Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
aa
VinaCapital dự báo lãi suất tăng 100 điểm cơ bản, gợi mở công cụ "mở van" thanh khoản Lãi suất vay mua nhà cố định lên 14%/năm, thị trường bất động sản thử “sức bền” Ngân hàng "big 4" lên tiếng sau tin dừng tiếp dự án bất động sản mới, tăng lãi suất cho vay

Lãi suất thả nổi tăng nhanh

Một khách hàng vay mua nhà đang còn dư nợ khoảng 2,1 tỷ đồng tại một ngân hàng tư nhân lớn cho biết, ngày 25/2 vừa qua, anh nhận được thông báo từ ngân hàng về việc điều chỉnh lãi suất đối với khoản vay lên 16%/năm.

Hiện khoản vay này đã kết thúc giai đoạn lãi suất ưu đãi ban đầu và chuyển sang cơ chế lãi suất thả nổi theo hợp đồng tín dụng. Việc lãi suất tăng lên 16%/năm khiến chi phí tài chính tăng đáng kể.

Với khoản vay 2,1 tỷ đồng trong thời hạn 20 năm của khách hàng nêu trên, số tiền phải trả tăng thêm khoảng 3 triệu đồng/tháng so với trước. Nếu vay số tiền lớn, thì áp lực sẽ lớn hơn. Áp lực càng gia tăng khi nhiều khả năng lãi suất tiếp tục điều chỉnh trong các kỳ tới. Nếu mặt bằng lãi vay tăng thêm, nghĩa vụ trả nợ hàng tháng sẽ tiếp tục "phình to", tác động trực tiếp đến dòng tiền và kế hoạch tài chính của người vay.

Theo một nhân viên môi giới bất động sản tại khu vực vùng ven Hà Nội, nếu lãi suất vay mua nhà tăng lên khoảng 15%/năm, thị trường bất động sản năm 2026 có thể đối mặt với nguy cơ chững lại rõ rệt, đặc biệt với nhóm nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính cao.

Khi chi phí vay vốn tăng mạnh, nhiều người mua nhà ở thực có xu hướng thận trọng hơn. Tuy nhiên, ở góc độ tích cực, mặt bằng lãi suất cao cũng được ví như một “gáo nước lạnh”, giúp người mua trở nên tỉnh táo hơn trong các quyết định tài chính.

Đáng chú ý, lãi suất tăng cũng khiến nhóm nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính để “lướt sóng” dần rút lui. Trên thị trường xuất hiện không ít tin rao bán nhà với mức giá cắt lỗ, song thanh khoản nhìn chung suy giảm, đặc biệt tại phân khúc đất nền ở các khu vực xa trung tâm.

Theo môi giới này, áp lực bán có thể xuất hiện tại một số khu vực, song không phải nơi nào giá cũng giảm sâu. Những sản phẩm có pháp lý rõ ràng, vị trí tốt và có khả năng khai thác dòng tiền vẫn có xu hướng giữ giá. Nếu kịch bản lãi suất cao xảy ra, năm 2026 nhiều khả năng sẽ trở thành giai đoạn thanh lọc mạnh của thị trường, khi chiến lược vay vốn để "lướt sóng" mất lợi thế, nhường chỗ cho nhóm nhà đầu tư có dòng tiền thật và tầm nhìn dài hạn.

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản
Nguồn: Tổng hợp từ Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Ánh Tuyết.

Trong thông báo về diễn biến lãi suất của tổ chức tín dụng đối với khách hàng tháng 1/2026 vừa công bố, Ngân hàng Nhà nước cho biết, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 7 - 9,3%/năm.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại những tháng gần đây có xu hướng nhích tăng. Đơn cử, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay mới và dư nợ hiện hữu dao động trong khoảng 6,5 - 8,9%/năm vào tháng 9/2025. Đến tháng 1/2026 ghi nhận mức tăng bình quân khoảng 0,5/năm, phản ánh xu hướng tăng dần qua các tháng do lãi suất huy động, chi phí huy động vốn có dấu hiệu nhích lên ở một số kỳ hạn.

Siết nhiều "van" điều tiết, bất động sản không còn dễ phụ thuộc tín dụng

Khảo sát mặt bằng lãi suất cho vay bình quân tháng 1/2026 của nhiều ngân hàng duy trì ở mức khá cao, quanh ngưỡng trên 9%/năm.

