Chỉ 8,25% tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ, đề xuất nâng hạn mức lên 350 triệu đồng

Ánh Tuyết
Với hạn mức 125 triệu đồng, đến cuối năm 2025, chỉ 8,25% giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ, thấp xa mức bình quân 47% trên toàn cầu. Trong khi quy mô tiền gửi được bảo hiểm tăng khoảng 150 lần, lên 10,02 triệu tỷ đồng, hạn mức mới tăng hơn 4 lần. Do đó, Ngân hàng Nhà nước đề xuất hạn mức chi trả bảo hiểm lên 350 triệu đồng, gấp 2,8 lần hiện tại.
aa
Bảo hiểm tiền gửi có thể trả tối đa toàn bộ số tiền gửi được bảo hiểm Công bố Lệnh của Chủ tịch nước về Luật Bảo hiểm tiền gửi Bổ sung cơ chế cho bảo hiểm tiền gửi vay đặc biệt lãi suất 0%, quy định chặt quy trình trả nợ

Hạn mức bảo hiểm ở mức thấp, chỉ 8,25% tiền gửi được bảo vệ toàn bộ

Ngân hàng Nhà nước đang lấy ý kiến xây dựng dự thảo Thông tư quy định về hạn mức chi trả tiền bảo hiểm.

Theo Ngân hàng Nhà nước, thời gian vừa qua, tình hình kinh tế - xã hội nói chung và hoạt động của hệ thống các tổ chức tín dụng nói riêng có bước phát triển nhanh; trong khi đó việc điều chỉnh hạn mức chi trả tiền bảo hiểm trong một số thời điểm chưa thực sự bắt kịp những biến động của thị trường.

Thống kê của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, từ năm 2000 đến nay, Việt Nam điều chỉnh hạn mức chi trả 3 lần với giá trị hạn mức năm 2025 tăng 4,16 lần so với năm 2000. Trong khi đó, GDP bình quân đầu người trong giai đoạn tương ứng đã tăng 22 lần. Điều này dẫn đến chỉ số “Hạn mức/GDP bình quân đầu người” đã giảm từ 5,2 lần vào năm 2000, xuống còn 1 lần vào năm 2025.

Về quy mô GDP, giai đoạn 2000 - 2025 chứng kiến quy mô GDP tăng mạnh; từ 444 nghìn tỷ đồng (năm 2000) lên 12.847 nghìn tỷ đồng (năm 2025). Như vậy, sau 25 năm, quy mô GDP Việt Nam đã tăng gần 29 lần.

Trong bối cảnh định hướng tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030, dự kiến quy mô nền kinh tế và GDP bình quân đầu người của Việt Nam sẽ tăng đáng kể. Với mục tiêu này, đến năm 2030, quy mô GDP dự kiến tăng 1,6 lần so với năm 2025.

"Vì vậy, cần sớm nghiên cứu điều chỉnh tăng hạn mức ngay từ bây giờ để hạn mức không bị tụt hậu so với thực tiễn phát triển kinh tế" - Ngân hàng Nhà nước đặt vấn đề.

Chỉ 8,25% tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ, đề xuất nâng hạn mức lên 350 triệu đồng

Tại thời điểm 31/12/2025, tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm của toàn hệ thống là 10,02 triệu tỷ đồng, tăng gần 3,4 triệu tỷ đồng so với thời điểm cuối năm 2021 (tương đương tăng 51,4%).

Số người gửi tiền được bảo hiểm trong toàn hệ thống là 138,69 triệu người, tăng 55,58 triệu người so với năm 2021 (tương đương tăng 66,87%).

Mặt khác, theo ban soạn thảo, trong giai đoạn 2000 - 2025, quy mô tiền gửi được bảo hiểm tăng mạnh từ 66,4 nghìn tỷ đồng lên 10,2 triệu tỷ đồng, tức gấp gần 154 lần trong giai đoạn khảo sát.

