Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
aa
VinaCapital dự báo lãi suất tăng 100 điểm cơ bản, gợi mở công cụ "mở van" thanh khoản Lãi suất vay mua nhà cố định lên 14%/năm, thị trường bất động sản thử “sức bền” Ngân hàng "big 4" lên tiếng sau tin dừng tiếp dự án bất động sản mới, tăng lãi suất cho vay

Lãi suất thả nổi tăng nhanh

Một khách hàng vay mua nhà đang còn dư nợ khoảng 2,1 tỷ đồng tại một ngân hàng tư nhân lớn cho biết, ngày 25/2 vừa qua, anh nhận được thông báo từ ngân hàng về việc điều chỉnh lãi suất đối với khoản vay lên 16%/năm.

Hiện khoản vay này đã kết thúc giai đoạn lãi suất ưu đãi ban đầu và chuyển sang cơ chế lãi suất thả nổi theo hợp đồng tín dụng. Việc lãi suất tăng lên 16%/năm khiến chi phí tài chính tăng đáng kể.

Với khoản vay 2,1 tỷ đồng trong thời hạn 20 năm của khách hàng nêu trên, số tiền phải trả tăng thêm khoảng 3 triệu đồng/tháng so với trước. Nếu vay số tiền lớn, thì áp lực sẽ lớn hơn. Áp lực càng gia tăng khi nhiều khả năng lãi suất tiếp tục điều chỉnh trong các kỳ tới. Nếu mặt bằng lãi vay tăng thêm, nghĩa vụ trả nợ hàng tháng sẽ tiếp tục "phình to", tác động trực tiếp đến dòng tiền và kế hoạch tài chính của người vay.

Theo một nhân viên môi giới bất động sản tại khu vực vùng ven Hà Nội, nếu lãi suất vay mua nhà tăng lên khoảng 15%/năm, thị trường bất động sản năm 2026 có thể đối mặt với nguy cơ chững lại rõ rệt, đặc biệt với nhóm nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính cao.

Khi chi phí vay vốn tăng mạnh, nhiều người mua nhà ở thực có xu hướng thận trọng hơn. Tuy nhiên, ở góc độ tích cực, mặt bằng lãi suất cao cũng được ví như một “gáo nước lạnh”, giúp người mua trở nên tỉnh táo hơn trong các quyết định tài chính.

Đáng chú ý, lãi suất tăng cũng khiến nhóm nhà đầu tư sử dụng đòn bẩy tài chính để “lướt sóng” dần rút lui. Trên thị trường xuất hiện không ít tin rao bán nhà với mức giá cắt lỗ, song thanh khoản nhìn chung suy giảm, đặc biệt tại phân khúc đất nền ở các khu vực xa trung tâm.

Theo môi giới này, áp lực bán có thể xuất hiện tại một số khu vực, song không phải nơi nào giá cũng giảm sâu. Những sản phẩm có pháp lý rõ ràng, vị trí tốt và có khả năng khai thác dòng tiền vẫn có xu hướng giữ giá. Nếu kịch bản lãi suất cao xảy ra, năm 2026 nhiều khả năng sẽ trở thành giai đoạn thanh lọc mạnh của thị trường, khi chiến lược vay vốn để "lướt sóng" mất lợi thế, nhường chỗ cho nhóm nhà đầu tư có dòng tiền thật và tầm nhìn dài hạn.

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản
Nguồn: Tổng hợp từ Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Ánh Tuyết.

Trong thông báo về diễn biến lãi suất của tổ chức tín dụng đối với khách hàng tháng 1/2026 vừa công bố, Ngân hàng Nhà nước cho biết, lãi suất cho vay bình quân của ngân hàng thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 7 - 9,3%/năm.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại những tháng gần đây có xu hướng nhích tăng. Đơn cử, lãi suất cho vay bình quân đối với các khoản vay mới và dư nợ hiện hữu dao động trong khoảng 6,5 - 8,9%/năm vào tháng 9/2025. Đến tháng 1/2026 ghi nhận mức tăng bình quân khoảng 0,5/năm, phản ánh xu hướng tăng dần qua các tháng do lãi suất huy động, chi phí huy động vốn có dấu hiệu nhích lên ở một số kỳ hạn.

Siết nhiều "van" điều tiết, bất động sản không còn dễ phụ thuộc tín dụng

Khảo sát mặt bằng lãi suất cho vay bình quân tháng 1/2026 của nhiều ngân hàng duy trì ở mức khá cao, quanh ngưỡng trên 9%/năm.