Đơn cử, BVBank có mức lãi suất bình quân cao, đạt 9,92%/năm, tăng 0,2 điểm phần trăm so với tháng 12/2025. Trong khi Sacombank công bố lãi suất cho vay bình quân 9,23%/năm và tăng mạnh 0,79 điểm phần trăm, cho thấy xu hướng điều chỉnh lãi suất rõ rệt tại một số ngân hàng.

OCB ghi nhận mức 9,21%/năm, tăng tới 0,92 điểm phần trăm, mức tăng mạnh nhất trong khảo sát nhóm, phản ánh khả năng ngân hàng điều chỉnh cơ cấu tín dụng hoặc chi phí vốn đầu vào.

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản. Ảnh minh họa.

Theo đánh giá của chuyên gia FiinRatings trong báo cáo về tín dụng năm 2026 mới đây, áp lực từ lãi suất vay mua nhà tăng đang trở thành một trong những rủi ro lớn nhất đối với ngành bất động sản. Hiện cho vay mua nhà là nhóm tín dụng lớn nhất trong danh mục của nhiều ngân hàng và phần lớn các khoản vay này được phát sinh trong giai đoạn lãi suất thấp từ năm 2023 - 2025.

"Chúng tôi cho rằng, nếu môi trường lãi suất duy trì trên 13% trong thời gian dài, tỷ lệ nợ quá hạn trong hệ thống sẽ tăng đáng kể, với tác động mạnh nhất đối với các ngân hàng tầm trung có danh mục cho vay thế chấp nhà ở tập trung" - chuyên gia FiinRatings nhìn nhận.

Khi bước sang giai đoạn lãi suất thả nổi, mức lãi có thể tăng lên khoảng 13 - 15%/năm, khiến số tiền trả nợ hàng tháng của người vay tăng mạnh.

Điều này làm khả năng trả nợ của nhiều người vay suy giảm nhanh, đặc biệt với những người sử dụng đòn bẩy tài chính lớn.

Đáng chú ý, các nhà phát triển bất động sản thiếu tiền mặt, không tiếp cận được tín dụng ngân hàng hoặc thị trường trái phiếu, đang đối mặt rủi ro bị mua lại, buộc phải bán dự án với mức chiết khấu lớn cho các tập đoàn có lợi thế đàm phán.

"Chu kỳ tiền rẻ đối với lĩnh vực bất động sản đang dần kết thúc" - chuyên gia FiinRatings đánh giá. Ngay cả khi lãi suất điều hành được duy trì, việc ưu tiên thanh khoản ngân hàng cho sản xuất và hạ tầng sẽ buộc các doanh nghiệp bất động sản phải huy động vốn thông qua thị trường vốn như: phát hành cổ phiếu mới, trái phiếu doanh nghiệp hoặc bán cổ phần tại các công ty dự án cho đối tác chiến lược.

Thực tế, cho vay kinh doanh bất động sản từ trước tới nay vẫn tồn tại những giới hạn nhất định, thay vì giới hạn room tín dụng như chỉ đạo của nhà điều hành đầu năm.

TS. Châu Đình Linh - Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, một cơ chế quan trọng là gán hệ số rủi ro tín dụng cao, có thể lên tới 150% giá trị dư nợ khi tính tài sản có trọng số rủi ro (RWA).

Bên cạnh đó, Thông tư số 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn cũng có sự thay đổi rõ rệt trong cách xác định hệ số rủi ro đối với các khoản vay bất động sản, theo hướng phản ánh sát hơn mức độ rủi ro thực tế, cũng như tình trạng pháp lý. Theo cách tính này, các khoản cho vay bất động sản thường được áp dụng hệ số rủi ro cao, khiến ngân hàng phải dành nhiều vốn hơn cho cùng một khoản tín dụng.

Ngoài ra, các ngân hàng cũng chịu ràng buộc bởi tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Nếu trước đây giới hạn này ở mức 40%, thì hiện đã giảm xuống còn 30% và phần lớn các ngân hàng đã đáp ứng được yêu cầu này.