Tại thời điểm năm 2000, quy mô tiền gửi được bảo hiểm chỉ chiếm 15% GDP. Đến năm 2025, quy mô tiền gửi được bảo hiểm tăng mạnh, tương đương 78% GDP.

Trong bối cảnh đó, việc tăng hạn mức chi trả tiền bảo hiểm góp phần bảo vệ tốt hơn người gửi tiền, gia tăng niềm tin của người gửi tiền đối với hệ thống các tổ chức tín dụng; từ đó, duy trì và tăng trưởng tiền gửi của dân cư, góp phần đảm bảo nguồn cung cấp tín dụng phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

"Tăng hạn mức là cần thiết, góp phần giảm nguy cơ rút tiền hàng loạt đối với các tổ chức tín dụng" - Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh.

Về kinh nghiệm quốc tế, Hiệp hội Bảo hiểm tiền gửi quốc tế (IADI) và Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) đã ban hành bộ nguyên tắc cơ bản phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả.

Qua kết quả khảo sát thường niên quy mô lớn trên toàn cầu do IADI thực hiện năm 2024 với 112 tổ chức bảo hiểm tiền gửi trên thế giới, ban soạn thảo nhận thấy, so với thông lệ quốc tế cũng như thực tiễn các chỉ số liên quan tại Việt Nam, hạn mức chi trả tiền bảo hiểm đang ở mức thấp và cần được xem xét, điều chỉnh tăng một cách phù hợp.

Đáng chú ý, với hạn mức 125 triệu đồng, tại thời điểm 31/12/2025, tỷ lệ giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ là 8,25%, thấp hơn nhiều mức bình quân toàn cầu là 47%. Bên cạnh đó, xu hướng tỷ lệ giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ tại Việt Nam cũng đang giảm dần, do xu hướng có nhiều tài khoản tiền gửi có số dư trên 125 triệu đồng gửi vào hệ thống tổ chức tín dụng.

Để đạt được tỷ lệ giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ trung bình toàn cầu, thì hạn mức chi trả tiền bảo hiểm tại Việt Nam cần tăng lên mức 1,45 tỷ đồng.

Đề xuất tăng hạn mức gấp 2,8 lần

Dự thảo Thông tư quy định về hạn mức chi trả tiền bảo hiểm được thiết kế gồm 3 chương, tập trung vào phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng và hạn mức chi trả cụ thể. Điểm nổi bật nhất của dự thảo chính là đề xuất nâng hạn mức chi trả bảo hiểm lên con số 350 triệu đồng.

Quy định này được đề xuất tại Điều 3 dự thảo Thông tư về hạn mức chi trả tiền bảo hiểm. Theo đó, số tiền tối đa tổ chức bảo hiểm tiền gửi trả cho tất cả các khoản tiền gửi được bảo hiểm theo quy định của Luật Bảo hiểm tiền gửi (gồm cả tiền gốc và tiền lãi) của một người tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm là 350 triệu đồng.

Chỉ 8,25% tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ, đề xuất nâng hạn mức lên 350 triệu đồng
Nguồn: Dự thảo Thông tư quy định về hạn mức chi trả tiền bảo hiểm.

Việc tăng hạn mức lên 350 triệu đồng giúp cải thiện các tiêu chí để đánh giá hạn mức, giúp hạn mức có ý nghĩa thiết thực hơn và từng bước gần hơn với thông lệ quốc tế.

Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ, thứ nhất, tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ là 93,68%, đối với nhóm quỹ tín dụng nhân dân là 80,15%. Xét trên toàn hệ thống, tỷ lệ người gửi tiền được bảo hiểm toàn bộ mặc dù còn thấp hơn mức trung bình toàn cầu (98%), nhưng đã đạt được khung tối thiểu theo khuyến nghị của IADI (90 - 95%) và phù hợp với định hướng tại Chiến lược phát triển bảo hiểm tiền gửi (92 - 95%).

