Thị trường tiền tệ tuần 23 - 27/2: Lãi suất qua đêm mất mốc 3%, hút ròng hơn 78.000 tỷ đồng sau Tết

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần đầu sau Tết (từ 23 - 27/2) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh 78.218,39 tỷ đồng qua OMO, đảo chiều so với ba tuần trước Tết bơm ròng mạnh. Thanh khoản bớt căng thẳng kéo lãi suất liên ngân hàng qua đêm xuống 2,83%. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ 5 liên tiếp, còn USD tự do tăng 430 đồng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 9 - 13/2: Lãi suất liên ngân hàng “hạ sốt”, tỷ giá tự do rớt gần 1.000 đồng Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn Doanh nghiệp Việt giữa biến số tỷ giá

Thanh khoản bớt căng, lãi suất qua đêm lùi sâu dưới 3%

Tuần giao dịch đầu tiên sau Tết, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang trạng thái hút ròng mạnh trên thị trường mở (OMO), tổng cộng 78.218,39 tỷ đồng. Động thái này diễn ra trong bối cảnh khối lượng đáo hạn ở mức lớn, trong khi lượng phát hành mới tương đối khiêm tốn và chủ yếu ở kỳ hạn ngắn 7 ngày.

Cụ thể, trong các phiên từ ngày 23 - 27/2, tổng khối lượng trúng thầu qua OMO đạt 9.773,99 tỷ đồng, tập trung vào kỳ hạn 7 ngày; 28 ngày và một phần kỳ hạn 14 ngày; với lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lên tới hơn 88 nghìn tỷ đồng, riêng phiên 24/2 ghi nhận lượng đáo hạn hơn 30.888 tỷ đồng.

Như vậy, tuần qua từ ngày 23 - 27/2, Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh 78.218,39 tỷ đồng; trái ngược hoàn toàn với ba tuần trước kỳ nghỉ, khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng tổng cộng trên 208 nghìn tỷ đồng. Sau tuần điều tiết này, lượng OMO lưu hành giảm xuống còn 404.677,94 tỷ đồng, cho thấy thanh khoản hệ thống đã được rút bớt đáng kể so với giai đoạn cao điểm trước Tết.

Đáng chú ý, diễn biến tuần đầu sau Tết trái ngược hoàn toàn với ba tuần trước kỳ nghỉ, khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng tổng cộng trên 208 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tiền mặt và tín dụng tăng cao dịp cuối năm.

Việc nhanh chóng đảo chiều sang hút ròng sau Tết cho thấy áp lực thanh khoản đã hạ nhiệt, dòng tiền quay trở lại hệ thống và nhà điều hành chủ động tái cân bằng cung tiền, tránh dư thừa thanh khoản kéo dài.

Thị trường tiền tệ tuần 23 - 27/2: Lãi suất qua đêm mất mốc 3%, hút ròng hơn 78.000 tỷ đồng sau Tết

Tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động phân hóa. Theo đó, lãi suất qua đêm giảm 0,93 điểm phần trăm, xuống 2,83%; kỳ hạn 1 tuần giảm sâu 3,48 điểm phần trăm, còn 5,62%.

Trong khi đó, kỳ hạn 2 tuần tăng nhẹ 0,58 điểm phần trăm lên 6,36%. Ở các kỳ hạn dài hơn, 1 tháng giảm 0,22 điểm phần trăm xuống 7,31%, còn 3 tháng nhích thêm 0,27 điểm phần trăm lên 7,40%.

Cùng với xu hướng hạ nhiệt của lãi suất, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng duy trì quanh 900 nghìn tỷ đồng, tập trung chủ yếu ở kỳ hạn qua đêm, sau khi giảm sâu xuống hơn 400 nghìn tỷ đồng phiên ngày 24/2. Nhu cầu vay "nóng" kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần cũng hạ nhiệt đáng kể, so doanh số khoảng 1 triệu tỷ đồng trong nhiều phiên cuối năm.

Theo nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap, nhiều biện pháp được triển khai nhằm hỗ trợ thanh khoản và có thể giúp hạ nhiệt lãi suất qua đêm trước Tết, như bơm ròng thông qua kênh OMO; thực hiện hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn vào ngày 4/2 và ngày 6/2 với tổng giá trị đạt 2 tỷ USD.

