Ngành ngân hàng 2026: Duy trì tăng trưởng nhưng áp lực thanh khoản và lãi suất tăng

Lợi nhuận ngành ngân hàng năm 2026 được dự báo tăng khoảng 16%, song áp lực thanh khoản, chi phí vốn gia tăng trong bối cảnh lãi suất tăng trở lại đang đặt ra nhiều thách thức đối với toàn hệ thống.
aa

Áp lực thanh khoản gia tăng

Bước sang năm 2026, ngành ngân hàng Việt Nam được kỳ vọng tiếp tục hưởng lợi từ mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế cao của Chính phủ, song triển vọng đi kèm không ít thách thức. Sau giai đoạn tín dụng mở rộng mạnh và mặt bằng lãi suất thấp kéo dài, hệ thống ngân hàng đang bước vào giai đoạn điều chỉnh với áp lực thanh khoản gia tăng, biên lãi ròng (NIM) tiếp tục chịu sức ép và rủi ro chất lượng tài sản cần được theo dõi chặt chẽ hơn.

Trong bối cảnh lãi suất trong nước bắt đầu xu hướng tăng trở lại, trong khi môi trường kinh tế toàn cầu vẫn tiềm ẩn nhiều bất định, các chuyên gia của S&I Ratings giữ quan điểm tích cực thận trọng đối với triển vọng ngành ngân hàng năm 2026, dự báo lợi nhuận trước thuế toàn hệ thống có thể tăng khoảng 16% so với năm trước.

Ngành ngân hàng 2026: Duy trì tăng trưởng nhưng áp lực thanh khoản và lãi suất tăng

Tăng trưởng tín dụng được dự báo quay về trạng thái cân bằng hơn sau giai đoạn bứt tốc trong năm 2025. Theo định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước và mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Chính phủ, tín dụng năm 2026 nhiều khả năng tăng quanh mức 16%.

Tuy nhiên, chính sách điều hành đang được thiết kế thận trọng hơn, bao gồm kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng theo từng quý và yêu cầu tín dụng bất động sản không vượt quá mức tăng chung của từng ngân hàng. Cách tiếp cận này nhằm hạn chế việc mở rộng tín dụng quá nhanh, đồng thời giảm rủi ro mất cân đối giữa tăng trưởng tín dụng và huy động vốn.

Năm 2026, mặt bằng lãi suất cho vay mua nhà đã điều chỉnh tăng đáng kể, từ vùng 5,5 - 6% lên khoảng 9 - 10% đối với các gói ưu đãi kỳ hạn ngắn. Chi phí vốn cao hơn được dự báo sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu tín dụng trong lĩnh vực này, khiến tốc độ tăng trưởng chậm lại dù bất động sản vẫn đóng góp đáng kể vào dư nợ toàn hệ thống.

Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh trong năm 2025, tín dụng bất động sản được dự báo bước vào chu kỳ tăng trưởng có kiểm soát. Năm trước, dư nợ lĩnh vực này tăng khoảng 36%, gần gấp đôi tốc độ tăng của tín dụng toàn nền kinh tế, trong đó cho vay kinh doanh bất động sản tăng gần 50%.

Trong bối cảnh nhu cầu vốn của nền kinh tế vẫn lớn, hạn mức tăng trưởng tín dụng ngày càng trở thành yếu tố cạnh tranh quan trọng giữa các ngân hàng. Một số ngân hàng tham gia tái cơ cấu tổ chức tín dụng yếu kém tiếp tục được cấp room tín dụng cao hơn, trong khi nhiều ngân hàng khác chỉ được giao mức tăng trưởng khoảng 11 - 13% vào đầu năm. Điều này có thể khiến nhu cầu vốn có xu hướng tập trung vào nhóm ngân hàng có dư địa tín dụng lớn.

Áp lực thanh khoản tiếp tục là yếu tố đáng chú ý trong năm 2026. Năm 2025, tín dụng tăng 19,1% trong khi huy động vốn chỉ tăng 14,1%, khiến tỷ lệ cho vay trên huy động toàn ngành lên khoảng 110%. Bên cạnh đó, xu hướng kéo dài kỳ hạn cho vay nhằm cải thiện lợi suất đầu ra cũng làm gia tăng nhu cầu vốn trung và dài hạn. Thanh khoản hệ thống đã được hỗ trợ thông qua thị trường mở và tiền gửi Kho bạc Nhà nước, song lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức cao, cho thấy căng thẳng thanh khoản chưa hoàn toàn được giải tỏa.