"Dòng vốn vào bất động sản còn chịu tác động từ hạn mức tăng trưởng tín dụng được phân bổ hàng năm, cùng với các chỉ đạo và biện pháp điều hành của cơ quan quản lý khi thị trường xuất hiện dấu hiệu rủi ro" - ông Linh phân tích./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

Nới trần vốn ngắn hạn “nuôi” cho vay trung dài hạn, thận trọng rủi ro đổ vốn bất động sản và lệch pha kỳ hạn

(TBTCO) - Đề xuất nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng giúp ngân hàng giảm áp lực huy động vốn dài hạn, cải thiện NIM và tăng khả năng cung ứng tín dụng. Tuy nhiên, chính sách cũng có thể làm gia tăng rủi ro lệch pha kỳ hạn, dòng vốn liên đới bất động sản và khiến chi phí vốn ngắn hạn cho sản xuất kinh doanh đắt đỏ hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

Thanh khoản cải thiện, áp lực huy động vốn giảm dần

(TBTCO) - Tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh, góp phần cải thiện thanh khoản hệ thống trong bối cảnh áp lực huy động vốn được dự báo giảm dần trong nửa cuối năm 2026.
Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

Hà Nội kiểm soát chặt lãi suất ưu đãi "ngầm", ngăn ngân hàng cạnh tranh không lành mạnh

(TBTCO) - Trước những tồn tại trong hoạt động huy động vốn và lãi suất huy động trên địa bàn TP. Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Chi nhánh Khu vực 1 nêu rõ, sẽ kiểm soát chặt chẽ các trường hợp áp dụng lãi suất thỏa thuận, lãi suất cộng thêm theo các chương trình ưu đãi, không để xảy ra tình trạng giảm lãi suất mang tính hình thức; hạn chế tình trạng cạnh tranh lãi suất không lành mạnh.
Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

Lãi suất đầu vào lên mặt bằng mới, ngân hàng trước áp lực chi phí vốn và nợ xấu

(TBTCO) - Trước áp lực chi phí vốn tăng khi lãi suất huy động, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất phát hành trái phiếu cùng tăng lên mặt bằng mới, NIM ngân hàng tiếp tục chịu sức ép. Dù vậy, Chứng khoán Shinhan vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế toàn ngành tăng 17% năm 2026 và 16% năm 2027; đồng thời, cảnh báo nợ xấu có thể tăng nếu mặt bằng lãi suất neo cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▼100K 13,500 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▼100K 13,450 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼150K 14,600 ▼100K
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,790 ▼100K 14,490 ▼100K
Trang sức 99.99 13,800 ▼100K 14,500 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 24/06/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17607 17880 18459
CAD 17978 18253 18872
CHF 31759 32140 32780
CNY 0 3825 3918
EUR 29232 29452 30533
GBP 33837 34226 35174
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14526 15114
SGD 19731 20013 20589
THB 703 766 820
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26451
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,131 26,131 26,451
USD(1-2-5) 25,086 - -
USD(10-20) 25,086 - -
EUR 29,452 29,476 30,808
JPY 158.58 158.87 168.06
GBP 34,153 34,245 35,343
AUD 17,873 17,938 18,573
CAD 18,188 18,246 18,871
CHF 32,095 32,195 33,058
SGD 19,898 19,960 20,698
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,293 3,303 3,434
KRW 15.73 16.4 17.8
THB 752.94 762.24 813.9
NZD 14,582 14,717 15,114
SEK - 2,658 2,745
DKK - 3,940 4,069
NOK - 2,639 2,726
LAK - 0.91 1.27
MYR 5,948.8 - 6,699.53
TWD 749.79 - 906.17
SAR - 6,902.31 7,252.78
KWD - 83,298 88,418
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,111 26,131 26,451
EUR 29,387 29,505 30,684
GBP 34,121 34,258 35,268
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,944 32,072 32,985
JPY 158.76 159.40 167.20
AUD 17,866 17,938 18,524
SGD 19,946 20,026 20,602
THB 771 774 809
CAD 18,191 18,264 18,824
NZD 14,667 15,197
KRW 16.42 18.05
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26135 26135 26451
AUD 17793 17893 18815
CAD 18151 18251 19262
CHF 32025 32055 33633
CNY 3806.4 3831.4 3966.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29432 29462 31184
GBP 34198 34248 36016
HKD 0 3355 0
JPY 159.28 159.78 170.32
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14649 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19897 20027 20755
THB 0 732.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,161 26,101 26,451
USD20 26,161 26,101 26,451
USD1 26,161 26,101 26,451
AUD 17,855 17,955 19,068
EUR 29,588 29,588 30,997
CAD 18,103 18,203 19,509
SGD 19,986 20,136 20,699
JPY 159.78 161.28 165.85
GBP 34,123 34,473 35,345
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/06/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80