Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
aa
VinaCapital dự báo lãi suất tăng 100 điểm cơ bản, gợi mở công cụ "mở van" thanh khoản Lãi suất vay mua nhà cố định lên 14%/năm, thị trường bất động sản thử “sức bền” Ngân hàng "big 4" lên tiếng sau tin dừng tiếp dự án bất động sản mới, tăng lãi suất cho vay

Lãi suất thả nổi tăng nhanh

Một khách hàng vay mua nhà đang còn dư nợ khoảng 2,1 tỷ đồng tại một ngân hàng tư nhân lớn cho biết, ngày 25/2 vừa qua, anh nhận được thông báo từ ngân hàng về việc điều chỉnh lãi suất đối với khoản vay lên 16%/năm.

Hiện khoản vay này đã kết thúc giai đoạn lãi suất ưu đãi ban đầu và chuyển sang cơ chế lãi suất thả nổi theo hợp đồng tín dụng. Việc lãi suất tăng lên 16%/năm khiến chi phí tài chính tăng đáng kể.

Với khoản vay 2,1 tỷ đồng trong thời hạn 20 năm của khách hàng nêu trên, số tiền phải trả tăng thêm khoảng 3 triệu đồng/tháng so với trước. Nếu vay số tiền lớn, thì áp lực sẽ lớn hơn. Áp lực càng gia tăng khi nhiều khả năng lãi suất tiếp tục điều chỉnh trong các kỳ tới. Nếu mặt bằng lãi vay tăng thêm, nghĩa vụ trả nợ hàng tháng sẽ tiếp tục "phình to", tác động trực tiếp đến dòng tiền và kế hoạch tài chính của người vay.

Theo một nhân viên môi giới bất động sản tại khu vực vùng ven Hà Nội, nếu lãi suất vay mua nhà tăng lên khoảng 15%/năm, thị trường bất động sản năm 2026 có thể đối mặt với nguy cơ chững lại rõ rệt, đặc biệt với nhóm nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính cao.

Khi chi phí vay vốn tăng mạnh, nhiều người mua nhà ở thực có xu hướng thận trọng hơn. Tuy nhiên, ở góc độ tích cực, mặt bằng lãi suất cao cũng được ví như một “gáo nước lạnh”, giúp người mua trở nên tỉnh táo hơn trong các quyết định tài chính.

Đáng chú ý, lãi suất tăng cũng khiến nhóm nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính để “lướt sóng” dần rút lui. Trên thị trường xuất hiện không ít tin rao bán nhà với mức giá cắt lỗ, song thanh khoản nhìn chung suy giảm, đặc biệt tại phân khúc đất nền ở các khu vực xa trung tâm.

Theo môi giới này, áp lực bán có thể xuất hiện tại một số khu vực, song không phải nơi nào giá cũng giảm sâu. Những sản phẩm có pháp lý rõ ràng, vị trí tốt và có khả năng khai thác dòng tiền vẫn có xu hướng giữ giá. Nếu kịch bản lãi suất cao xảy ra, năm 2026 nhiều khả năng sẽ trở thành giai đoạn thanh lọc mạnh của thị trường, khi chiến lược vay vốn để "lướt sóng" mất lợi thế, nhường chỗ cho nhóm nhà đầu tư có dòng tiền thật và tầm nhìn dài hạn.

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản
Nguồn: Tổng hợp từ Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Ánh Tuyết.

Trong thông báo về diễn biến lãi suất của tổ chức tín dụng đối với khách hàng tháng 1/2026 vừa công bố, Ngân hàng Nhà nước cho biết, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 7 - 9,3%/năm.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại những tháng gần đây có xu hướng nhích tăng. Đơn cử, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay mới và dư nợ hiện hữu dao động trong khoảng 6,5 - 8,9%/năm vào tháng 9/2025. Đến tháng 1/2026 ghi nhận mức tăng bình quân khoảng 0,5/năm, phản ánh xu hướng tăng dần qua các tháng do lãi suất huy động, chi phí huy động vốn có dấu hiệu nhích lên ở một số kỳ hạn.

Siết nhiều "van" điều tiết, bất động sản không còn dễ phụ thuộc tín dụng

Khảo sát mặt bằng lãi suất cho vay bình quân tháng 1/2026 của nhiều ngân hàng duy trì ở mức khá cao, quanh ngưỡng trên 9%/năm.

Đơn cử, BVBank có mức lãi suất bình quân cao, đạt 9,92%/năm, tăng 0,2 điểm phần trăm so với tháng 12/2025. Trong khi Sacombank công bố lãi suất cho vay bình quân 9,23%/năm và tăng mạnh 0,79 điểm phần trăm, cho thấy xu hướng điều chỉnh lãi suất rõ rệt tại một số ngân hàng.