Đơn cử, BVBank có mức lãi suất bình quân cao, đạt 9,92%/năm, tăng 0,2 điểm phần trăm so với tháng 12/2025. Trong khi Sacombank công bố lãi suất cho vay bình quân 9,23%/năm và tăng mạnh 0,79 điểm phần trăm, cho thấy xu hướng điều chỉnh lãi suất rõ rệt tại một số ngân hàng.

OCB ghi nhận mức 9,21%/năm, tăng tới 0,92 điểm phần trăm, mức tăng mạnh nhất trong khảo sát nhóm, phản ánh khả năng ngân hàng điều chỉnh cơ cấu tín dụng hoặc chi phí vốn đầu vào.

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản. Ảnh minh họa.

Theo đánh giá của chuyên gia FiinRatings trong báo cáo về tín dụng năm 2026 mới đây, áp lực từ lãi suất vay mua nhà tăng đang trở thành một trong những rủi ro lớn nhất đối với ngành bất động sản. Hiện cho vay mua nhà là nhóm tín dụng lớn nhất trong danh mục của nhiều ngân hàng và phần lớn các khoản vay này được phát sinh trong giai đoạn lãi suất thấp từ năm 2023 - 2025.

"Chúng tôi cho rằng, nếu môi trường lãi suất duy trì trên 13% trong thời gian dài, tỷ lệ nợ quá hạn trong hệ thống sẽ tăng đáng kể, với tác động mạnh nhất đối với các ngân hàng tầm trung có danh mục cho vay thế chấp nhà ở tập trung" - chuyên gia FiinRatings nhìn nhận.

Khi bước sang giai đoạn lãi suất thả nổi, mức lãi có thể tăng lên khoảng 13 - 15%/năm, khiến số tiền trả nợ hàng tháng của người vay tăng mạnh.

Điều này làm khả năng trả nợ của nhiều người vay suy giảm nhanh, đặc biệt với những người sử dụng đòn bẩy tài chính lớn.

Đáng chú ý, các nhà phát triển bất động sản thiếu tiền mặt, không tiếp cận được tín dụng ngân hàng hoặc thị trường trái phiếu, đang đối mặt rủi ro bị mua lại, buộc phải bán dự án với mức chiết khấu lớn cho các tập đoàn có lợi thế đàm phán.

"Chu kỳ tiền rẻ đối với lĩnh vực bất động sản đang dần kết thúc" - chuyên gia FiinRatings đánh giá. Ngay cả khi lãi suất điều hành được duy trì, việc ưu tiên thanh khoản ngân hàng cho sản xuất và hạ tầng sẽ buộc các doanh nghiệp bất động sản phải huy động vốn thông qua thị trường vốn như: phát hành cổ phiếu mới, trái phiếu doanh nghiệp hoặc bán cổ phần tại các công ty dự án cho đối tác chiến lược.

Thực tế, cho vay kinh doanh bất động sản từ trước tới nay vẫn tồn tại những giới hạn nhất định, thay vì giới hạn room tín dụng như chỉ đạo của nhà điều hành đầu năm.

TS. Châu Đình Linh - Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, một cơ chế quan trọng là gán hệ số rủi ro tín dụng cao, có thể lên tới 150% giá trị dư nợ khi tính tài sản có trọng số rủi ro (RWA).

Bên cạnh đó, Thông tư số 14/2025/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn cũng có sự thay đổi rõ rệt trong cách xác định hệ số rủi ro đối với các khoản vay bất động sản, theo hướng phản ánh sát hơn mức độ rủi ro thực tế, cũng như tình trạng pháp lý. Theo cách tính này, các khoản cho vay bất động sản thường được áp dụng hệ số rủi ro cao, khiến ngân hàng phải dành nhiều vốn hơn cho cùng một khoản tín dụng.

Ngoài ra, các ngân hàng cũng chịu ràng buộc bởi tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Nếu trước đây giới hạn này ở mức 40%, thì hiện đã giảm xuống còn 30% và phần lớn các ngân hàng đã đáp ứng được yêu cầu này.