Lãi suất tăng gây sức ép NIM

Trong bối cảnh đó, xu hướng tăng lãi suất được đánh giá là cần thiết để tái cân bằng cung - cầu vốn và đảm bảo an toàn hệ thống. Từ cuối năm 2025, nhiều ngân hàng thương mại đã tăng lãi suất huy động, kéo theo sự điều chỉnh của lãi suất cho vay. Nhóm ngân hàng quốc doanh cũng lần đầu nâng lãi suất tiền gửi sau hơn ba năm duy trì ổn định. Nếu xu hướng này tiếp diễn, lãi suất cho vay phổ biến có thể tăng thêm khoảng 1 - 3% trong năm 2026.

Ngành ngân hàng 2026: Duy trì tăng trưởng nhưng áp lực thanh khoản và lãi suất tăng

Dù lãi suất cho vay được kỳ vọng tăng dần, NIM toàn ngành nhiều khả năng vẫn chịu áp lực. Nguyên nhân là tốc độ tăng của lãi suất huy động có thể nhanh hơn mức điều chỉnh của lãi suất cho vay, trong khi tỷ lệ cho vay trên huy động đã ở mức cao khiến dư địa mở rộng tín dụng để hỗ trợ NIM bị hạn chế.

Theo ước tính của S&I Ratings, NIM toàn ngành có thể giảm nhẹ về quanh 3% vào cuối năm 2026 và xuất hiện sự phân hóa giữa các ngân hàng. Những tổ chức có tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn cao và lợi thế chi phí vốn tốt sẽ có khả năng ổn định NIM sớm hơn.

Bên cạnh các yếu tố chu kỳ, một số cải cách chính sách được ban hành trong năm 2025 được kỳ vọng tạo nền tảng tích cực cho ngành ngân hàng trong dài hạn. Đáng chú ý là việc luật hóa cơ chế xử lý nợ xấu theo hướng khôi phục quyền thu giữ tài sản bảo đảm của các tổ chức tín dụng, giúp các ngân hàng chủ động hơn trong xử lý và thu hồi nợ.

Song song với đó, quy định mới về an toàn vốn theo hướng tiệm cận chuẩn Basel III đặt ra yêu cầu cao hơn về cấu trúc vốn và các bộ đệm an toàn, khuyến khích các ngân hàng mở rộng tín dụng có chọn lọc và tăng cường năng lực quản trị rủi ro. Một số thay đổi chính sách khác như cải cách cơ chế quản lý thị trường vàng và thí điểm thị trường tài sản số cũng được kỳ vọng mở ra thêm cơ hội mới cho ngành, dù tác động trong ngắn hạn còn hạn chế.

Trong bối cảnh NIM chịu sức ép, các ngân hàng cũng đẩy mạnh chiến lược đa dạng hóa nguồn thu thông qua mở rộng hệ sinh thái tài chính. Xu hướng tích hợp các dịch vụ chứng khoán, bảo hiểm và tài chính tiêu dùng trong cùng hệ sinh thái ngày càng rõ nét, giúp gia tăng khả năng bán chéo sản phẩm và cải thiện trải nghiệm khách hàng.

Dù triển vọng lợi nhuận vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số, rủi ro chất lượng tài sản vẫn cần được theo dõi chặt chẽ trong năm 2026. Lãi suất tăng cùng với biến động của thị trường bất động sản có thể gây áp lực lên khả năng trả nợ của một số doanh nghiệp và người vay mua nhà, đặc biệt tại các dự án sử dụng đòn bẩy tài chính cao. Vì vậy, chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng nhiều khả năng ổn định trong giai đoạn đầu năm nhưng sẽ cần được quan sát kỹ hơn về cuối năm./.

