Tín dụng đổ mạnh vào bất động sản, nhiều nhà băng chủ động "rà phanh"

Tú Anh
(TBTCO) - Dư nợ cho vay kinh doanh bất động sản tại 14 ngân hàng cuối năm 2025 lên gần 1 triệu tỷ đồng, tăng 33%; thậm chí có nhà băng tăng trưởng 3 con số, tạo áp lực lớn trong bối cảnh nhà điều hành phát tín hiệu siết chặt quản lý tín dụng. Một số ngân hàng đã chủ động “rà phanh”, hãm tốc tín dụng địa ốc để cân đối lại danh mục.
aa

Hàng triệu tỷ đồng đổ vào địa ốc

Theo dữ liệu tổng hợp từ báo cáo tài chính năm 2025 của nhóm ngân hàng niêm yết, có 14 ngân hàng thuyết minh chi tiết khoản mục về cho vay kinh doanh bất động sản, với dư nợ đạt 965.923,6 tỷ đồng, tăng 33% so với cùng kỳ, cao hơn mức tăng 25,2% của tổng dư nợ cho vay khách hàng. Trước đó, năm 2024, có tới 22 ngân hàng công bố số liệu thuyết minh chi tiết về mảng tín dụng này.

Nếu tính rộng hơn, bao gồm cả cho vay mua nhà, nhiều thống kê ước tính, dư nợ liên quan đến bất động sản đến cuối năm 2025 có thể lên tới khoảng 4,5 triệu tỷ đồng.

Xét theo dư nợ tuyệt đối, nhóm dẫn đầu với dư nợ vượt 200 nghìn tỷ đồng, gồm VPBank, Techcombank và SHB. MB cũng tăng tốc, nâng dư nợ lên 121.188,7 tỷ đồng.

Tín dụng đổ mạnh vào bất động sản, nhiều nhà băng chủ động
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng. Đồ họa: Ánh Tuyết

Về cơ cấu tín dụng năm 2025, một số ngân hàng duy trì tỷ trọng cho vay kinh doanh bất động sản ở mức xấp xỉ 30% tổng dư nợ, cho thấy mức độ tập trung tương đối cao; trong khi nhiều nhà băng khác giữ dưới 10%. Sự chênh lệch này phản ánh rõ nét mức độ phân hóa về khẩu vị rủi ro, cũng như định hướng chiến lược tín dụng giữa các ngân hàng.

Cấp tín dụng có chọn lọc

"Hỗ trợ phục hồi thị trường bất động sản là khi tín dụng đi vào các nhu cầu có nền tảng dòng tiền và tính an sinh hoặc tính sản xuất rõ ràng, đó là nhà ở xã hội, nhà ở thương mại có giá phù hợp phục vụ nhu cầu ở thực; dự án đã hoàn thiện pháp lý, có tỷ lệ bán/cho thuê đủ tốt; các khoản vay sửa chữa, hoàn thiện nhận nhà và tái cấu trúc khoản vay cho doanh nghiệp bất động sản với điều kiện minh bạch dòng tiền, có phương án bán hàng và giảm đòn bẩy rõ ràng. Đây là phần tín dụng giúp khơi thông thanh khoản thị trường theo hướng lành mạnh, đồng thời hạn chế nợ xấu phát sinh".

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Xét về tốc độ tăng trưởng cho vay kinh doanh bất động sản năm 2025, phần lớn ngân hàng ghi nhận mức tăng cao, thậm chí đột biến, như VIB: tăng 270,2%, SeABank tăng 120%, BVBank tăng 102,4%, MB tăng 88,9%, MSB tăng 66,3%... Đáng chú ý, chỉ có 2 ngân hàng chủ động giảm tốc cho vay kinh doanh bất động sản, đó là HDBank và KienlongBank, lần lượt giảm 1,4% và 14,8% cùng kỳ.

Theo đánh giá của PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, rủi ro hệ thống ngân hàng tăng nhanh, khi tín dụng nuôi dưỡng kỳ vọng tăng giá, thay vì nuôi dưỡng dòng tiền.

Điều này thể hiện rõ thông qua việc các ngân hàng cho vay dự án pháp lý chưa chắc chắn; cho vay đảo nợ trá hình; tập trung tín dụng vào một số chủ đầu tư, nhóm khách hàng liên quan; hoặc kéo dài tình trạng “giữ lãi suất thấp” trong khi giá tài sản neo cao, khiến đòn bẩy toàn hệ thống phình lên...

"Khi đó, chỉ cần thanh khoản thị trường yếu đi hoặc lãi suất tăng, rủi ro chuyển nhanh từ rủi ro thị trường sang rủi ro tín dụng, rồi thành nợ xấu" - PGS.TS Nguyễn Hữu Huân lưu ý.