"Dòng vốn vào bất động sản còn chịu tác động từ hạn mức tăng trưởng tín dụng được phân bổ hàng năm, cùng với các chỉ đạo và biện pháp điều hành của cơ quan quản lý khi thị trường xuất hiện dấu hiệu rủi ro" - ông Linh phân tích./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

(TBTCO) - Sáng ngày 10/4, VietABank áp dụng điều chỉnh giảm lãi suất, đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ổn định mặt bằng lãi suất, hỗ trợ tăng trưởng.
Ngân hàng đẩy lãi suất cạnh tranh hút vốn, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát

Ngân hàng đẩy lãi suất cạnh tranh hút vốn, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo dõi sát

(TBTCO) - Thông tin từ cuộc họp triển khai công tác ngân hàng cho thấy, về huy động vốn và cho vay, có tình trạng một số ngân hàng thương mại cạnh tranh trong huy động vốn, qua đó, đẩy mặt bằng lãi suất huy động và cho vay tăng. Ngân hàng Nhà nước cho biết sẽ xử nghiêm hành vi vi phạm trong hoạt động huy động vốn và cấp tín dụng các ngân hàng.
Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

Thị trường tiền tệ tuần 30/3 - 3/4: "Mở van" 110.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá USD tự do bỗng đứt mạch tăng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 30/3 đến ngày 3/4 ghi nhận nhiều điểm đáng chú ý, có phiên phát hành kỷ lục 90.000 tỷ đồng qua OMO khi lãi suất qua đêm vượt 11%; qua đó, bơm ròng mạnh 110.153,69 tỷ đồng cả tuần. Cùng thời điểm, tỷ giá USD tự do có diễn biến trái chiều khi "hạ sốt" 450 đồng, ngược đà tăng tỷ giá trung tâm và ngân hàng thương mại.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất. Đồng thời, cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 23 - 27/3 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh đầu tuần rồi hạ nhiệt về cuối tuần, với tỷ giá USD tự do có lúc chạm 28.000 đồng, nối dài đà tăng 5 tuần. Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt theo hướng “bơm hút" nhịp nhàng, vừa bán USD kỳ hạn và hút ròng để giảm áp lực tỷ giá; sau đó, nhanh chóng bơm ròng trở lại khi lãi suất liên ngân hàng vượt 8%.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,940 17,240
Kim TT/AVPL 16,950 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,940 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 17,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 16,930
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,200 172,200
Hà Nội - PNJ 169,200 172,200
Đà Nẵng - PNJ 169,200 172,200
Miền Tây - PNJ 169,200 172,200
Tây Nguyên - PNJ 169,200 172,200
Đông Nam Bộ - PNJ 169,200 172,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,940 17,240
Miếng SJC Nghệ An 16,940 17,240
Miếng SJC Thái Bình 16,940 17,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,920 17,220
NL 99.90 15,520
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,550
Trang sức 99.9 16,410 17,110
Trang sức 99.99 16,420 17,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,694 17,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,694 17,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,691 1,721
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,691 1,722
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,671 1,706
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,411 168,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,213 128,113
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,727 11,617
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,326 104,226
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,072 9,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,397 71,297
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cập nhật: 12/04/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18056 18331 18915
CAD 18487 18764 19389
CHF 32715 33100 33742
CNY 0 3800 3870
EUR 30224 30498 31532
GBP 34634 35027 35978
HKD 0 3231 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15050 15648
SGD 20121 20404 20942
THB 736 799 855
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,360
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 30,313 30,337 31,601
JPY 161.2 161.49 170.27
GBP 34,783 34,877 35,875
AUD 18,286 18,352 18,934
CAD 18,720 18,780 19,359
CHF 32,986 33,089 33,868
SGD 20,269 20,332 21,013
CNY - 3,789 3,912
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.37 17.07 18.47
THB 782.26 791.92 842.99
NZD 15,067 15,207 15,566
SEK - 2,783 2,865
DKK - 4,057 4,175
NOK - 2,725 2,809
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,213.63 - 6,976.01
TWD 749.69 - 902.95
SAR - 6,916.97 7,243.76
KWD - 83,839 88,688
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 30,207 30,328 31,508
GBP 34,719 34,858 35,864
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,698 32,829 33,755
JPY 161.50 162.15 169.45
AUD 18,273 18,346 18,938
SGD 20,318 20,400 20,984
THB 799 802 837
CAD 18,700 18,775 19,341
NZD 15,151 15,682
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26360
AUD 18254 18354 19280
CAD 18681 18781 19795
CHF 32941 32971 34550
CNY 3795.5 3820.5 3955.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30381 30411 32133
GBP 34881 34931 36702
HKD 0 3355 0
JPY 161.84 162.34 172.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15181 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20277 20407 21138
THB 0 763.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16970000 16970000 17270000
SBJ 15000000 15000000 17270000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,360
USD20 26,135 26,185 26,360
USD1 26,135 26,185 26,360
AUD 18,282 18,382 19,522
EUR 30,482 30,482 31,943
CAD 18,609 18,709 20,050
SGD 20,331 20,481 21,450
JPY 162.15 163.65 168.5
GBP 34,738 35,088 36,011
XAU 16,968,000 0 17,272,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/04/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80