Thu Hương

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

Ba “ông lớn” ngân hàng tư nhân đua tăng vốn, sắp gia nhập câu lạc bộ vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua phương án phát hành thêm 50,28% số cổ phiếu qua hai cấu phần, dự kiến nâng vốn điều lệ từ 70.862 tỷ đồng lên 106.593 tỷ đồng. Cùng với Techcombank, MB và VPBank cũng tham gia cuộc đua tăng vốn để gia nhập “câu lạc bộ” vốn điều lệ trên 100.000 tỷ đồng.
Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

Gửi tiết kiệm an tâm hơn khi hiểu đúng về bảo hiểm tiền gửi

(TBTCO) - Bên cạnh lãi suất, sự thuận tiện, người gửi tiền cũng cần biết khoản tiền của mình được bảo vệ như thế nào. Hiểu đúng về chính sách bảo hiểm tiền gửi (BHTG) giúp mỗi người nắm rõ quyền lợi của mình và chủ động hơn khi lựa chọn nơi gửi tiền.
Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh, cán cân thanh toán quốc tế BOP hé lộ “bộ đệm” giữa áp lực nhập siêu

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm tăng khoảng 1,9% từ đầu năm, neo vùng đỉnh lịch sử, trong khi USD ngân hàng và tự do hạ nhiệt giữa bối cảnh nhập siêu gia tăng. Số liệu cán cân thanh toán quốc tế (BOP) cho thấy, FDI và các dòng ngoại tệ khác vẫn tạo "bộ đệm", giảm áp lực lên tỷ giá, dù nguồn ngoại tệ từ thương mại suy yếu.
Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

Mạnh tay xử lý vi phạm trong thực thi bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - 8 tháng năm 2026, cơ quan Bảo hiểm xã hội đã truy thu, thu hồi hàng trăm tỷ đồng qua công tác kiểm tra chuyên ngành; đồng thời phối hợp với Viện Kiểm sát nhân dân và các cơ quan liên quan xử lý chậm đóng, trốn đóng, tạo thêm cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người lao động.
Lợi nhuận "chạy trước" đà hồi phục doanh thu phí, có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ báo lãi gấp 10 lần

Lợi nhuận "chạy trước" đà hồi phục doanh thu phí, có doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ báo lãi gấp 10 lần

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ bứt tốc mạnh, có doanh nghiệp tăng trưởng lợi nhuận gấp hơn 10 lần cùng kỳ. Ở mảng kinh doanh cốt lõi, những “điểm sáng” phục hồi dần xuất hiện.
Phân làn tín dụng bất động sản, “van” cho vay được mở chọn lọc

Phân làn tín dụng bất động sản, “van” cho vay được mở chọn lọc

(TBTCO) - Dòng vốn tín dụng chảy vào bất động sản đang phân hóa rõ nét, có ngân hàng tăng dư nợ trên 50%, song cũng không ít ngân hàng chủ động thu hẹp dư nợ để kiểm soát rủi ro. "Van" tín dụng đang được điều tiết có chọn lọc, với hàng chục nghìn tỷ đồng hướng vào cho vay mua, thuê nhà và các phân khúc ưu tiên.
Chủ động gia hạn, kiểm tra thông tin đóng bảo hiểm y tế để bảo đảm quyền lợi liên tục

Chủ động gia hạn, kiểm tra thông tin đóng bảo hiểm y tế để bảo đảm quyền lợi liên tục

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khuyến nghị người thuộc nhóm tự đóng bảo hiểm y tế gia hạn trước khi thẻ hết giá trị sử dụng và chủ động kiểm tra thông tin sau khi đóng tiền để đảm bảo quyền lợi tham gia liên tục.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 146,000
Hà Nội - PNJ 143,000 146,000
Đà Nẵng - PNJ 143,000 146,000
Miền Tây - PNJ 143,000 146,000
Tây Nguyên - PNJ 143,000 146,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 146,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 14,600
Miếng SJC Nghệ An 14,300 14,600
Miếng SJC Thái Bình 14,300 14,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 14,560
Trang sức 99.99 13,970 14,570
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 14,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 14,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 1,455
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 143,069
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 108,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 9,842
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 88,304
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 84,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 60,413
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 146
Cập nhật: 13/09/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Cập nhật: 13/09/2026 07:00
Ngân hàng