Thứ hai, tỷ lệ giá trị tiền gửi được bảo hiểm toàn bộ trên tổng số dư tiền gửi được bảo hiểm trên toàn hệ thống là 19,06%, đối với nhóm quỹ tín dụng nhân dân là 37,57%. "Tỷ lệ này của toàn hệ thống thấp hơn so với xu hướng toàn cầu, tuy nhiên, gần tiệm cận xu hướng toàn cầu nếu xét riêng nhóm quỹ tín dụng nhân dân" - Ngân hàng Nhà nước nhận định.

Thứ ba, tỷ lệ hạn mức/GDP bình quân đầu người là 2,8 lần, từng bước tiệm cận xu hướng toàn cầu là 3,3 lần.

Thứ tư, hạn mức 350 triệu đồng tăng 2,8 lần so với hạn mức 125 triệu đồng, đây là mức tăng không quá đột biến so với hạn mức hiện hành.

Về quy định chuyển tiếp, dự thảo Thông tư nêu rõ, đối với các khoản tiền gửi đã phát sinh nghĩa vụ trả tiền bảo hiểm nhưng chưa được chi trả theo quy định tại Luật Bảo hiểm tiền gửi trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành, hạn mức trả tiền bảo hiểm thực hiện theo quy định tại Quyết định số 32/2021/QĐ-TTg ngày 15/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ về hạn mức trả tiền bảo hiểm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

Đề xuất gỡ “giấy phép con” với vàng trang sức, siết quản lý vàng nguyên liệu tạm nhập tái xuất

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa hoạt động sản xuất, gia công, kinh doanh mua bán vàng trang sức, mỹ nghệ ra khỏi danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Đồng thời, siết chặt quản lý hoạt động tạm nhập vàng nguyên liệu để tái xuất, không được bán, chuyển giao, sử dụng vào mục đích khác trên thị trường trong nước.
Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.
Việt Nam và Hoa Kỳ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Việt Nam và Hoa Kỳ ra tuyên bố chung về tiền tệ

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa công bố tuyên bố chung về tiền tệ với Bộ Tài chính Hoa Kỳ, trong đó, hai bên tái khẳng định cam kết tránh thao túng tỷ giá hoặc hệ thống tiền tệ quốc tế. Các biện pháp vĩ mô hay kiểm soát dòng vốn không nhằm vào tỷ giá để phục vụ mục đích cạnh tranh.
Tỷ giá USD hôm nay (30/5): USD tự do mất đà, DXY mất mốc 99 điểm khi kỳ vọng Mỹ - Iran ngừng bắn gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (30/5): USD tự do mất đà, DXY mất mốc 99 điểm khi kỳ vọng Mỹ - Iran ngừng bắn gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 30/5, tỷ giá trung tâm hiện ở mức 25.139 đồng, tăng 2 đồng so với phiên trước và tăng tổng cộng 5 đồng cả tuần qua. Chỉ số DXY chốt tuần ở 98,92 điểm, giảm 0,32% và mất mốc tâm lý 99 điểm khi kỳ vọng ngừng bắn tại Trung Đông, cải thiện tâm lý ưa rủi ro, qua đó, làm suy giảm nhu cầu nắm giữ đồng USD và các tài sản trú ẩn an toàn.
Giá vàng hôm nay ngày 30/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 30/5: Giá vàng trong nước và thế giới đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 43 USD/ounce, lên mức 4.538 USD/ounce. Sáng 30/5, giá vàng trong nước tiếp tục tăng trở lại tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI và Bảo Tín Minh Châu cùng tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, đưa mặt bằng giá giao dịch phổ biến lên quanh ngưỡng 156 - 159 triệu đồng/lượng.
PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

PGBank sắp chốt quyền chia cổ tức 7,5%, tiếp tục hành trình tăng vốn lên 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa chốt ngày 10/6 là ngày đăng ký cuối cùng để thực hiện quyền trả cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 7,5%, đồng thời tiếp tục triển khai kế hoạch tăng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng còn dang dở.
Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

Ngân hàng Nhà nước lên tiếng về chương trình sử dụng vàng để giao dịch bất động sản