"Chúng tôi cho rằng tình trạng căng thanh khoản chỉ là tạm thời và có thể giảm sau kỳ nghỉ Tết, khi dòng tiền VND quay trở lại hệ thống ngân hàng" - Chứng khoán Vietcap đánh giá.

Cùng chung quan điểm, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho rằng, diễn biến này diễn ra trong bối cảnh áp lực thanh khoản gia tăng do yếu tố mùa vụ khi nhu cầu thanh toán dịp cận Tết cao cùng với việc các ngân hàng đẩy tín dụng trong tháng 1 nhằm bù đắp thiếu hụt trong tháng 2 do nghỉ Tết. Ngoài ra, thời điểm này trùng với giai đoạn cao điểm thực hiện nghĩa vụ thuế của các doanh nghiệp, do đó, cũng góp phần khiến thanh khoản hệ thống sụt giảm.

Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ 5 liên tiếp, USD tự do bật tăng

Về diễn biến tỷ giá tuần qua, trong ngày 27/2, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở mức 25.044 VND/USD, giảm 7 đồng so với phiên trước đó. Với biên độ 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch trong khoảng 23.791,8 - 26.296,2 VND/USD. Tại Cục Quản lý ngoại hối, tỷ giá tham khảo được công bố ở mức 24.842 - 26.246 VND/USD, cùng giảm 7 đồng ở cả hai chiều so với phiên hôm qua.

Tuần giao dịch đầu tiên sau Tết, tỷ giá trung tâm duy trì trạng thái tương đối ổn định và giảm tổng cộng 5 đồng, đánh dấu tuần giảm thứ năm liên tiếp.

Thị trường tiền tệ tuần 23 - 27/2: Lãi suất qua đêm mất mốc 3%, hút ròng hơn 78.000 tỷ đồng sau Tết
Thị trường tiền tệ tuần 23 - 27/2: Lãi suất qua đêm mất mốc 3%, hút ròng hơn 78.000 tỷ đồng sau Tết. Ảnh minh họa.

Còn tại các ngân hàng thương mại thì biến động theo hướng phân hóa giữa các đồng tiền chủ chốt. Theo đó, với USD, tại Vietcombank, tỷ giá USD chốt ngày 27/2 ở mức 25.820 - 26.230 VND/USD, tăng 70 đồng ở cả hai chiều so với cuối tuần trước Tết. Tại BIDV, USD niêm yết 25.850 - 26.230 VND/USD, tăng 60 đồng.

Cùng chung diễn biến, trên thị trường tự do, ngày 27/2, tỷ giá USD giao dịch quanh mức 26.680 - 26.720 VND/USD, giảm nhẹ so với các phiên đầu tuần nhưng tính chung cả tuần vẫn tăng mạnh 430 đồng. Diễn biến này trái ngược với tuần cuối trước Tết khi tỷ giá tự do giảm hơn 1.000 đồng, cho thấy tâm lý thị trường và cung - cầu ngoại tệ đã có sự thay đổi đáng kể sau kỳ nghỉ.

Theo nhóm phân tích Chứng khoán Vietcap, sau khi giảm trong tháng cuối năm 2025, tỷ giá USD/VND tiếp tục giảm. Diễn biến tích cực tỷ giá USD/VND được nhóm phân tích nhận định bởi một số yếu tố, bao gồm: đồng USD suy yếu, với chỉ số DXY giảm 1,4% trong tháng 1. Nhu cầu thanh khoản VND tăng mạnh trước kỳ nghỉ Tết. Nguồn cung ngoại tệ dồi dào, đặc biệt từ kiều hối trước kỳ nghỉ Tết. Dòng vốn ngoại tiếp tục duy trì tích cực, bao gồm FDI, xuất khẩu và kiều hối cũng tiếp tục hỗ trợ tỷ giá trong tháng 2.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD - Index, đo sức mạnh đồng bạc xanh so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt, biến động hẹp tuần qua, hiện ở mức 97,77 điểm. Diễn biến này phản ánh tâm lý thận trọng khi thị trường đánh giá triển vọng chính sách tiền tệ của Mỹ.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được kỳ vọng sẽ giữ nguyên lãi suất ít nhất đến tháng 6/2025, trong bối cảnh phải cân đối giữa lạm phát còn cao và rủi ro trên thị trường lao động và bối cảnh nhân sự lãnh đạo Fed dự kiến có thay đổi.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo kinh tế Mỹ tăng trưởng 2,4% năm nay, cao hơn mức 2,2% năm trước; thất nghiệp quanh 4% và lạm phát hạ nhiệt dần, song Fed chỉ có dư địa khiêm tốn để cắt giảm lãi suất, có thể một lần 0,25 điểm phần trăm trong năm tới.