Nhà điều hành “khóa van”, ngân hàng bắt đầu xoay trục khỏi địa ốc

Bên cạnh hạn mức tín dụng chung toàn hệ thống tăng 15% được đưa ra từ đầu năm, Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu kiểm soát chặt hơn dòng vốn vào bất động sản. Nổi bật là tốc độ tăng trưởng cho vay lĩnh vực này không được vượt quá mức tăng trưởng tín dụng bình quân của chính ngân hàng đó. Đây được xem là điểm mới trong điều hành, nhằm hạn chế rủi ro tập trung và đảm bảo phân bổ dòng vốn cân đối, an toàn hơn trong toàn hệ thống.

Chia sẻ tại hội nghị nhà đầu tư, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng MB Lưu Trung Thái cho rằng, kiểm soát tăng trưởng tín dụng đối với ngành bất động sản sẽ chặt chẽ hơn. Do vậy, các chủ đầu tư cũng phải thận trọng trong quá trình phát triển dự án. Ngân hàng cần có chính sách để lựa chọn các dự án có nhu cầu thật, đặc biệt phục vụ mục tiêu lớn, giúp giá bất động sản, nhất là tại các đô thị lớn, hợp lý với thu nhập người dân, bảo đảm nhu cầu nhà ở dài hạn.

“Đây là việc rất cần thiết. Cung tín dụng cho ngành bất động sản thương mại kinh doanh có thể thấp đi, nhưng với sự lựa chọn cao hơn và chính sách được mở rộng hơn, đây là bước đi rất cẩn thận và chắc chắn trong năm 2026” - ông Thái đánh giá.

Mức lãi suất cho vay cũng cần hợp lý theo từng ngành; những ngành có rủi ro cao thì lãi suất không thể thấp được.

Cũng theo lãnh đạo MB, với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 10%, việc điều hành tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống linh hoạt khoảng 15 - 16% là nằm trong tính toán của nhà điều hành. Nhìn tổng thể vào cấu trúc huy động vốn của nền kinh tế, nguồn vốn hiện nay không chỉ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, mà đang được phân bổ qua nhiều kênh khác nhau.

Trong đó, thị trường trái phiếu đang phục hồi, thị trường chứng khoán có nhiều thương vụ IPO mới, qua đó thu hút thêm vốn cho nền kinh tế, góp phần giảm áp lực đối với kênh tín dụng.

Trong bối cảnh ngân hàng đối mặt với thách thức về thanh khoản cũng như chủ trương siết chặt rủi ro đối với lĩnh vực bất động sản, ông Jens Lottner - Tổng Giám đốc Techcombank cho biết, Techcombank đang giảm dần tỷ lệ cho vay ở lĩnh vực này.

“Chúng tôi sẽ tiếp tục đa dạng hóa danh mục cho vay, cho vay bất động sản sẽ chỉ chiếm khoảng 20 - 25%. Đây sẽ là mục tiêu hướng đến trong năm 2030. Techcombank cam kết để có thể đạt được điều này” - đại diện Techcombank nêu rõ.

Theo đó, ngân hàng này sẽ đẩy mạnh cho vay bán lẻ nhiều hơn và giảm tỷ trọng cho vay doanh nghiệp. Điều này đòi hỏi ngân hàng phải xây dựng những mô hình kinh doanh mới, thử nghiệm và đánh giá kỹ lưỡng trước khi triển khai rộng rãi. Về tái phân bổ danh mục, ngân hàng sẽ tập trung vào các lĩnh vực như cơ sở hạ tầng, chăm sóc sức khỏe, y tế, hàng tiêu dùng, viễn thông... Nhu cầu trong nước đối với các lĩnh vực này vẫn rất lớn và Techcombank sẽ tham gia mạnh mẽ.

Chủ động giảm cho vay bất động sản trước áp lực trừ room

Trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước định hướng kiểm soát chặt tín dụng bất động sản, yêu cầu tăng trưởng cho vay lĩnh vực này không vượt quá tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của từng ngân hàng, nhằm hạn chế rủi ro hệ thống, có thể thấy, nhiều ngân hàng đang ở trạng thái tăng “nóng” ở mảng bất động sản năm vừa qua.

Cho vay bất động sản tăng nhanh hơn tốc độ tín dụng chung kéo theo nguy cơ bị trừ room trong các đợt phân bổ tiếp theo. Nếu không kịp thời điều chỉnh, ngân hàng có thể bị cơ quan quản lý “tuýt còi”.

Trước yêu cầu này, một nhóm ngân hàng đã chủ động bám sát định hướng kiểm soát rủi ro, cân đối lại cơ cấu tín dụng để tránh vượt trần quản lý. Theo đó, một số ngân hàng đã "giảm tốc" cho vay kinh doanh bất động sản, tăng trưởng thấp hơn tăng trưởng cho vay khách hàng chung, thể hiện sự chủ động "rà phanh" và kiểm soát sớm dòng vốn vào lĩnh vực này.

Đơn cử, tăng trưởng cho vay kinh doanh bất động sản của ngân hàng VPBank chỉ đạt 11,1%, thấp hơn các năm trước và cũng thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng tổng dư nợ cho vay khách hàng trong năm 2025. Xu hướng tương tự cũng được ghi nhận tại Techcombank, HDBank và KienlongBank.

Tú Anh

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80