(TBTCO) - Chiều ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã có những thông tin liên quan đến chương trình doanh nghiệp hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản.
Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

Ông Phạm Quang Dũng thôi giữ chức Phó Tổng Giám đốc, tiếp tục đảm nhiệm vị trí mới tại Eximbank

(TBTCO) - Ngày 29/5/2026, Ngân hàng TMCP Xuất Nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) cho biết đã nhận được đơn đề nghị thôi đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng Giám đốc của ông Phạm Quang Dũng kể từ ngày 1/6/2026.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,600 15,900
Kim TT/AVPL 15,600 15,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,600 15,900
Nguyên Liệu 99.99 14,550 14,750
Nguyên Liệu 99.9 14,500 14,700
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,200 15,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,150 15,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,080 15,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 156,000 159,000
Hà Nội - PNJ 156,000 159,000
Đà Nẵng - PNJ 156,000 159,000
Miền Tây - PNJ 156,000 159,000
Tây Nguyên - PNJ 156,000 159,000
Đông Nam Bộ - PNJ 156,000 159,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,600 15,900
Miếng SJC Nghệ An 15,600 15,900
Miếng SJC Thái Bình 15,600 15,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,600 15,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,600 15,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,600 15,900
NL 99.90 14,200
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,250
Trang sức 99.9 15,090 15,790
Trang sức 99.99 15,100 15,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 156 15,902
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 156 15,903
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,558 1,588
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,558 1,589
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,538 1,573
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 149,243 155,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 109,237 118,137
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 98,225 107,125
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 87,213 96,113
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 82,965 91,865
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,851 65,751
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 156 159
Cập nhật: 31/05/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18361 18636 19213
CAD 18535 18812 19430
CHF 33019 33405 34057
CNY 0 3847 3940
EUR 30037 30311 31344
GBP 34603 34996 35934
HKD 0 3226 3429
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15443 16028
SGD 20061 20344 20872
THB 723 786 842
USD (1,2) 26041 0 0
USD (5,10,20) 26082 0 0
USD (50,100) 26111 26125 26395
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,125 26,125 26,395
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,185 30,209 31,517
JPY 160.99 161.28 170.29
GBP 34,795 34,889 35,942
AUD 18,527 18,594 19,218
CAD 18,755 18,815 19,425
CHF 33,213 33,316 34,153
SGD 20,213 20,276 20,985
CNY - 3,820 3,949
HKD 3,297 3,307 3,431
KRW 16.13 16.82 18.22
THB 772.31 781.85 833.27
NZD 15,364 15,507 15,900
SEK - 2,802 2,888
DKK - 4,039 4,164
NOK - 2,797 2,883
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,214.15 - 6,983.75
TWD 758.63 - 915.14
SAR - 6,905.73 7,242.67
KWD - 83,643 88,617
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,115 26,135 26,395
EUR 30,113 30,234 31,425
GBP 34,770 34,910 35,930
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 33,019 33,152 34,100
JPY 161.43 162.08 169.44
AUD 18,503 18,577 19,173
SGD 20,270 20,351 20,941
THB 789 792 827
CAD 18,755 18,830 19,406
NZD 15,418 15,960
KRW 16.80 18.44
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26155 26155 26395
AUD 18476 18576 19501
CAD 18694 18794 19806
CHF 33197 33227 34810
CNY 3826.2 3851.2 3986.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30171 30201 31924
GBP 34787 34837 36595
HKD 0 3355 0
JPY 161.61 162.11 172.62
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15488 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20199 20329 21057
THB 0 752.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15550000 15550000 15850000
SBJ 13500000 13500000 15850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,046 26,046 26,395
USD20 26,046 26,046 26,395
USD1 26,046 26,046 26,395
AUD 18,507 18,607 19,799
EUR 30,297 30,297 31,705
CAD 18,644 18,744 20,051
SGD 20,279 20,429 20,990
JPY 162.12 163.62 168.15
GBP 34,668 35,018 35,882
XAU 15,548,000 0 15,852,000
CNY 0 3,736 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/05/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80