Các chuyên gia quốc tế nhận định, rủi ro USD tiếp tục suy yếu trong các quý tới vẫn hiện hữu do vai trò trú ẩn suy giảm và xu hướng phòng hộ rủi ro liên quan đến Mỹ còn kéo dài.

Với các ngoại tệ khác, trong khi tỷ giá EUR, GBP và JPY cùng hạ nhiệt thì CNY tăng nhẹ tại các ngân hàng thương mại.

Đơn cử, với GBP, Vietcombank niêm yết ở mức 34.205 - 35.658 VND/GBP, giảm mạnh 247 - 258 đồng so với cuối tuần trước. Tại BIDV, bảng Anh giao dịch ở mức 34.603 - 35.731 VND/GBP, giảm 215 - 222 đồng. Đây là đồng tiền có mức điều chỉnh giảm mạnh nhất trong nhóm khảo sát.

Trong khi đó, CNY lại đi ngược xu hướng. Tại Vietcombank, CNY ở mức 3.700 - 3.857 VND/CNY, tăng 33 - 34 đồng so với cuối tuần trước. BIDV niêm yết 3.737 - 3.860 VND/CNY, tăng 37 - 38 đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Kim TT/AVPL 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼30K 16,350 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▼30K 15,200 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▼30K 15,150 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,700 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,750 ▲150K
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1452K 16,352 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1452K 16,353 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cập nhật: 19/05/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18217 18492 19068
CAD 18617 18894 19511
CHF 32834 33219 33855
CNY 0 3832 3924
EUR 29993 30266 31291
GBP 34523 34915 35860
HKD 0 3234 3436
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15084 15666
SGD 20033 20315 20838
THB 723 786 839
USD (1,2) 26092 0 0
USD (5,10,20) 26134 0 0
USD (50,100) 26162 26182 26389
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,149 26,149 26,389
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,236 30,260 31,531
JPY 161.58 161.87 170.75
GBP 34,787 34,881 35,889
AUD 18,505 18,572 19,173
CAD 18,866 18,927 19,518
CHF 33,217 33,320 34,117
SGD 20,213 20,276 20,966
CNY - 3,812 3,936
HKD 3,306 3,316 3,436
KRW 16.16 16.85 18.23
THB 771.95 781.48 832.43
NZD 15,143 15,284 15,654
SEK - 2,763 2,845
DKK - 4,046 4,166
NOK - 2,805 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,212.73 - 6,975.83
TWD 753.13 - 907.44
SAR - 6,921.2 7,250.88
KWD - 83,808 88,689
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,129 26,149 26,389
EUR 30,105 30,226 31,405
GBP 34,720 34,859 35,865
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 32,960 33,092 34,024
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,480 18,554 19,143
SGD 20,230 20,311 20,891
THB 789 792 826
CAD 18,811 18,887 19,458
NZD 15,182 15,714
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26389
AUD 18396 18496 19421
CAD 18796 18896 19910
CHF 33070 33100 34687
CNY 3812.1 3837.1 3972.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30173 30203 31925
GBP 34830 34880 36633
HKD 0 3355 0
JPY 162.13 162.63 173.17
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20188 20318 21049
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16350000
SBJ 14000000 14000000 16350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,183 26,233 26,389
USD20 26,183 26,233 26,389
USD1 26,183 26,233 26,389
AUD 18,498 18,598 19,705
EUR 30,356 30,356 31,765
CAD 18,769 18,869 20,176
SGD 20,275 20,425 21,265
JPY 162.6 164.1 168.65
GBP 34,702 35,052 35,914
XAU 16,098,000 0 16,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80