Chất lượng tài sản và vốn - thước đo sức chống chịu của ngân hàng

Thu Hương
(TBTCO) - Sự phân hóa ngày càng rõ trong hệ thống ngân hàng châu Á - Thái Bình Dương cho thấy, nền tảng vốn và chất lượng tài sản đang trở thành yếu tố then chốt đánh giá mức độ chống chịu của từng quốc gia. Việt Nam đang duy trì đà tăng trưởng tích cực, song yêu cầu kiểm soát tín dụng và củng cố bộ đệm an toàn vốn cũng được đặt ra cấp thiết.
aa

Triển vọng ngành ngân hàng trong khu vực phân hóa rõ rệt

Trong bối cảnh hệ thống tài chính châu Á - Thái Bình Dương đang chịu tác động đồng thời từ những yếu tố nội tại và biến động bên ngoài, triển vọng ngành ngân hàng trong khu vực cho thấy sự phân hóa ngày càng rõ rệt giữa các quốc gia về chất lượng tài sản, năng lực vốn và môi trường hoạt động. Các đánh giá gần đây của Moody’s Ratings cho thấy, dù nền tảng chung của khu vực vẫn được duy trì ở mức cân bằng, mức độ chịu tác động và khả năng thích ứng của từng hệ thống ngân hàng lại có sự khác biệt đáng kể.

Theo bà Alka Anbarasu - Phó Giám đốc điều hành Moody’s Ratings, tại một số nền kinh tế trong khu vực, triển vọng hệ thống ngân hàng đang chịu sức ép từ những khó khăn nội tại, trong đó nổi bật là rủi ro liên quan đến lĩnh vực bất động sản và diễn biến của chất lượng tài sản. Song song với đó, các yếu tố bên ngoài như biến động thương mại toàn cầu và căng thẳng địa chính trị có thể ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư, doanh nghiệp và người tiêu dùng, từ đó tác động gián tiếp đến điều kiện kinh doanh của ngành ngân hàng.

Chất lượng tài sản và vốn - thước đo sức chống chịu của ngân hàng
Tín dụng tiếp tục đóng vai trò là kênh dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế. Ảnh: Đức Thanh

Dù xuất hiện những điểm chịu áp lực, bức tranh toàn khu vực không hoàn toàn tiêu cực. Mức độ rủi ro thể hiện khác nhau tùy theo cấu trúc kinh tế và đặc điểm thị trường của từng quốc gia. Chẳng hạn, tại Thái Lan, lĩnh vực bất động sản tiếp tục được xem là khu vực cần theo dõi sát, do có thể tạo áp lực lên bảng cân đối tài sản và khả năng sinh lời của các ngân hàng nếu tiến trình xử lý nợ và phục hồi thị trường diễn ra chậm hơn kỳ vọng.

Trong bức tranh phân hóa đó, hệ thống ngân hàng Việt Nam được Moody’s ghi nhận duy trì trạng thái hoạt động tương đối vững, dù vẫn tồn tại những yếu tố cần quan sát, đặc biệt liên quan đến vốn và tốc độ tăng trưởng tín dụng. Theo bà Alka Anbarasu, tăng trưởng kinh tế tích cực là nền tảng hỗ trợ quan trọng cho môi trường hoạt động của các ngân hàng Việt Nam. Đà mở rộng của nền kinh tế góp phần duy trì nhu cầu vốn, nhất là ở khu vực tư nhân, qua đó tạo điều kiện cho các ngân hàng gia tăng quy mô tài sản và cải thiện hiệu quả kinh doanh.

Tuy nhiên, mặt trái của tăng trưởng tín dụng nhanh là mức độ đòn bẩy trong nền kinh tế có xu hướng gia tăng. Điều này có thể khiến hệ thống ngân hàng nhạy cảm hơn trước các cú sốc từ bên ngoài nếu môi trường quốc tế biến động mạnh. Do đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là mở rộng tín dụng, mà còn phải kiểm soát tốc độ tăng trưởng và củng cố bộ đệm an toàn nhằm duy trì sự ổn định trong trung và dài hạn.

“Tín dụng tiếp tục đóng vai trò là kênh dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế, song đi kèm với đó là yêu cầu tăng cường quản trị rủi ro để đảm bảo chất lượng tài sản” - bà Alka Anbarasu nhận định.

Củng cố nền tảng vốn và tài sản

Nhìn sâu hơn vào cấu phần tài sản, đại diện Moody’s Ratings cho rằng, các ngân hàng Việt Nam nhìn chung vẫn giữ được chất lượng tài sản ở mức kiểm soát được, song rủi ro còn tập trung tại một số phân khúc như khu vực tư nhân và thị trường bất động sản. Đây là những lĩnh vực có độ nhạy cao với chu kỳ kinh tế, do đó, nếu xuất hiện biến động bất lợi, áp lực trích lập dự phòng có thể gia tăng và ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của các tổ chức tín dụng.