OCB ghi nhận mức 9,21%/năm, tăng tới 0,92 điểm phần trăm, mức tăng mạnh nhất trong khảo sát nhóm, phản ánh khả năng ngân hàng điều chỉnh cơ cấu tín dụng hoặc chi phí vốn đầu vào.

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản. Ảnh minh họa.

Theo đánh giá của chuyên gia FiinRatings trong báo cáo về tín dụng năm 2026 mới đây, áp lực từ lãi suất vay mua nhà tăng đang trở thành một trong những rủi ro lớn nhất đối với ngành bất động sản. Hiện cho vay mua nhà là nhóm tín dụng lớn nhất trong danh mục của nhiều ngân hàng và phần lớn các khoản vay này được phát sinh trong giai đoạn lãi suất thấp từ năm 2023 - 2025.

"Chúng tôi cho rằng, nếu môi trường lãi suất duy trì trên 13% trong thời gian dài, tỷ lệ nợ quá hạn trong hệ thống sẽ tăng đáng kể, với tác động mạnh nhất đối với các ngân hàng tầm trung có danh mục cho vay thế chấp nhà ở tập trung" - chuyên gia FiinRatings nhìn nhận.

Khi bước sang giai đoạn lãi suất thả nổi, mức lãi có thể tăng lên khoảng 13 - 15%/năm, khiến số tiền trả nợ hàng tháng của người vay tăng mạnh.

Điều này làm khả năng trả nợ của nhiều người vay suy giảm nhanh, đặc biệt với những người sử dụng đòn bẩy tài chính lớn.

Đáng chú ý, các nhà phát triển bất động sản thiếu tiền mặt, không tiếp cận được tín dụng ngân hàng hoặc thị trường trái phiếu, đang đối mặt rủi ro bị mua lại, buộc phải bán dự án với mức chiết khấu lớn cho các tập đoàn có lợi thế đàm phán.

"Chu kỳ tiền rẻ đối với lĩnh vực bất động sản đang dần kết thúc" - chuyên gia FiinRatings đánh giá. Ngay cả khi lãi suất điều hành được duy trì, việc ưu tiên thanh khoản ngân hàng cho sản xuất và hạ tầng sẽ buộc các doanh nghiệp bất động sản phải huy động vốn thông qua thị trường vốn như: phát hành cổ phiếu mới, trái phiếu doanh nghiệp hoặc bán cổ phần tại các công ty dự án cho đối tác chiến lược.

Thực tế, cho vay kinh doanh bất động sản từ trước tới nay vẫn tồn tại những giới hạn nhất định, thay vì giới hạn room tín dụng như chỉ đạo của nhà điều hành đầu năm.

TS. Châu Đình Linh - Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, một cơ chế quan trọng là gán hệ số rủi ro tín dụng cao, có thể lên tới 150% giá trị dư nợ khi tính tài sản có trọng số rủi ro (RWA).

Bên cạnh đó, Thông tư số 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn cũng có sự thay đổi rõ rệt trong cách xác định hệ số rủi ro đối với các khoản vay bất động sản, theo hướng phản ánh sát hơn mức độ rủi ro thực tế, cũng như tình trạng pháp lý. Theo cách tính này, các khoản cho vay bất động sản thường được áp dụng hệ số rủi ro cao, khiến ngân hàng phải dành nhiều vốn hơn cho cùng một khoản tín dụng.

Ngoài ra, các ngân hàng cũng chịu ràng buộc bởi tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Nếu trước đây giới hạn này ở mức 40%, thì hiện đã giảm xuống còn 30% và phần lớn các ngân hàng đã đáp ứng được yêu cầu này.

"Dòng vốn vào bất động sản còn chịu tác động từ hạn mức tăng trưởng tín dụng được phân bổ hàng năm, cùng với các chỉ đạo và biện pháp điều hành của cơ quan quản lý khi thị trường xuất hiện dấu hiệu rủi ro" - ông Linh phân tích./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20 - 24/4: Lãi suất liên ngân hàng vượt 6%, hạ nhiệt sau bơm ròng gần 90.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/4 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, có thời điểm vượt 6% giữa tuần trước khi hạ nhiệt nhờ Ngân hàng Nhà nước bơm ròng khoảng 89.631,65 tỷ đồng qua OMO. Tỷ giá trung tâm tuần qua nhích tăng 11 đồng lên 25.113 VND/USD, trong khi thị trường tự do tăng 70 đồng, song được kỳ vọng hạ nhiệt dần trong nửa cuối năm.
Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Thanh khoản căng khiến lãi suất khó giảm sâu, Chứng khoán KBSV nêu 3 cách gỡ áp lực cho tỷ lệ LDR

