Kịch bản giá dầu Brent lên 100 USD/thùng còn quá xa khi “lằn ranh đỏ” chưa bị vượt qua

Ánh Tuyết
Xung đột Mỹ - Israel và Iran làm dấy lên lo ngại dầu Brent vọt 100 USD/thùng, nhưng theo chuyên gia UOB, kịch bản này còn sớm khi một “lằn ranh đỏ” then chốt vẫn chưa bị vượt qua và OPEC vẫn còn nhiều dư địa can thiệp. Dự báo mới nâng Brent lên 80 USD/thùng trong quý II - quý III/2026, trước khi giảm về 70 USD vào cuối năm.
aa

Ngày 2/3: Giá dầu thế giới tiếp đà tăng rất mạnh

Kinh tế giữ nhịp bền bỉ, Ngân hàng UOB nâng kỳ vọng tăng trưởng GDP năm 2026 Doanh nghiệp cần chủ động ứng phó rủi ro từ xung đột tại Trung Đông

Nguồn cung năng lượng trước nguy cơ gián đoạn

Tối ngày 2/3, ông Heng Koon How - Trưởng Bộ phận Chiến lược Thị trường, Khối Nghiên cứu Thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore đưa ra những nhận định về diễn biến của giá dầu Brent trong bối cảnh xung đột leo thang tại Iran.

Sau khi xung đột tại Iran và Trung Đông leo thang mạnh mẽ vào cuối tuần, giá dầu Brent đã mở cửa tuần giao dịch mới tại châu Á với một nhịp tăng vọt lên khoảng 82 USD/thùng, trước khi giảm trở lại xuống 76 USD/thùng vào giữa buổi sáng theo giờ châu Á.

Giá dầu Brent khởi đầu năm nay quanh mức 60 USD/thùng và đã liên tục tăng lên trên 70 USD/thùng vào tuần trước khi những lo ngại về chiến sự ở Trung Đông gia tăng. Mức giá 79 USD/thùng hiện tại tương ứng mức tăng gần 9% so với giá đóng cửa ngày thứ Sáu tuần trước (27/2), khoảng 73 USD/thùng.

Kịch bản giá dầu Brent lên 100 USD/thùng còn quá xa khi “lằn ranh đỏ” chưa bị vượt qua
Ông Heng Koon How - Trưởng Bộ phận Chiến lược Thị trường, Khối Nghiên cứu Thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB Singapore.

Với các đợt tấn công mới từ Mỹ và Israel nhắm vào Iran, cùng phản công của Iran vào một số quốc gia vùng Vịnh, nhiều lo ngại nổi lên rằng giá dầu Brent có thể tăng vọt lên mức 100 USD/thùng. Tuy nhiên, theo quan điểm của ông Heng Koon How, điều này là quá sớm ở thời điểm hiện tại vì thị trường năng lượng vẫn đang được cung ứng đầy đủ và bối cảnh hiện nay hoàn toàn khác so với thời điểm Nga mở chiến dịch ở Ukraine hồi tháng 2/2022.

Theo ông Heng Koon How, lằn ranh đỏ quan trọng vẫn chưa bị vượt qua và hy vọng sẽ không xảy ra.

Diễn biến leo thang mới tại Iran và Trung Đông nghiêm trọng hơn nhiều so với vụ Mỹ tấn công bằng tên lửa vào cơ sở hạt nhân của Iran hồi tháng 6 năm ngoái.

Iran đã đáp trả bằng cách chọn lọc tấn công vào một số tài sản quân sự liên quan tới Mỹ tại các quốc gia vùng Vịnh.

Nhiều trung tâm hàng không khu vực, bao gồm sân bay quốc tế trọng yếu của Dubai, đã phải đóng cửa, làm gián đoạn hoạt động hàng không và vận chuyển hàng hóa trong khu vực.

Nhiều hãng vận tải biển, vì quá thận trọng, đã quyết định dừng hoạt động qua eo biển Hormuz. Dù Iran không đưa ra tuyên bố chính thức về việc đóng eo biển và nhiều khả năng cũng sẽ không có, các bản tin xác nhận tình trạng ùn ứ tàu chở dầu ở cả hai phía eo biển Hormuz tại vịnh Ba Tư và vịnh Oman.

"Mặc dù tình hình leo thang đáng báo động, cần lưu ý rằng, một “lằn ranh đỏ” then chốt vẫn chưa bị vượt qua: Iran chưa công khai tấn công các cơ sở năng lượng trong khu vực và cũng chưa trực tiếp tấn công các tàu chở dầu hoạt động trên vùng Vịnh. Nếu điều này xảy ra, nguồn cung năng lượng qua khu vực sẽ bị gián đoạn nghiêm trọng và có thể khiến giá dầu Brent tăng mạnh lên ngưỡng 100 USD/thùng" - chuyên gia Ngân hàng UOB Singapore đánh giá.

Đáng chú ý, vẫn có dấu hiệu cho thấy Iran đang giữ mức độ kiềm chế nhất định, do lo ngại bị cô lập hơn nữa giữa bối cảnh xung đột khu vực lan rộng.

Các quốc gia vùng Vịnh đã đưa ra những tuyên bố cứng rắn yêu cầu Iran xuống thang xung đột, nhấn mạnh rằng “cuộc chiến của các bạn không phải với các nước láng giềng”, đồng thời khẳng định quyền tự vệ của họ. Nếu cần thiết, các quốc gia vùng Vịnh và Mỹ có thể triển khai lực lượng hộ tống vũ trang cho tàu chở dầu nhằm giảm rủi ro khi đi qua eo biển Hormuz.