Khung pháp lý hỗ trợ xử lý nợ

Moody’s Ratings nhận định, việc sửa đổi Luật Các tổ chức tín dụng, có hiệu lực từ cuối năm 2025, khôi phục quyền thu giữ tài sản bảo đảm của ngân hàng sẽ cải thiện khả năng thu hồi nợ, đặc biệt đối với các khoản vay bất động sản kém hiệu quả. Theo Moody’s Ratings, thay đổi này có thể góp phần hỗ trợ kiểm soát chi phí tín dụng trong những năm tới.

Trong bối cảnh đó, năng lực vốn đóng vai trò như lớp đệm hấp thụ rủi ro. Hệ thống ngân hàng Việt Nam được ghi nhận đã có bước cải thiện trong những năm gần đây thông qua việc tăng cường trích lập dự phòng và giữ lại lợi nhuận để củng cố vốn tự có. Việc triển khai các chuẩn mực quản trị rủi ro theo Basel II và định hướng tiến tới các chuẩn mực cao hơn, cùng với yêu cầu chặt chẽ về hệ số an toàn vốn và thanh khoản, góp phần nâng cao khả năng chống chịu trước những biến động khó lường.

Song song với củng cố vốn, khả năng sinh lời cũng là yếu tố phản ánh "sức khỏe" của hệ thống. Các ngân hàng Việt Nam được đánh giá duy trì hiệu quả hoạt động ở mức khá so với mặt bằng khu vực, dù vẫn chịu sức ép từ chi phí vốn và chi phí tín dụng. Khi môi trường lãi suất có sự điều chỉnh và yêu cầu kiểm soát rủi ro ngày càng cao, biên lợi nhuận có thể bị thu hẹp trong trung hạn, đòi hỏi các ngân hàng tiếp tục tối ưu hóa cơ cấu tài sản, nguồn vốn và nâng cao hiệu quả quản trị.

Ở khía cạnh thanh khoản, hệ thống nhìn chung duy trì trạng thái cân bằng, dù có thể xuất hiện áp lực cục bộ trong những giai đoạn tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ huy động vốn. Việc điều hành tín dụng theo hướng thận trọng cùng với duy trì tỷ trọng tài sản có tính thanh khoản phù hợp được xem là cơ chế hỗ trợ giảm thiểu rủi ro lan truyền trong trường hợp thị trường biến động.

Xét ở cấp độ từng nhóm tổ chức, sự khác biệt về quy mô vốn, nền tảng lợi nhuận và năng lực quản trị rủi ro dẫn đến mức độ chống chịu không đồng đều. Các ngân hàng quy mô lớn với bộ đệm vốn dày và khả năng tiếp cận nguồn vốn đa dạng thường có lợi thế rõ rệt hơn trong việc duy trì an toàn hoạt động, trong khi các ngân hàng nhỏ có thể chịu tác động mạnh hơn nếu điều kiện kinh tế kém thuận lợi.

Tổng thể, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang vận hành trong môi trường tăng trưởng tích cực nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố cần giám sát chặt chẽ. Tăng trưởng kinh tế tiếp tục đóng vai trò điểm tựa quan trọng cho hoạt động tín dụng và lợi nhuận của ngành ngân hàng. Tuy nhiên, việc duy trì kỷ luật tín dụng, củng cố nền tảng vốn và kiểm soát chất lượng tài sản sẽ là những điều kiện then chốt để bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Bộ đệm vốn trong lộ trình chuẩn hóa

Theo Moody’s Ratings, bên cạnh chất lượng tài sản, năng lực vốn là yếu tố then chốt phản ánh sức chống chịu của hệ thống ngân hàng. Tính đến cuối tháng 6/2025, tỷ lệ vốn cấp 1 toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam đạt khoảng 9%, thấp hơn mức trung bình khoảng 17% của các hệ thống ngân hàng ASEAN khác.

Moody’s Ratings cho rằng, khoảng cách này có thể thu hẹp dần khi Thông tư số 14/2025/TT-NHNN nâng yêu cầu vốn tối thiểu từ 6% lên 6,6% vào năm 2030 và 8,5% vào năm 2033, đồng thời từng bước tiệm cận chuẩn Basel III và điều chỉnh phương pháp tính hệ số rủi ro tín dụng.

Thu Hương

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 20:30
Ngân hàng