Nhóm phân tích Chứng khoán KBSV nhận định, lãi suất có thể giảm nhẹ từ nền cao sau cam kết hạ 0,5 - 1%/năm, trong ngắn hạn, nhóm phân tích KBSV cho rằng, xu hướng giảm lãi suất vẫn chưa rõ rệt, khi các vấn đề về căng thẳng thanh khoản dự báo sẽ tiếp diễn trong quý II/2026, tỷ lệ LDR tiến sát ngưỡng trần 85%. Ba phương án điều chỉnh được đề xuất nhằm giảm áp lực cho LDR, trong đó, nhóm ngân hàng quốc doanh được kỳ vọng cải thiện đáng kể.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/4: Hút ròng hơn 72.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm vẫn giảm sâu dưới 4%

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/4, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng mạnh 72.486,19 tỷ đồng qua kênh thị trường mở, duy trì định hướng thắt chặt. Dù vậy, lãi suất liên ngân hàng giảm sâu, phản ánh áp lực thanh khoản hạ nhiệt. Tỷ giá trong nước được giữ ổn định.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

(TBTCO) - Sáng ngày 10/4, VietABank áp dụng điều chỉnh giảm lãi suất, đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ổn định mặt bằng lãi suất, hỗ trợ tăng trưởng.
Ngân hàng đẩy lãi suất cạnh tranh hút vốn, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát

Ngân hàng đẩy lãi suất cạnh tranh hút vốn, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát

(TBTCO) - Thông tin từ cuộc họp triển khai công tác ngân hàng cho thấy, về huy động vốn và cho vay, có tình trạng một số ngân hàng thương mại cạnh tranh trong huy động vốn, qua đó, đẩy mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tăng. Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ xử nghiêm hành vi vi phạm trong hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng các ngân hàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 16,600
Kim TT/AVPL 16,300 16,600
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 16,550
Nguyên Liệu 99.99 15,150 15,350
Nguyên Liệu 99.9 15,100 15,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,600 165,600
Hà Nội - PNJ 162,600 165,600
Đà Nẵng - PNJ 162,600 165,600
Miền Tây - PNJ 162,600 165,600
Tây Nguyên - PNJ 162,600 165,600
Đông Nam Bộ - PNJ 162,600 165,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 16,600
Miếng SJC Nghệ An 16,300 16,600
Miếng SJC Thái Bình 16,300 16,600
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 16,550
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 16,550
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,740 16,440
Trang sức 99.99 15,750 16,450
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 16,602
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 16,603
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 1,655
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 1,656
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 164
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 162,376
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 123,162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 111,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 1,002
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 95,772
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 68,545
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 166
Cập nhật: 30/04/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18311 18587 19160
CAD 18713 18991 19608
CHF 32699 33083 33723
CNY 0 3815 3907
EUR 30195 30469 31497
GBP 34780 35173 36105
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15113 15701
SGD 20082 20365 20889
THB 721 785 839
USD (1,2) 26088 0 0
USD (5,10,20) 26130 0 0
USD (50,100) 26158 26178 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,148 26,148 26,368
USD(1-2-5) 25,103 - -
USD(10-20) 25,103 - -
EUR 30,378 30,402 31,658
JPY 160.9 161.19 169.87
GBP 35,021 35,116 36,099
AUD 18,560 18,627 19,210
CAD 18,937 18,998 19,577
CHF 33,044 33,147 33,924
SGD 20,251 20,314 20,986
CNY - 3,792 3,913
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.47 17.18 18.58
THB 772.09 781.63 832.47
NZD 15,144 15,285 15,643
SEK - 2,796 2,877
DKK - 4,065 4,182
NOK - 2,782 2,863
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,248.16 - 7,008.59
TWD 755.21 - 909.26
SAR - 6,924.46 7,248.45
KWD - 83,880 88,698
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,148 26,368
EUR 30,275 30,397 31,579
GBP 34,975 35,115 36,125
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,777 32,909 33,839
JPY 161.14 161.79 169.07
AUD 18,553 18,628 19,223
SGD 20,271 20,352 20,934
THB 789 792 827
CAD 18,894 18,970 19,545
NZD 15,243 15,776
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26228 26228 26368
AUD 18490 18590 19515
CAD 18894 18994 20008
CHF 32941 32971 34549
CNY 3795.3 3820.3 3955.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30368 30398 32123
GBP 35079 35129 36887
HKD 0 3355 0
JPY 161.33 161.83 172.37
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15219 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20236 20366 21095
THB 0 750.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 15000000 15000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,177 26,227 26,368
USD20 26,177 26,227 26,368
USD1 26,177 26,227 26,368
AUD 18,551 18,651 19,760
EUR 30,521 30,521 31,932
CAD 18,850 18,950 20,255
SGD 20,317 20,467 21,033
JPY 161.88 163.38 167.96
GBP 34,961 35,311 36,186
XAU 16,298,000 16,298,000 16,602,000
CNY 0 3,705 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/04/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80