khoảng 19,9% trong năm 2025, phản ánh sự sụt giảm nguồn vốn chi phí thấp tại một số ngân hàng. Đồng thời, tăng trưởng tín dụng vượt tốc độ tăng trưởng tiền gửi khiến nhiều ngân hàng phải phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn ngắn hạn trên thị trường liên ngân hàng.

Từ tháng 10/2025, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng tăng mạnh thêm khoảng 5,9 điểm phần trăm, đạt trung bình khoảng 10,8% vào tháng 2/2026. Chi phí huy động vốn cũng tăng khoảng 60 điểm cơ bản do tăng trưởng tiền gửi chậm lại và thanh khoản thị trường có dấu hiệu căng thẳng.

Trong bối cảnh đó, chuyên gia từ VIS Rating cho rằng trong ngắn hạn, các ngân hàng, đặc biệt là nhóm quy mô vừa và nhỏ với nền tảng tiền gửi yếu hơn, nhiều khả năng sẽ tiếp tục điều chỉnh tăng lãi suất huy động nhằm thu hút thêm tiền gửi và hỗ trợ tăng trưởng tín dụng.

Sang năm 2026, chất lượng tài sản và lợi nhuận của ngành ngân hàng được dự báo tiếp tục có sự phân hóa, trong đó các ngân hàng lớn được kỳ vọng duy trì mức độ ổn định hơn nhờ môi trường kinh doanh trong nước ổn định và sự hỗ trợ từ các chính sách.

Thu Hương

Đọc thêm

Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 11/4 đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến trên 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 169,7 - 172,7 triệu đồng/lượng.
Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

(TBTCO) - Trong bối cảnh ngành bảo hiểm phi nhân thọ năm 2026 được dự báo tăng trưởng 2 con số, nhưng đi kèm xu hướng "sàng lọc" mạnh, các doanh nghiệp bảo hiểm đồng loạt "thiết kế" lại chiến lược nhằm củng cố năng lực cạnh tranh và giữ vững vị thế trên thị trường.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
Nam A Bank có tổng giám đốc mới

Nam A Bank có tổng giám đốc mới

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Hội đồng quản trị (HĐQT) Ngân hàng TMCP Nam A (Nam A Bank, mã ck: NAB) đã bổ nhiệm ông Trần Khải Hoàn giữ chức vụ Tổng giám đốc Nam A Bank kể từ ngày 10/4/2026.
Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

(TBTCO) - Hội đồng quản trị Bảo hiểm BIC vừa phê duyệt kế hoạch kinh doanh năm 2026 trình Đại hội đồng cổ đông, với mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm 6.230 tỷ đồng và lợi nhuận hợp nhất 780 tỷ đồng.
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng với Công ty TNHH Vàng bạc đá quý Huy Thành. Đồng thời, chuyển hồ sơ vi phạm hành chính đến Thuế Thành phố Hà Nội khi phát hiện công ty khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

(TBTCO) - Sáng ngày 10/4, VietABank áp dụng điều chỉnh giảm lãi suất, đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ổn định mặt bằng lãi suất, hỗ trợ tăng trưởng.
Hàng loạt quỹ đầu tư lớn ký hợp đồng đặt mua cổ phần phát hành riêng lẻ SHB

Hàng loạt quỹ đầu tư lớn ký hợp đồng đặt mua cổ phần phát hành riêng lẻ SHB

(TBTCO) - Ngày 9/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) tổ chức Lễ ký kết hợp đồng đặt mua cổ phần phát hành riêng lẻ với sự tham gia của nhiều tổ chức, quỹ đầu tư uy tín trong nước và quốc tế, đánh dấu bước tiến quan trọng trong chiến lược tăng vốn và mở rộng quy mô hoạt động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,940 17,240
Kim TT/AVPL 16,950 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,940 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 17,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 16,930
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,200 172,200
Hà Nội - PNJ 169,200 172,200
Đà Nẵng - PNJ 169,200 172,200
Miền Tây - PNJ 169,200 172,200
Tây Nguyên - PNJ 169,200 172,200
Đông Nam Bộ - PNJ 169,200 172,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,940 17,240
Miếng SJC Nghệ An 16,940 17,240
Miếng SJC Thái Bình 16,940 17,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,920 17,220
NL 99.90 15,520
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,550
Trang sức 99.9 16,410 17,110
Trang sức 99.99 16,420 17,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,694 17,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,694 17,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,691 1,721
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,691 1,722
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,671 1,706
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,411 168,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,213 128,113
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,727 11,617
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,326 104,226
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,072 9,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,397 71,297
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cập nhật: 12/04/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18056 18331 18915
CAD 18487 18764 19389
CHF 32715 33100 33742
CNY 0 3800 3870
EUR 30224 30498 31532
GBP 34634 35027 35978
HKD 0 3231 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15050 15648
SGD 20121 20404 20942
THB 736 799 855
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,360
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 30,313 30,337 31,601
JPY 161.2 161.49 170.27
GBP 34,783 34,877 35,875
AUD 18,286 18,352 18,934
CAD 18,720 18,780 19,359
CHF 32,986 33,089 33,868
SGD 20,269 20,332 21,013
CNY - 3,789 3,912
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.37 17.07 18.47
THB 782.26 791.92 842.99
NZD 15,067 15,207 15,566
SEK - 2,783 2,865
DKK - 4,057 4,175
NOK - 2,725 2,809
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,213.63 - 6,976.01
TWD 749.69 - 902.95
SAR - 6,916.97 7,243.76
KWD - 83,839 88,688
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 30,207 30,328 31,508
GBP 34,719 34,858 35,864
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,698 32,829 33,755
JPY 161.50 162.15 169.45
AUD 18,273 18,346 18,938
SGD 20,318 20,400 20,984
THB 799 802 837
CAD 18,700 18,775 19,341
NZD 15,151 15,682
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26360
AUD 18254 18354 19280
CAD 18681 18781 19795
CHF 32941 32971 34550
CNY 3795.5 3820.5 3955.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30381 30411 32133
GBP 34881 34931 36702
HKD 0 3355 0
JPY 161.84 162.34 172.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15181 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20277 20407 21138
THB 0 763.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16970000 16970000 17270000
SBJ 15000000 15000000 17270000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,360
USD20 26,135 26,185 26,360
USD1 26,135 26,185 26,360
AUD 18,282 18,382 19,522
EUR 30,482 30,482 31,943
CAD 18,609 18,709 20,050
SGD 20,331 20,481 21,450
JPY 162.15 163.65 168.5
GBP 34,738 35,088 36,011
XAU 16,968,000 0 17,272,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/04/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80