OPEC vẫn còn nhiều dư địa can thiệp

Cũng theo chuyên gia Ngân hàng UOB Singapore, trong cuối tuần ngày 1/3, tại cuộc họp đã lên lịch, OPEC thông báo sẽ tăng sản lượng dầu thô thêm 206.000 thùng/ngày (bpd) trong tháng 4. Trước khi căng thẳng tại Iran leo thang, dự báo đồng thuận chỉ kỳ vọng mức tăng 135.000 bpd.

Kịch bản giá dầu Brent lên 100 USD/thùng còn quá xa khi “lằn ranh đỏ” chưa bị vượt qua
Kịch bản giá dầu Brent lên 100 USD/thùng còn quá xa khi “lằn ranh đỏ” chưa bị vượt qua. Ảnh minh họa.

Mặc dù phản ứng thận trọng của OPEC gây thất vọng với một số bên, cần lưu ý rằng, tổng cộng OPEC đã khôi phục khoảng 1,65 triệu bpd so với mức “cắt giảm tự nguyện” 2,2 triệu bpd được triển khai từ năm 2023. Nói cách khác, OPEC vẫn còn dư địa đáng kẻ để tăng sản lượng khi cần thiết.

Trong tuyên bố cuối tuần, OPEC nhấn mạnh rất rõ rằng “các quốc gia sẽ phải tiếp tục theo dõi sát sao thị trường và trong nỗ lực duy trì sự ổn định, họ tái khẳng định tầm quan trọng của việc áp dụng cách tiếp cận thận trọng và duy trì toàn quyền linh hoạt để tăng, tạm dừng hoặc đảo ngược quá trình thu hẹp mức cắt giảm tự nguyện 2,2 triệu thùng/ngày đã được công bố vào tháng 11/2023”.

"Như đã phân tích ở trên, dù rủi ro ngắn hạn có thể đẩy giá Brent lên vùng 80 USD/thùng, khả năng hạ nhiệt khi xung đột giảm căng thẳng cùng nguồn cung dồi dào từ OPEC sẽ hạn chế đà tăng quá mức" - ông Heng Koon How nêu quan điểm./.

Dầu Brent dự báo tăng nửa đầu năm 2026 rồi lùi về 70 USD/thùng

Chuyên gia Ngân hàng UOB Singapore điều chỉnh dự báo theo quý cho giá dầu Brent lên 80 USD/thùng cho quý II và quý III năm 2026, sau đó giảm về 70 USD/thùng trong quý IV/2026 và quý I/2027. Ở thời điểm hiện tại, còn quá sớm để kỳ vọng giá năng lượng sẽ tăng vọt lên mức 100 USD/thùng. Dự báo trước đó là 75 USD/thùng cho quý I/2026, 70 USD/thùng cho quý II/2026 và 65 USD/thùng cho quý III và quý IV/2026.

Triển vọng theo phân tích kỹ thuật mới nhất cho thấy, giá Brent đã hình thành vùng đáy dài hạn. Nếu giá đóng cửa tuần vượt 75,2 USD/thùng, khả năng duy trì trên 80 USD/thùng trong những tháng tới sẽ gia tăng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

Thị trường bảo hiểm nhân thọ đang dịch chuyển từ cách tiếp cận cảm tính sang lựa chọn dựa trên nhu cầu thực tế

(TBTCO) - Báo cáo Nghiên cứu dư luận xã hội và Chính sách tiếp cận cộng đồng trong bảo hiểm nhân thọ do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam công bố cho thấy, có tới 80% người dân trong nhóm chưa sở hữu bảo hiểm nhân thọ dự định mua trong 12 tháng tới. Điều này cho thấy tiềm năng của thị trường còn lớn, tuy nhiên, cách tiếp cận bảo hiểm của người dân đang có nhiều thay đổi.
Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

Thị trường bảo hiểm nhân thọ "sáng dần", song nhiều doanh nghiệp lợi nhuận vẫn "rùa bò"

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ lấy lại đà tăng trưởng dương từ năm 2025 và kỳ vọng đón kết quả khả quan trong năm nay. Tuy nhiên, phía sau đà tăng tích cực đó vẫn còn những khoảng lặng đến từ sự sụt giảm doanh thu, lợi nhuận, thậm chí báo lỗ tại một số doanh nghiệp.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Kim TT/AVPL 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 14,400 ▼400K 14,600 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 14,350 ▼400K 14,550 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 ▼500K 15,400 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 ▼500K 15,350 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 ▼500K 15,330 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Hà Nội - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đà Nẵng - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Miền Tây - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Tây Nguyên - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 ▼3000K 157,500 ▼3000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Nghệ An 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
Miếng SJC Thái Bình 15,450 ▼320K 15,750 ▼320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 ▼300K 15,750 ▼300K
NL 99.90 14,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100 ▼400K
Trang sức 99.9 14,940 ▼300K 15,640 ▼300K
Trang sức 99.99 14,950 ▼300K 15,650 ▼300K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 ▼32K 15,752 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 ▼32K 15,753 ▼320K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 ▼29K 1,573 ▼29K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 ▼29K 1,574 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 ▼29K 1,558 ▼29K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 ▼2872K 154,257 ▼2872K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 ▼2175K 117,012 ▼2175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 ▼1972K 106,105 ▼1972K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 ▼1769K 95,198 ▼1769K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 ▼75572K 9,099 ▼83582K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 ▼1210K 65,125 ▼1210K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 ▼32K 1,575 ▼32K
Cập nhật: 28/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 28/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80